Chiến lược phát triển công nghệ sinh học ở việt nam đến năm 2020 - Pdf 65

BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC
TIỂU LUẬN
TÌNH HUỐNG:
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
SINH HỌC Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
LỚP: BỒI DƯỠNG QLNN NGẠCH CHUYÊN VIÊN
KHÓA: K23CV
Hà Nội – 2011
MỞ ĐẦU
Phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) cùng với phát triển giáo dục và
đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp
hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước. Trong những năm qua, mặc dù
nước ta còn nghèo, nhưng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là
sự nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ KH&CN trong cả nước, tiềm lực
KH&CN đã được tăng cường, KH&CN đã có những đóng góp đáng kể vào sự
phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.Tuy nhiên, trình độ
KH&CN của nước ta hiện nay còn thấp so với các nước trên thế giới và trong
khu vực, năng lực sáng tạo công nghệ mới còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. KH&CN nước ta đang đứng trước nguy
cơ tụt hậu ngày càng xa, trước xu thế phát triển mạnh mẽ của KH&CN và
kinh tế tri thức trên thế giới. Thách thức lớn nhất trong phát triển kinh tế - xã
hội của nước ta hiện nay là sự yếu kém về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và
sức cạnh tranh thấp của nền kinh tế, dẫn đến nguy cơ kéo dài tình trạng tụt
hậu của nước ta so với các nước trong khu vực và khó có thể thực hiện được
mục tiêu CNH, HĐH. Điều này đòi hỏi KH&CN phải góp phần quan trọng
trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong giai đoạn tới (2010 - 2020, tầm nhìn 2030), khoa học và công nghệ cần
ưu tiên nhằm vào những mục tiêu và phương hướng phát triển nào? Có nhiều
yêu cầu phải đáp ứng, trong đó nổi lên hàng đầu là góp phần thực hiện có hiệu
quả công cuộc tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng chuyển đổi từ mô hình tăng

hỏi sự ứng dụng cao trong công tác nghiên cứu và thực nghiệm. Vì vậy, sự
cần thiết phải đầu tư chiều sâu và xây dựng một chiến lược phát triển Công
nghệ sinh học trong giai đoạn tới 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 và
2050, nhằm từng bước đưa nền khoa học công nghệ của Việt nam nói chung
cũng như Công nghệ sinh học nói riêng phát triển ngang tầm các nước trong
khu vực và trên thế giới.
1. BỐI CẢNH, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
1.1. Bối cảnh quốc tế
a) Xu hướng phát triển khoa học và công nghệ
Cuộc cách mạng KH&CN trên thế giới tiếp tục phát triển với nhịp độ ngày
càng nhanh, có khả năng tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, khó dự
báo trước và có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người.
Nhờ những thành tựu to lớn của KH&CN, đặc biệt là công nghệ thông tin -
truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, v.v..., xã hội loài người
đang trong quá trình chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang thời đại thông
tin, từ nền kinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri
thức, mở ra cơ hội mới cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hàng đầu.
Sức mạnh của mỗi quốc gia tuỳ thuộc phần lớn vào năng lực KH&CN. Lợi
thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ít quan
trọng hơn. Vai trò của nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực
sáng tạo, ngày càng có ý nghĩa quyết định trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh
tế.
Thời gian đưa kết quả nghiên cứu vào áp dụng và vòng đời công nghệ ngày
càng rút ngắn. Lợi thế cạnh tranh đang thuộc về các doanh nghiệp biết lợi
dụng các công nghệ mới để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng nhu
cầu đa dạng và luôn thay đổi của khách hàng. Với tiềm lực hùng mạnh về tài
chính và KH&CN, các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia đang nắm giữ và

hoá ngày càng mở rộng; đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt; quan hệ hợp
tác quốc tế được cải thiện.
Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục khẳng định con đường đổi mới theo hướng
đẩy mạnh CNH, HĐH để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp vào năm 2020; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, cam kết thực
hiện các thoả thuận trong khuôn khổ AFTA, Hiệp định thương mại Việt
Nam - Hoa Kỳ, tích cực chuẩn bị tham gia WTO; tăng cường đổi mới khu
vực kinh tế quốc doanh, phát triển kinh tế tập thể, khuyến khích khu vực
dân doanh, hỗ trợ mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ; đẩy mạnh
cải cách hành chính, v.v...
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định quyết tâm của
Đảng, Nhà nước trong việc đầu tư phát triển khoa học và công nghệ
(KH&CN). Những công nghệ sản xuất mới, hiện đại đã và sẽ tạo ra các sản
phẩm có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế, giúp chủ động nguồn cung
trong nước, thay thế nhập ngoại, giảm giá thành, thúc đẩy phát triển các
ngành, lĩnh vực then chốt, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá – hiện đại
hoá (CNH-HĐH) và hội nhập nền kinh tế quốc tế.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của nước ta đã xác định
mục tiêu phát triển tổng quát là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng
để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại; nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ
tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của
nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.
1.3. Cơ hội và thách thức
a) Cơ hội
Đảng và Nhà nước luôn coi trọng sự nghiệp phát triển KH&CN, các Nghị
quyết Đại hội IX, X, XII của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển KH&CN
cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và

lượng lao động thì sẽ không có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu
vực về thu hút đầu tư và các công nghệ tiên tiến từ bên ngoài.
Trong quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế và KH&CN, nước ta đang đứng
trước những khó khăn về chuyển đổi và xây dựng những thể chế mới về kinh
tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, sở hữu trí tuệ, v.v... phù hợp với thông lệ
quốc tế. Tình trạng này nếu không sớm vượt qua sẽ cản trở sự thành công của
quá trình hội nhập khu vực và quốc tế.
Trước những cơ hội và thách thức trên đây, nếu không có những quyết sách
đột phá về đổi mới thể chế kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, những
biện pháp mạnh mẽ tăng cường năng lực KH&CN quốc gia, thì nguy cơ tụt
hậu kinh tế và KH&CN ngày càng xa và tình trạng lệ thuộc lâu dài vào nguồn
công nghệ nhập là khó tránh khỏi.
2. Ba vấn đề lớn về Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn
2011-2020
Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) Việt Nam giai đoạn
2011-2020 có nhiệm vụ quan trọng là góp phần cùng cả nước tạo ra lực lượng
sản xuất mới, tiên tiến, quan hệ sản xuất tiến bộ, nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và tính bền vững của phát triển kinh tế; bảo
đảm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào
năm 2020.
Ðể thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, Chiến lược phát triển
KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020 cũng cần xác định và chỉ ra được
những vấn đề trọng tâm để tập trung các nguồn lực và giải pháp chính sách
thích hợp, nhanh chóng thay đổi môi trường, thiết chế, tạo ra sự chuyển biến
rõ rệt trong hiệu quả của tổ chức, hoạt động và quản lý KH&CN, làm cho
KH&CN thật sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
- xã hội, an ninh, quốc phòng.
2.1. Xác định đúng yêu cầu và nhiệm vụ phát triển KH&CN
Trong Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020, chính
là khâu xác định đúng những yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra cho hoạt động nghiên

tương lai xa (ít nhất 10 đến 15 năm sau). Chính sách đầu tư và cơ chế tài
chính cho hoạt động KH&CN mặc dù đã được đổi mới, nhưng cho đến nay
vẫn còn là khâu yếu trong hệ thống bảo đảm nguồn lực và môi trường thuận
lợi cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Kinh phí đầu
tư cho các hoạt động KH&CN cần được quản lý thống nhất, phân bổ theo cơ
cấu hợp lý giữa các nhiệm vụ bảo đảm hạ tầng (đầu tư phát triển), nghiên cứu
và phát triển (theo các kênh chương trình, đề tài trọng điểm cấp nhà nước và
hệ thống các quỹ), và các khoản chi thường xuyên. Trong đó, ngoài việc bảo
đảm đủ kinh phí hỗ trợ đổi mới công nghệ cho khu vực doanh nghiệp cũng
cần đầu tư tới ngưỡng cho các nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, tạo
dự trữ cho các ứng dụng vào sản xuất và đời sống trong tương lai. Khắc phục
những bất cập trong chế độ chi tiêu và thủ tục thanh quyết toán kinh phí thực
hiện các nhiệm vụ KH&CN, tạo cơ chế minh bạch về thu nhập để các nhà
khoa học có thể đủ sống và làm nghiên cứu một cách trung thực, hiệu quả.
2.3. Tập trung xây dựng và tạo cơ chế để phát huy vai trò của các doanh
nghiệp KH&CN
Bên cạnh cơ chế chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập sang cơ chế tự
chủ, tự chịu trách nhiệm. Các doanh nghiệp KH&CN sẽ là nơi gắn kết hoạt
động nghiên cứu và phát triển với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status