Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường: Sưu tập và xây dựng quỹ gen invitro một số giống hoa cúc phổ biến tại Đà Lạt - Pdf 65

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐÀ LẠT
_____________oOo_____________

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NĂM 2015-2016

SƯU TẬP VÀ XÂY DỰNG QUỸ GEN INVITRO
MỘT SỐ GIỐNG HOA CÚC PHỔ BIẾN
TẠI ĐÀ LẠT

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: Th. S Nguyễn Đình Tiến

Đà Lạt, tháng 02 năm 2017.


TÓM TẮT
Hiện nay ở Việt Nam, nguồn gen invitro cây hoa cúc không thể tìm mua bên
ngoài thị trường. Các nhà khoa học hoặc các doanh nghiệp nuôi cấy mô phải tự thu
thập, đánh giá, xây dựng và lưu giữ nguồn gen invitro cây hoa cúc bản địa cũng như
nguồn gen nhập nội nhằm phục vụ cho mục đích bảo tồn, sử dụng và khai thác trong đó
bao gồm cả công tác nghiên cứu và giảng dạy. Nhằm góp phần phục vụ tốt cho công
tác giảng dạy của giáo viên cũng như quá trình học tập của học sinh/sinh viên thuộc
nghề Công nghệ sinh học và Bảo vệ thực vật tại trường Cao đẳng Nghề Đà Lạt, tôi đã
tiến hành Sưu tập và xây dựng thành công 10 giống cúc invitro phổ biến tại Đà Lạt.

ABSTRACT
Currently in Vietnam, asteraceae in vitro breed is unavailable to purchase.
Scientists or plant tissue culture laboratories themselves have to accumulate and
evaluate, develop and reserve local and imported asteraceae genetic resources in order
to conserve and put to use in research projects and academic training. In the interest of

5.

Tính mới của đề tài ........................................................................................................ 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT ............................................................................ 3
1.1.

Sơ lược về kỹ thuật nuôi cấy mô trong công tác nhân giống cây trồng ................ 3

1.1.1.

Tính toàn năng của tế bào thực vật trong nuôi cấy mô ............................................ 3

1.1.2.

Công nghệ sinh học thực vật trong nhân giống cây trồng ....................................... 4

1.1.3.

Vai trò của chất điều tiết sinh trưởng trong nuôi cấy mô ........................................ 5

1.1.4.

Kỹ thuật vi nhân giống (micropropagation) ............................................................. 8

1.2.

Sơ lược về lịch sử nghiên cứu, đặc điểm chung và phân loại về họ cúc .............. 13

1.2.1.

Phương pháp vô trùng mô nuôi cây .................................................................... 20

2.2.2.

Phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật ......................................................... 21

ii


2.2.3.
2.3

Phương pháp phân tích số liệu ........................................................................... 21
Nội dung nghiên cứu ................................................................................................ 21

CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN ........................................................................... 23
3.1.

Thu thập và lựa chọn mẫu giống cúc ..................................................................... 23

3.2.

Xây dựng hệ thống tái sinh thích hợp cho các giống hoa cúc .............................. 25

3.2.1.

Kết quả nghiên cứu khử trùng mẫu..................................................................... 25

3.2.2.



Về các nội dung khoa học của đề tài .................................................................. 38

4.2.

Đề nghị....................................................................................................................... 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................................... 41

iii


CHỮ VIẾT TẮT
2,4-D

:

2,4 - diclophenoxyl axetic axit - Chất điều hòa sinh trưởng

BAP/BA

:

6-benzyl aminopurin - Chất điều hòa sinh trưởng

NAA

:

Naphtyl axetic axit - Chất điều hòa sinh trưởng


THT

:

Than hoạt tính

iv


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần cơ bản của môi trường MS.................................................................... 19
Bảng 3.1 Một số đặc điểm của các giống cúc được thu thập ................................................... 23
Bảng 3.2 Kết quả khử trùng mẫu đối với giống cúc C01 sau 1 tuần nuôi cấy ......................... 26
Bảng 3.3 Kết quả khử trùng mẫu của giống cúc C03 sau 1 tuần nuôi cấy ............................... 26
Bảng 3.4 Sự hình thành callus trên các môi trường khác nhau của giống cúc C01 ................. 27
Bảng 3.5 Sự hình thành callus trên các môi trường khác nhau của giống cúc C03 ................. 27
Bảng 3.6 Kết quả tái sinh chồi của callus cây hoa cúc sau 6 tuần nuôi cấy ............................. 29
Bảng 3.7 Kết quả nhân nhanh chồi hoa cúc giống C01 ........................................................... 31
Bảng 3.8 Kết quả tạo rễ của chồi hoa cúc giống C01 .............................................................. 33
Bảng 3.9 Kết quả lưu trữ của chồi hoa cúc giống C01............................................................. 35
Bảng 4.1 Kết quả đạt được các nội dung, công việc đã được thực hiện .................................. 38

v


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Các dạng hoa cúc ............................................................................................ 17
Hình 3.1 Các callus hình thành từ nụ hoa .......................................................................... 29
Hình 3.2 Cây hoa cúc tái sinh từ callus.............................................................................. 31

Khả năng về thị trường
Hướng nghiên cứu với mục đích tạo ra quy trình, sản phẩm phù hợp có khả năng
1


đáp ứng đối với thị trường sản xuất cây giống hoa cúc bằng phương pháp nuôi cấy mô.
Khả năng về ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh
Hướng nghiên cứu với mục đích tạo ra quy trình, sản phẩm phù hợp có khả năng
ứng dụng trong lĩnh vực sản xuất giống cây hoa cúc bằng phương pháp nuôi cấy mô.
Khả năng liên doanh liên kết với các doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu
Nếu đề tài thành công sẽ có khả năng triển khai áp dụng kết quả nghiên cứu tại
các cơ sở sản xuất giống cây trồng bằng phương pháp nuôi cấy mô.
4. Tác động và lợi ích mang lại của kết quả nghiên cứu
Đối với lĩnh vực KH&CN có liên quan
Hướng nghiên cứu với mục đích tạo ra quy trình, sản phẩm phù hợp góp phần đề
xuất một giải pháp trong lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất giống cây trồng bằng phương
pháp nuôi cấy mô.
Đối với tổ chức chủ trì và các cơ sở ứng dụng kết quả nghiên cứu
Hướng nghiên cứu với mục đích tạo ra quy trình, sản phẩm phù hợp ứng dụng
trong điều kiện giảng dạy một số mô đun/môn học có liên quan thuộc nghề Công nghệ
sinh học và Bảo vệ thực vật tại trường Cao đẳng Nghề Đà Lạt, góp phần phục vụ tốt
cho công tác giảng dạy của giáo viên cũng như quá trình học tập của học sinh/sinh
viên.
5. Tính mới của đề tài
Có khả năng tự thu thập, đánh giá, xây dựng và lưu giữ nguồn gen invitro cây
hoa cúc bản địa cũng như nguồn gen nhập nội nhằm phục vụ cho mục đích giảng dạy
và nghiên cứu.

2


hình thành rễ.

3


Đến những năm 60, khi đồng thời Stewart (1963), Wetherell và Halperin
(1963) cùng thông báo rằng tế bào cà rốt tự do khi nuôi cấy trên môi trường thạch
đã tạo thành hàng ngàn phôi, các phôi này phát triển qua các giai đoạn giống như
quá trình tạo phôi bình thường ở cà rốt, lúc này tính toàn năng của tế bào càng được
khẳng định.
Từ những khám phá trên, hàng loạt các báo cáo về tính toàn năng của tế bào
đã được thông báo, hầu như tất cả các cơ quan đều có thể phát triển phôi. Phôi soma
đã được ghi nhận ở nhiều giống như Atrapoda, Begonia, Citrus, Coffea, Cymbidium,
Hordeum, Kalanchoe, Nicotiana, Panax, Ranumculus, Solanum, Oryza, ...
Ngày nay bằng kỹ thuật nuôi cấy đỉnh sinh trưởng, người ta đã nhân giống và
phục tráng hàng loạt các cây trồng có giá trị như khoai tây, lan, thuốc lá, dứa, các
cây lương thực, cây ăn quả, ... Việc nhân giống này đã trở thành công nghệ và đã
được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới.
1.1.2. Công nghệ sinh học thực vật trong nhân giống cây trồng
Công nghệ sinh học thực vật hình thành do áp lực tự nhiên của xã hội theo
hai khuynh hướng: áp lực gia tăng năng suất và áp lực giảm năng suất mùa màng.
Trước những xu hướng đó, đòi hỏi ngày càng phải đưa nhanh kỹ thuật mới vào
công tác lựa chọn, nhân giống cây trồng.
Sự phát triển của công nghệ sinh học thực vật theo thời gian có thể được tóm
tắt như sau: từ những năm 1920 bắt đầu là lai chéo, năm 1960 là kỹ thuật gây đột
biến, năm 1970 là sự phát triển kỹ thuật cấy mô, đến năm 1980 là kỹ thuật dung
hợp tế bào trần và từ những năm 1990 đến nay là sự phát triển của kỹ thuật gen.
Nhờ sự kết hợp giữa nuôi cấy mô thực vật và công nghệ gen, người ta đã tạo
ra được những thuộc tính mới cho cây trồng một cách có định hướng và hiệu quả.
Nhờ thuộc tính totipotent của thực vật, người ta có thể hoàn toàn tái tạo nên một

Giúp tạo được cây sạch bệnh.

-

Thực vật nuôi cấy mô là nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất các chất quý
hiếm, đặc biệt là các dược chất.

-

Các cây mô là đối tượng tốt và hiệu quả của những nghiên cứu về sinh lý,
sinh hóa, di truyền, bệnh lý, sinh học phân tử.

-

Các cây mô giúp trao đổi quốc tế nguồn giống thực vật rất dễ dàng.

-

Các cây mô có thể cung cấp quanh năm.

1.1.3. Vai trò của chất điều tiết sinh trưởng trong nuôi cấy mô
Chất điều tiết sinh trưởng hay còn gọi là chất kích thích sinh trưởng thực vật
là các yếu tố hóa học cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của thực vật. Chất
điều tiết sinh trưởng thực vật có thể là những chất tự nhiên được sản sinh với một
hàm lượng rất nhỏ trong một bộ phận nào đó của cá thể thực vật hoặc là những chất
được tổng hợp nhân tạo. Những chất điều tiết sinh trưởng này được vận chuyển đến
các bộ phận khác của cơ thể gây nên những tác động điều tiết của cây.
Vai trò điều hòa của chất điều tiết sinh trưởng thực vật là khởi động cho sự
hình thành các phản ứng cá biệt hay các quá trình sinh lý nhất định hoặc trì hoãn
quá trình đó.

Cytokinin
Cytokinin là chất điều tiết sinh trưởng có tác dụng làm tăng sự phân chia tế

bào. Các cytokinin thường gặp là 6-benzyl aminopurin (BAP), Kinetin.
Kinetin được Shoog phát hiện ngẫu nhiên trong khi chiết xuất axit nucleic.
Kinetin là dẫn xuất của base nitơ adenin. BAP là cytokinin tổng hợp nhân tạo
nhưng có hoạt tính mạnh hơn kinetin.
Kinetin và BAP cùng có tác dụng kích thích phân chia tế bào, kéo dài thời
gian hoạt động của tế bào phân sinh và làm hạn chế sự hóa già của tế bào. Ngoài ra
6


các chất này có tác dụng lên quá trình trao đổi chất, quá trình tổng hợp ADN, tổng
hợp protein và tăng cường hoạt động của một số enzim.
Benjamín và cs. (1987) đã cho rằng nồng độ BAp cao (1-5ppm) kích thích
sự phát triển của chồi đỉnh và đầu rễ của cây Atropa belladona.Lat và cs. (1988) cho
rằng khi sử dụng kinetin để nhân nhanh cây Picrohiza kurroa phải dùng nồng độ từ
1- 5mg/l.
Những nghiên cứu của Miller và Skoog (1963) đã cho thấy không phải các
chất điều tiết sinh trưởng ngoại sinh tác dụng độc lập với các chất điều tiết sinh
trưởng nội sinh. Tác động phối hợp của auxin và cytokinin có tác dụng quyết định đến
sự phát triển và phát sinh hình thái của tế bào và mô.
Tỷ lệ auxin/cytokinin cao thích hợp cho sự hình thành rễ, tỷ lệ này thấp sẽ kích
thích quá trình phát sinh chồi, nếu tỷ lệ này cân bằng thì thuận lợi cho sự phát triển mô
sẹo. Barna và Wakhlu (1998) chỉ ra rằng tốc độ tái sinh chồi của cây Plantago ovata
tăng cao khi trên môi trường sử dụng KIN 4-6M phối hợp với NAA 0,05M.
Das (1958) và Nitsch (1968) khẳng định rằng chỉ khi tác động đồng thời của
auxin và cytokinin thì mới kích thích mạnh mẽ sự tổng hợp ADN, dẫn đến quá
trìnhmitos và cảm ứng cho sự phân chia tế bào.
Skoog và Miller (1957) đã khẳng định vai trò của cytokinin trong quá trình phân

khả năng tái sinh và sinh sản của cây từ nuôi cấy tế bào và mô. Dạng đơn giản nhất của
tái sinh cây in vitro là kích thích sự phát triển của chồi. Kỹ thuật này tận dụng sự phát
triển cá thể cho sự phát triển chồi bằng đỉnh sinh trưởng hoặc chồi bên. Trạng thái ngủ
của những chồi này bị phá hủy và sự phát triển của các chồi non được kích thích bằng
tổ hợp các chất điều tiết sinh trưởng (thường sử dụng cytokinin) để tái sinh ra chồi
con. Các chồi con này sau đó được tách ra cho phát triển rễ để tái sinh cây con.
Sự tái sinh cây từ nuôi cấy mô có thể được thực hiện bằng cách nuôi cấy từ đỉnh
sinh trưởng, từ callus và từ tế bào, hoặc chồi nách vì chồi nách là tiền thân của đỉnh
sinh trưởng. Ngược lại, sự tái sinh bất định diễn ra tại những vị trí khác như là các đốt
thân, từ lá mầm, vùng kéo dài ra của rễ. Sự tái sinh chồi bất định thường phụ thuộc vào
sự có mặt của gen cấu trúc. Nhưng sự tái sinh cây từ callus và từ tế bào thường không

8


có mặt của gen cấu trúc.
Sự phát sinh cơ quan là sự hình thành các cơ quan riêng biệt như chồi hoặc
rễ. Sự tái sinh phôi soma là sự hình thành cấu trúc lưỡng cực chứa cả chồi và rễ.
Hầu hết các cây trồng có thể tái sinh cây theo cách phát sinh cơ quan hoặc phôi
soma nhưng rất ít loài có thể được cả hai cách. Một số loài có thể tái sinh một cách
dễ dàng từ nuôi cấy mô và tế bào trong khi một số loài chỉ có thể tái sinh bằng quá
trình bất định.
Sự tái sinh cây từ chồi nách hoặc chồi đỉnh được ứng dụng rộng rãi trong vi
nhân giống do có sự biến dị ít nhất. Ngược lại sự phát sinh chồi bất định và sự tái
sinh cây từ callus bởi sự phát sinh cơ quan hoặc bởi phôi soma có biến dị cao như
tốc độ tái sinh của nó.
1.1.4.1.

Các bước thực hiện trong kỹ thuật vi nhân giống


vitro nhiều loại cây khác nhau (Gamborg và cộng sự, 1976; Huang và Murashige,
1977). Trong đó môi trường MS được sử dụng phổ biến nhất, có cải biên bằng sự
thay đổi thành phần các vi lượng (Chand và cs., 1977; Jha và Sen, 1985; Rout và
cs., 1999; Saxena và cs., 1988).
Môi trường dinh dưỡng bao gồm các loại muối vô cơ, nguồn cacbon, vitamin
và chất điều tiết sinh trưởng. Một số thành phần khác có thể được bổ sung thêm như
nitơ vô cơ, acid vô cơ và chất chiết cây trồng (Gamborg, 1986).
Các muối khoáng được sử dụng như là thành phần của môi trường nuôi cấy
mô tế bào. Hầu hết các môi trường chứa ít nhất 30mM nitơ vô cơ và kali vô cơ.
Muối amonium có thể được sử sụng từ 2-20mM. Ảnh hưởng của muối amonium có
thể thay đổi từ ức chế đến hiệu quả. Nồng độ Ca, SO4, photphat và muối Mg từ 1-3
mM là thích hợp. Ngoài ra trong môi trường cũng cần bổ sung thêm một số khoáng
vi lượng.
Môi trường MS (1962) hoặc Linsmainer và Skoog (1965) (LS) được sử dụng
rộng rãi, đặc biệt là trong quá trình tái sinh cây. Môi trường B5 (Gamborg và cs.,
1968), N6 (Chu, 1978), Nisch và Nitsch (1969) (NN) và các dẫn xuất từ các môi
trường này có thể được sử dụng rộng hơn cho nhiều loại cây. Theo Huang và cs.,
Indra D. Bhatt và Uppeandra Dhar (2000), cây dâu tây phát triển thích hợp trên môi
trường MS.
1.1.4.4.

Các chất điều tiết sinh trưởng
Liều lượng chất điều tiết sinh trưởng lên môi trường nuôi cấy quyết định rất

lớn đến sự thành công của nuôi cấy mô thực vật. Mor và Zieslin (1987), Rout và cs.

10


(2000) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng và mối tương tác


Than hoạt tính được bổ sung vào môi trường ở các giai đoạn khác nhau của quá
trình nuôi cấy in vitro. Than hoạt tính không phải là chất điều tiết sinh trưởng, nó đóng
vai trò như là chất hút ẩm của môi trường. Than hoạt tính có khả năng hấp thụ một số
chất không có lợi cho sự phát triển của cây như các chất được sản sinh ra trong quá
trình khử trùng môi trường nuôi cấy hoặc một số chất do cây trồng tiết ra. Đôi lúc than
hoạt tính cũng đóng vai trò như chất điều tiết sinh trưởng (Ebert và cs., 1993; Eymar
và cs., 2000; George và Sherrington, 1984). Bổ sung thêm than hoạt tính vào môi
trường có thể có lợi cho việc hình thành rễ của cây do than hoạt tính có tác dụng hạn
chế mức độ chiếu sáng hoặc than hoạt tính có khả năng hấp thụ các chất ức chế sự ra
rễ có trong môi trường nuôi cấy. (Dumas và cs.,1995; George và Sherrington, 1984).
1.1.4.6. Nhân nhanh chồi
Đây là giai đoạn cốt lõi quyết định đến sự thành công trong nuôi cấy in vitro. Có
3 cách thường được sử dụng trong vi nhân giống : thông qua callus, sự hình thành chồi
bất định và chồi nách (Bhojwani và cs., 1996). Trong trường thông qua nuôi cấy chối
nách, tốc độ nhân nhanh phụ thuộc vào nồng độ cytokinin thích hợp trên môi trường
và sự cấy chuyển trong quá trình tái sinh cây. Trên cây dâu tây Fragaria x ananasa, tốc
độ nhân nhanh chồi đạt kết quả tốt nhất khi bổ sung vào môi trường MS các chất điều
tiết sinh trưởng BAP (4,0M) và NAA (0,1M) sau 60 ngày nuôi cấy. Nhưng khi bổ
sung vào môi trường nồng độ BA cao hơn 4,0M cùng với 0,1M NAA sẽ làm cho chồi
sinh trưởng không tốt và chất lượng chồi xấu, do đó tốc độ nhân nhanh cũng giảm.

1.1.4.7. Sự hình thành rễ
Sự hình thành rễ của nhiều loài cây có thể không cần bổ sung thêm chất điều
tiết sinh trưởng (Saxena và cs., 1998). Rễ của nhiều loài cây có thể được hình thành dễ
dàng khi nồng độ các muối khoáng giảm đi một nữa hoặc giảm hơn, và nồng độ đường
giảm từ 2 hoặc 3% đến 0.5%. (Webb và Street, 1977). Theo Indra D. Bhatt và
Uppeandra Dhar khi nghiên cứu ảnh hưởng của auxin (IBA, NAA) lên sự hình thành
rễ của loài Fragaria x ananasa, cây ra rễ tốt nhất khi sử dụng NAA với liều lượng thấp


nhất, với 2 tỉ cành, tiếp theo là Hà Lan với 800 triệu; Colombia 600 triệu; Italia: 500
triệu; Hoa Kì:300 triệu (Boase và cs, 1997). Ở nước Anh, hoa cúc là loại hoa cắt cành
quan trọng đứng thứ hai trên thị trường (Flowers and Plants Association, 2001).
Tại Nhật Bản, hoa cúc cắt cành được sử dụng khá phổ biến: 40% được dùng
làm quà tặng; 25% được dùng để trang trí tại các khách sạn hay trong các lễ hội; 25%
được dùng để trang trí trong gia đình và cúng theo đạo Phật; và 10% phục vụ trong
việc giảng dạy nghiên cứu (Jaime, 2003).

13


Cải cúc (C.coronarium L.) được trồng rất phổ biến ở Nhật Bản, Trung Quốc và
vùng Đông Nam Á, như một loại rau ăn hàng ngày khá phổ biến (Oka và cs., 1999).
Một số loài cúc khác có chứa một hàm lượng tinh dầu đáng kể, nên một số loài được
trồng để khai thác tinh dầu (Schwinn và cs., 1994).
1.2.1.2.

Tại Việt Nam

Ở nước ta, có nhiều loài cây dại thuộc họ cúc mọc ở nhiều nơi. Một số loài
được dùng làm thuốc trong y học cổ truyền, ví dụ như bồ công anh (Lactuca laciniata
L.). Hoa cúc làm cảnh được đưa vào trồng ở nước ta vào khoảng từ thế kỉ XV đến đầu
thế kỉ XVI. Lúc đó chủ yếu dùng làm cảnh. Mãi đến sau này, cúc mới được trồng như
một loại cây thương mại. Ở nước ta, Hà Nội và Lâm Đồng là nơi có diện tích trồng hoa
cúc nhiều nhất cà nước (N.Q. Trạch và Đ.V.Đông, 2002).
1.2.1.3.

Tại Lâm Đồng

Hầu hết diện tích trồng hoa cúc ở Lâm Đồng tập trung ở thành phố Đà Lạt, ở

thấp bé. (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1978; H.T.Sản và P.N.Hồng, 1986).
Trong họ cúc được chia thành hai phân họ: hoa ống (Asteroideae =
Tubiliflorae) và thìa lìa (Cichorioideae = Liguliflorae).
Phân họ hoa ống có đặc điểm là tất cả hoa trong cụm hoa đầu tiên hình ống
(ống phễu, ống sợi, ống hình chuông), hoặc hoa hai môi, hoặc hoa có hoa hình ống
ở giữa và hoa thìa lìa giả xung quanh. Trong phân họ hoa ống có gần 740 chi, và rất
nhiều loài với các cây quen thuộc như là: ngãi cứu (Artemisia vulgarisL. var.indica
Willd.) DC.), thanh hao (Artemisia carvifloria Wall.), nhọ nồi (Eclipta prostrata L.)
thược dược (Dahila pinnata Cav.).
Trong đó, chi Chrysanthemum được trồng phổ biến như một loài hoa trồng
chậu hay hoa cắt cành. Hoa cúc là một loài hoa cắt cành phổ biến trên toàn thế giới,
nó đa dạng về các thứ và có hàng ngàn kiểu dáng khác nhau (Cockshull, 1985).
Ngoài ra một số loài khác trong chi này còn được dùng làm rau ăn, làm thuốc an
thần, thuốc chữa bệnh như là: cải cúc (C.coronarium L.), bạch cúc (C. moriforium
Ramatj, kim cúc (C. indicum L.).
Phân họ thìa lìa có đặc điểm là tất cả hoa trong cụm đầu tiên là hoa thìa lìa.
Phân họ này có ít loài hơn. Một số loài rất quen thuộc như là rau diếp, rau xà lách
(Lactuca sativaL.), rau diếp xoăn (Cichorium endivia L.), bồ công anh (Lactuca
laciniata L.) (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1978).

15


1.2.2.2.

Đặc điểm thực vật học

Theo Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1978; H.T.Sản và P.N.Hồng, 1986;
N.Q. Trạch và Đ.V.Đông, 2002 thì cúc có các đặc điểm sau:
Rễ - Cúc có hệ rễ chùm, mọc cạn, theo chiều ngang, đâm sâu khoảng 10-20 cm. rễ

Đất đai - Cúc ít đòi hỏi về điều kiện đất đai. Thích hợp với đất acid nhẹ, pH
khoảng5 - 6.5. Nhìn chung, cúc sẽ phát triển tốt trên đất có độ ẩm tốt, thoáng khí, giàu
chất hữu cơ, đặc biệt là có phân chuồng. Trước khi trồng, cần làm đất tốt, cày sâu 2040 cm để đảm bảo độ thoáng khí và bón lót đầy đủ phân hữu cơ (M.N. Dana và B. R.
Lerner, 1996; M.Top và B. Tatura, 2002; L.Naeve, và D. Nelson, 2005).
Phân bón - Cúc là cây đòi hỏi một lượng phân bón khá lớn, vì vậy, cần bón 2
lần NPK, với tỷ lệ 10:10:10. Mỗi lần bón khoảng 25 kg/ 100m2. Tốt hơn là bón lót

17


trong giai đoạn chuẩn bị đất một lượng phân hữu cơ (M.N. Dana và B.R.Lerner,
1996; M.Top và B. Tatura, 2002).
Cần chú ý không bón phân để cây bước vào giai đoạn ra hoa (L.Naeve, và D.
Nelson, 2005).
Nước tưới - Cúc chỉ có thể sống sót trong thời gian khô hạn ngắn, nếu khô hạn
kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây. Vì vậy, tưới nước rất quan
trọng đối với cúc, nhất là trong mùa khô (L.Naeve, và D. Nelson, 2005).
Cần tưới một cách đều đặn và kỹ lưỡng, đảm bảo nước phải thấm sâu xuống
đất ít nhất 12-15cm. Cần chú ý tránh làm tổn thương cây do những tia nước mạnh
quá. Những tổn thương này là nguyên nhân để các virus xâm nhập, các vi khuẩn và
nấm phát triển (M.N. Dana và B. R. Lerner, 1996).
Sâu bệnh hại - Một số côn trùng gây hại trên cúc thường xuyên là rệp muội,
sâu vẽ bùa, nhện...Các bệnh thường gặp là: đốm lá, thối thân rễ, mốc sương...(M.N.
Dana và B. R. Lerner, 1996; L.Naeve, và D. Nelson, 2005).
Trong trường hợp sâu hại không nhiều lắm thì không cần thiết phải sử dụng
thuốc hoá học. Nên áp dụng biện pháp phòng ngừa tổng hợp, bằng thiên địch, bằng
bẫy côn trùng. (M.N. Dana và B. R. Lerner, 1996)

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status