sáng kiến kinh nghiệm tiểu học: Một số biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Hai Trường TH Nguyễn Văn Trỗi - Pdf 65

Một số biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Hai Trường TH Nguyễn Văn Trỗi

MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

Mục lục

1

Phần thứ nhất: Mở đầu

2

I.Đặt vấn đề

2

II. Mục đích nghiên cứu

2

Phần thứ hai: Giải quyết vấn đề

3

I. Cơ sở lí luận của vấn đề

3



Một số biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Hai Trường TH Nguyễn Văn Trỗi

Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Có ý kiến cho rằng: “Mỗi âm thanh, mỗi từ ngữ, mỗi quy tắc trong Tiếng
Việt đều là di sản quý báu mà ông cha ta đã để lại. Những di sản đó giúp mỗi
người chúng ta có hiểu biết, có nhân cáchđồng thời nuôi dưỡngcho cả dân tộc
trường tồn và phát triển…”. Tiếng Việt đóng một vai trò rất quan trọng trong
mỗi con người và nuôi dưỡng tâm hồn của mỗi con người từ thuở bé.
Không chỉ dừng lại ở đó, Tiếng Việt còn là một môn học cần thiết nhất
trong bậc Tiểu học, học Tiếng Việt sẽ giúp cho học sinh hình thành và phát triển
tư duy ngôn ngữ. Thông qua môn Tiếng Việt, học sinh sẽ học được cách giao
tiếp, truyền đạt tư tưởng cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm. Để
có được điều đó thì đòi hỏi học sinh phải có vốn từ và khả năng trau dồi vốn từ
thông qua từng hoạt động học và giao tiếp.
Qua quá trình giảng dạy lớp 2 nói chung và môn Tiếng Việt lớp 2 nói
riêng tôi nhận thấy rằng: Tài liệu Hướng dẫn học Tiếng Việt 2 giúp học sinh
hình thành kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, kỹ năng thực hành giao tiếp cụ thể. Nội
dung tài liệu tinh giản, tích hợp các kiến thức thiết thực mang tính cập nhật, phù
hợp với tâm sinh lí lứa tuổi học sinh Tiểu học trong thời đại mới hiện nay.
Hơn nữa, từ là một công cụ để cấu thành ngôn ngữ, để các em hiểu được
nghĩa của từ đã khó, còn phải biết dùng từ như thế nào cho đúng ngữ pháp, phù
hợp với hoàn cảnh giao tiếp lại càng khó hơn.
Xuất phát từ thực tế từ năm học 2016 – 2017, tôi nhận thấy rằng để các
em nắm vững phân môn Luyện từ và câu là điều hết sức quan trọng. Làm nền
móng vững chắc cho việc tiếp thu các kiến thức cao hơn ở lớp học trên. Vì vậy
trong năm học 2017 – 2018, để khắc phục những khó khăn mà học sinh đang
mắc phải, tôi mạnh dạn đưa ra: “Một số biện pháp mở rộng vốn từ cho học
sinh lớp Hai Trường Nguyễn Văn Trỗi”để giúp tôi và đồng nghiệp cùng tháo

I. Cơ sở lí luận của vấn đề
Để có một tiết học tốt trên lớp đã khó nhưng để đạt một tiết Luyện từ và
câu còn khó hơn nhiều. Học sinh lớp 2 mới làm quen với phân môn này nên sẽ
có nhiều yếu tố khiến các em phải quan tâm. Trong chương trình học, có những
bài bao gồm mở rộng vốn từ và dùng từ đặt câu thì rất phức tạp.Mỗi bài trong
tiết Luyện từ và câu đều có những đặc điểm riêng. Giáo viên phải lựa chọn
phương pháp sao cho linh hoạt, phải làm chủ được nội dung tiết dạy.
Trong quá trình giao tiếp nhiều khi các em dùng từ đặt câu chưa được
chính xác, còn lủng củng, chưa phù hợp với hoàn cảnh vì các em còn nhỏ, tư
duy chưa phát triển cao, các em còn trong tình trạng nghĩ gì nói nấy. Chưa có sự
lựa chọn khi dùng từ, câu cho thích hợp, chưa có sự trao chuốt trong cách dùng
từ, câu trong các câu nói. Chính vì vậy cần có sự hướng dẫn của giáo viên để các
em phát triển theo hướng tích cực.
Không có phương pháp nào là “vạn năng”, là “tuyệt đối” hiệu quả với
từng đối tượng học sinh, phù hợp với mọi quá trình dạy. Chỉ có sự tìm tòi sáng
tạo, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học mới phát huy được tính tích cực
của mỗi học sinh và đạt được sự thành công qua mỗi bài dạy. Vốn từ các em trở
nên đa dạng, phong phú khi các em phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng
tạo, tinh thần hợp tác làm việc, cùng với sự nhiệt tình của người giáo viên sẽ
mang lại kết quả hoàn hảo nhất.
II.Thực trạng vấn đề
1. Thuận lợi
Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi là một trong những trường có truyền
thống hiếu học, cơ sở vật chất ngày càng khang trang, trang thiết bị đồ dùng dạy
học cần thiết luôn đầy đủ cho giáo viên và học sinh.
Ban giám hiệu luôn quan tâm tới việc chỉ đạo đổi mới phương pháp và
các hình thức dạy học, đặt công tác bồi dưỡng cho giáo viên lên hàng đầu.
Giáo viên tích cực học hỏi để tìm ra các phương pháp dạy học mới, lấy
học sinh làm trung tâm.


Số lượng

Tỉ lệ

Nhận xét

Hoàn thành
tốt

3

10%

Vốn từ phong phú, vận dụngtốt vốn từ
trong giao tiếp.

Hoàn thành

15

50%

Vốn từ chỉ dừng lại ở mức cơ bản, hiểu
được nội dung nhưng vận dụng vốn từ
trong giao tiếp còn hạn chế

Chưa hoàn
thành

12

là tìm từ, đối đáp và đặt câu theo mẫu. Tuy nhiên các dạng bài tập này trong tài
liệu hướng dẫn thường rập khuôn, máy mócvà được biên soạn trong phạm vi
mọi đối tượng học sinh đều có khả năng làm được. Nên học sinh khó có thể mở
rộng vốn từ cho mình. Vì vậy, tôi đã dựa vào các dạng bài tậpđể phân hóa thêm
nhiều hoạt động, với mong muốn học sinh sẽ tích lũy được một nguồn vốn từ
phong phú. Trong giải pháp này, tôi xây dựng ba biện pháp:
1.1. Hướng dẫn cho học sinh sử dụng các mẹo để tránh lẫn lộn giữa vần
s/x, r/d/gi khi tìm từ
Trong quá trình tìm từ, đặt câu, đối với học sinh lớp 2 việc phân biệt giữa
các phụ âm đầu như s/x , r/d/gikhông phải là việc đơn giản, mặt khác do giọng
nói đặc trưng của từng vùng miền nên ngôn ngữ nói của các em sẽ mang tính địa
phương và sẽ mang luôn cả đặc trưng đó vào ngôn ngữ viết. Dẫn đến các từ, các
câu các em tìm được hầu hết là bị sai.
Ví dụ: Học sinh làm hoạt động [5. Tr 85] bài 6C tài liệu Hướng dẫn học
Tiếng Việt 2 tập 2A. Yêu cầu của hoạt động là: Tìm từ có tiếng bắt đầu bằng s/x.
Nhưng qua quan sát bài làm, tôi thấy học sinh còn nhầm lẫn s/xrất nhiều.

Hình 1: Bài làm của học sinh còn nhầm lẫn giữa s/x
Để khắc phục những lỗi mắc phải đó tôi đã hướng dẫn học sinh qua các
bước
Người thực hiện: Lê Hoài Vân5


Một số biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Hai Trường TH Nguyễn Văn Trỗi

- Bước 1: Sửa sai bài làm cho học sinh
- Bước 2:. Tôi yêu cầu các em tiếp tục tìm từ có tiếng bắt đầu bằng s/xtheo
nhóm. Tiếp theo tôi nhận xét bài làm của các nhóm và đưa các từ đúng lên bảng
chính và cùng học sinh tìm thêm nhiều từ có chứa tiếng bắt đầu bằng s/x.
- Bước 3: Dẫn dắt và chỉ ra cho học sinh các mẹo để kết hợp với âm s/x:



Một số biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Hai Trường TH Nguyễn Văn Trỗi

Hình 2: Bài làm của học sinh sau khi nắm được mẹo kết hợp với âm s/x
1.2. Mở rộng vốn từ qua dạng bài tập hỏi - đáp
Học sinh muốn sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ được những suy nghĩ, cảm
xúc của bản thân với người xung quanh, thì đòi hỏi các em cần một vốn ngôn
ngữ nhất định, trong đó có vốn từ. Vốn từ càng phong phú, các em càng thể hiện
được một cách chính xác, đầy đủ và tinh tế những những điều mình muốn bày
tỏ. Qua đó sẽ nâng cao được hiệu quả giao tiếp. Chất lượng của một cuộc giao
tiếp luôn luôn tỉ lệ thuận với vốn từ của các em. Chính vì vậy, làm phong phú
vốn từ cho các em là một hoạt động rất quan trọng và cần thiết.
Trong chương trình Luyện từ và câu lớp 2, phần lớn là dạng bài tập hỏi đáp, đối - đáp theo tình huống. Đây là dạng bài tập nhằm củng cố vốn từ cho học
sinh, giúp học sinh mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp. Nên tôi đã dựa vào thế
mạnh của dạng bài tập này và đưa ra các hoạt động phân hóa để trau dồi thêm
vốn từ, kỹ năng đối thoại cho các em.
Ví dụ 1: Trong hoạt động [4. Tr 20], bài 11A, tài liệu Hướng dẫn học
Tiếng Việt 2, tập 1B, nhiệm vụ của học sinh là đối đáp về tác dụng của các đồ
vật và nội dung của cuộc trò chyện trong tài liệu hướng dẫn là:
- Học sinh A: Cái ghế dùng để làm gì?
- Học sinh B: Cái ghế dùng để ngồi.
Nhưng nếu câu chuyện chỉ dừng lại ở đó thì cuộc đối đáp sẽ không thú vị
và không thể khai thác được sự sáng tạo của học sinh trong khi dùng các cụm
từ, các câu để đối đáp. Nên tôi đã hướng dẫn học sinh mở rộng cuộc trò chuyện
dựa trên nội dung sẵn có để cuộc trò chuyện sinh động, sôi nổi hơn.
- Học sinh A: Vậy bạn có biết chiếc ghế này được làm bằng gì không?
- Học sinh B: Chiếc ghế này làm từ gỗ và được đôi bàn tay khéo léo của
thợ mộc làm ra đấy.
Người thực hiện: Lê Hoài Vân7

tìm được câu thay thế phù hợp nhất. Chẳng hạn như:
- Chị phụ trách Đội: Chị lại được gặp các em trong tiết sinh hoạt sao tuần
này rồi!
- Các bạn học sinh: Chúng em rất vui khi được gặp lại chị ạ!
- Chị phụ trách Đội: Chị cũng rất vui, các em còn nhớ chị tên gì không
nào?
- Các bạn học sinh: Dạ có ạ! Chị tên là Hương. Chị được cô Tổng phụ
trách cử xuống sinh hoạt Sao với chúng em ạ!


Người thực hiện: Lê Hoài Vân8


Một số biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Hai Trường TH Nguyễn Văn Trỗi

Hình 3: Học sinh lớp 5 tham gia đóng vai cùng các em
Qua cuộc trò chuyện trên, khi giao tiếp với chị lớp 5 các em sẽ mạnh dạn
hơn, không còn rập khuôn, máy móc theo nội dung bài học nữa mà chủ động xử
lí các tình huống nhạy bén, linh hoạt hơn.
Bên cạnh đó, trong các buổi sinh hoạt Sao, tôi cũng đưa ra các tình huống
theo chủ điểm trong tháng để các em đóng vai với nhau. Qua đó sẽ giúp các em
mạnh dạn, tự tin hơn. Đồng thời, rèn luyện cho các em kỹ năng lễ phép, biết
cách xưng hô hợp lí, dùng câu đầy đủ khi giao tiếp.
1.3 Tăng cường vốn từ của học sinh qua dạng bài tập đặt câu theo mẫu
Ở lớp 2, học sinh bước đầu chập chững làm quen với việc đặt câu theo
mẫu thật sự rất mới mẻ và hơi khó khăn. Tuy nhiên với sự thông minh và ham
học hỏi, cộng với sự hướng dẫn của giáo viên thì học sinh vẫn hoàn thành được
nội dung học của mình theo mẫu đưa ra. Nhưng nếu như học sinh chỉ đặt câu
dừng lại ở mức độ đó thì vô tình dẫn các em rơi vào tình trạng máy móc, thiếu
sáng tạo. Câu văn mà các em đặt khô khan và sáo rỗng, không có cảm xúc.

òa khóc.

Họ

đem hạt gieo trồng khắp nơi.

Bố

còn tặng nhà trường một khóm hoa cúc
đại đóa đẹp mê hồn.

Với yêu cầu này của bài tập, tôi thấy học sinh đều hoàn thành, nhưng với
mong muốn học sinh của mình tích lũy thêm được nhiều vốn từ. Tôi đã tiếp tục
thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: Yêu cầu học sinh đặt thêm các câu theo mẫu “Ai làm gì?” Đa số
mọi học sinh đều đặt được và những câu các em tìm được là:
+ Bạn Hoa làm bài tập.
+ Con hổ có bộ lông rất đẹp.
+ Bà em nhai trầu.
+ Học sinh đang học thể dục.
Bước 2: Sau đó, tôi yêu cầu các em tiếp tục chia các câu vừa đặt được vào
tiếp trong ô ở phần bài tập.
Ai? (nhóm 1)

Làm gì? (nhóm 2)

Cậu bé

nhìn lên tán lá.


Học sinh

đang học thể dục.

Tiếp đến tôi đưa ra câu hỏi cho học sinh:
+ Bộ phận trả lời câu hỏi “Ai?” là những từ thuộc nhóm nào?
+ Học sinh trả lời: Nhóm 1
+ Bộ phận trả lời câu hỏi “Làm gì? là những từ thuộc nhóm nào?
+ Học sinh trả lời: Nhóm 2
Sau khi các em trả lời tốt các câu hỏi trên, tôi cho các em trực tiếp vận
dụng để nối các từ ở nhóm 1 và các cụm từ ở nhóm 2 để tạo thành câu có nghĩa.
Ví dụ:
+ Cậu bé làm bài tập.
+Bà em đem hạt gieo trồng khắp nơi.
+ Học sinh làm bài tập.
+ Con hổ nhìn lên tán lá.
Tôi thấy học sinh của mình rất hào hứng khi ghép câu. Từ những câu có
sẵn, các em đã cắt, ghép được vô số câu khác với câu mẫu nhưng vẫn giữ đúng
nghĩa, đúng cấu trúc câu. Để thử xem học sinh của mình có nắm được bài hay
không, tôi đưa ra câu trước lớp là “Con hổ đang học thể dục” thì cả lớp cười ồ
lên thích thú và cho rằng câu tôi vừa sắp xếp được là chưa hợp lí và sai nghĩa.
Qua hoạt động này, sẽ giúp các em sàng lọc để dùng từ đặt câu chính xác, hợp lí
và có nghĩa. Hơn thế nữa trong hoạt động này những học sinh đạt mức chưa
hoàn thành cũng sắp xếp được rất nhiều câu có nghĩa.
- Bước 4: Sau khi học sinh đã nắm chắc được mẫu câu “Ai làm gì”. Tôi
muốn câu văn của các em có hình ảnh và giàu cảm xúc hơn.
Câu văn có hình ảnh là câu văn mà ngoài hai bộ phận chính làm nòng cốt
còn có thêm một số bộ phận phụ đi kèm mà ở các lớp học trên có khái niệm định
ngữ và bổ ngữ. Mục đích hướng cho học sinh đặt câu có hình ảnh, có sắc thái
biểu cảm, là bước đầu giúp các em cảm nhận được lời nói của mình đối với

là hai yếu tố tạo nên tính tích cực. Nếu giáo viên khơi gợi được sự hứng thú và
tự giác của học sinh thì các em sẽ phát huy được tính tích cực một cách triệt để
nhất. Trong giải pháp này, tôi đưa ra 2 biện pháp:
3.1. Biện pháp điều chỉnh các hoạt động để học sinh tích cực học tập
Các hoạt động tìm từ trong tài liệu hướng dẫn, yêu cầu đưa ra thường là
các nhóm tìm các từ ngữ và viết vào bảng nhóm, nhưng trong quá trình quan sát
các em hoạt động. Qua nhiều tiết học tôi thấy người làm việc chính là các nhóm
trưởng, các em rất tích cực khi tìm từ nhưng bên cạnh đó một số thành viên
trong nhóm lại ỷ lại không hoạt động. Vì thế tôi đã điều chỉnh các hoạt động này
thành hình thức thi trước lớp,để tất cả học sinh cùng cố gắng, từ đó phát huy tính
tích cực, chủ động sáng tạo trong mỗi học sinh.
Ví dụ: Ở hoạt động [1.tr 108] bài 26B, tài liệu Hướng dẫn học Tiếng Việt
lớp 2 tập 2C. Yêu cầu của hoạt động là viết vào bảng nhóm các loài cá chứa
tiếng bắt đầu bằng tr hoặc ch. Tôi đã điều chỉnh các hoạt động này thành hoạt
động thi trước lớp và chia lớp thành hai đội có số lượng và trình độ đồng đều với
nhau, sau đó từng bạn của hai đội sẽ lên bảng lớp viết các từ mình tìm được (từ
vừa tìm không giống với các từ đội bạn đã tìm được trước đó). Sau đó giáo viên
sẽ tính số từ hợp lệ của cả hai đội, đội có nhiều từ đúng hơn sẽ có quyền đưa ra
yêu cầu dành cho đội kia.

Người thực hiện: Lê Hoài Vân12


Một số biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Hai Trường TH Nguyễn Văn Trỗi

Hình 4 và 5: Học sinh rất tích cực khi tham gia thi tìm từ
Sau khi tổ chức hoạt động như vậy, tôi thấy các em rất hào hứng khi tham
gia, các em không còn nói chuyện riêng mà cố gắng tìm từ cho mình. Từ đó khả
năng tìm từ của các em được phát triển, không còn thụ động, dựa dẫm vào nhóm
trưởng, qua đó cũng rèn luyện cho các em tính đoàn kết và trách nhiệm của

Hình 6: Sử dụng vật thật để học sinh hình dung rõ hơn các bộ phận của cây
Bước 1: Lựa chọn đối tượng quan sát: Tôi chuẩn bị một cây có đầy đủ bộ
phận để học sinh nắm rõ đặc điểm chung của cây.
Bước 2: Xác định mục đích quan sát: Sau khi yêu cầu học sinh quan sát
tổng thể cây, tôi hướng dẫn học sinh quan sát từ dưới lên trên của cây.
Bước 3: Báo cáo kết quả sau quan sát: Các nhóm sẽ báo cáo kết quả thảo
luận của mình sau khi quan sát cây, nếu các em trả lời chưa chính xác hoặc còn
thiếu các bộ phận của cây tôi sẽ gợi mở cho các em bằng những câu hỏi như “Bộ
phận nào của cây nằm trong lòng đất, hút chất dinh dưỡng từ dưới đất lên để
nuôi sống cây? Bộ phận nào to khỏe nhất của cây, gần tiếp giáp với đất? Lá mọc
ra từ bộ phận này của cây?...Thì chắc chắn học sinh sẽ biết được đó là rễ cây,
thân cây, cành cây…
Bước 4: Chốt lại kết quả học sinh vừa quan sát được: Dựa trên kết quả
vừa tìm được, tôi cùng học sinh củng cố lại một lần nữa bằng cách chỉ vào từng
bộ phận của cây thật để học sinh khắc sâu hơn kiến thức vừa được lĩnh hội.
Để dạy tốt phương pháp này, bản thân tôi cần hướng dẫn học sinh quan
sát nhiều đối tượng khác nhau: bức tranh, con vật, cây cối đồ vật thật. Khi các
em biết quan sát tức là các em biết sử dụng các giác quan để nhận biết vật mình
đang quan sát có hình dạng, màu sắc như thế nào. Khi quan sát, đầu tiên các em
phải nhận định được mình đang quan sát cái gì? đồ vật gì? con gì?...tiếp đến
phải biết nhìn theo nhiều góc độ khác nhau để tìm hiểu rõ về đối tượng mình
đang quan sát.Cuối cùng là diễn đạt những điều quan sát được bằng ngôn ngữ có
tính tạo hình.

Người thực hiện: Lê Hoài Vân14


Một số biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Hai Trường TH Nguyễn Văn Trỗi

Sau khi sử dụng phương pháp trực quan để học sinh mở rộng vốn từ, tôi

càng đa dạng, phong phú giúp các em nắm vững hơn kiến thức mình đã được
học.
IV. Tính mới của giải pháp
Với một người giáo viên tâm huyết với nghề, việc nâng cao chất lượng
dạy và học nói chung và việc mở rộng vốn từ cho học sinh nói riêng là nhiệm vụ
được đặt lên hàng đầu, nên trong đề tài này điều tôi mong muốn là học sinh của

Người thực hiện: Lê Hoài Vân15


Một số biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Hai Trường TH Nguyễn Văn Trỗi

mình có được vốn từ phong phú, đa dạng, sử dụng từ ngữ chính xác, linh hoạt để
các em mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp.
Qua nhiều năm giảng dạy, từ những khó khăn mà bản thân cùng học sinh
đang gặp phải, tôi đã xây dựng các giải pháp để cải thiện vốn từ còn hạn chế của
học sinh, để các em thấy hứng thú và yêu thích khi học phân môn Luyện từ và
câu.
Ở đề tài này, tôi xây dựng 3 giải pháp, trong đó có một số giải pháp mới
mà bản thân tôi đã xây dựng và thực hiện như sau:
Tôi đưa giải pháp “Tăng cường vốn từ cho học sinh qua các dạng bài tập”
vào đề tài, vì tôi hiểu việc mở rộng vốn từ cho học sinh không dừng lại ở việc
cho học sinh nắm lí thuyết, mà còn phải nắm được những kỹ năng, hiểu biết và
quy tắt sử dụng từ Tiếng Việt. Vì thế học sinh phải có giai đoạn thực hành thông
qua các dạng bài tập. Qua bài tập, giáo viên sẽ đưa học sinh vào những hoạt
động thực tiễn được tính toán và sắp xếp hợp lí. Có như thế mới giúp học sinh
đạt tới những kỹ năng nhất định. Như tâm lí học hiện đại đã kết luận: Chỉ trong
hoạt động thì kỹ năng mới hình thành và phát triển.
Tôi đã đưagiải pháp “Tìm từ qua các câu đố theo chủ điểm” vào quá trình
giảng dạy và đã mang lại hiệu quả rất tốt.Vì câu đố là một kiểu ẩn dụ hay. Khi

câu cũng như việc mở rộng vốn từ cho học sinh nói riêng được nâng lên thấy rõ.
Các em đã tự lựa chọn cho mình vốn từ phù hợp khi giao tiếp, khả năng, sử
dụng khá thành thạo trong giao tiếp, kỹ năng nói của các em diễn đạt rất mạch
lạc, phong phú, tự nhiên. Câu văn của các em ít từ sai hơn, xuất hiện nhiều câu
văn hay, thậm chí có những từ ngữ rất trừu tượng, thú vị gây sự thu hút cho
người đọc, người nghe. Điều đó đã chứng tỏ vốn từ của các em được nâng lên,
các em biết sử dụng vốn từ một cách hợp lí hơn, sinh động hơn. Tạo cho các em
sự hứng thú, sảng khoái, ham thích trong học tập…Đó là cái đích mà người làm
giáo dục mong muốn được hướng tới.
Và để chứng minh cho sự tiến bộ của các em, tôi lại tiến hành một cuộc
khảo sát vào cuối học kì II năm học 2017 – 2018 và mang lại kết quả rất khả
quan :
Xếp loại

Số lượng

Tỉ lệ

Nhận xét

Hoàn thành
tốt

10

33,3%

Vốn từ phong phú, vận dụngtốt vốn từ
trong giao tiếp.


I. Kết luận
Đứng trước vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc dạy Luyện từ và câu,
tôi thấy việc hướng dẫn các em hiểu rõ phân môn Luyện từ và câu là hết sức cần
thiết. Học Tiếng Việt không chỉ học những tri thức về ngôn ngữ mà quan trọng
hơn là bồi dưỡng các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh, giúp các em biết
sử dụng vốn từ vào giao tiếp, tư duy vào các hoạt động của cuộc sống. Dạy
Tiếng Việt chính là dạy cho các em cách tổ chức giao tiếp bằng ngôn ngữ. Mỗi
một câu học sinh biết sử dụng từ ngữ thành thạo, là một dịp để các em có thêm
kiến thức và kĩ năng chủ động tham dự vào cuộc sống văn hóa thường ngày.
Người thực hiện: Lê Hoài Vân17


Một số biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Hai Trường TH Nguyễn Văn Trỗi

Vấn đề mở rộng vốn từ cho học sinh phải được thực hiện trên nhiều
phương diện. Trong đó giáo viên là người giữ vai trò quan trọng nhất, phải là
người thật sự yêu nghề, luôn tâm huyết với học sinh của mình. Luôn tìm tòi, linh
hoạt trong mọi tiết dạy mà lựa chọn các phương pháp, hình thức tổ chức lớp học
sao cho đảm bảo tính vừa sức của học sinh, tạo cho tiết học hứng thú và bổ ích.
II. Kiến nghị
Qua đề tài này tôi cũng mạnh dạn đưa ra một số đề xuất:
Bản thân mỗi giáo viên phải hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ của phân môn
để có các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học phù hợp với từng tiết dạy.
Phải tự trau dồi kiến thức cho bản thân, ngôn ngữ phải chuẩn xác, diễn đạt phải
rõ ràng, mạch lạc, trong sáng, gần gũi với lứa tuổi tiểu học.
Đối với học sinh: Phải chuẩn bị đầy đủ sách vở, trước khi đến lớp. Trong
các hoạt động phải tích cực hoạt động nhóm, chú ý nghe giáo viên giảng bài.
Hoàn thành đầy đủ các bài tập được giao. Tích cực tham gia các phong trào của
nhà trường tổ chức để hoàn thiện và phát triển bản thân mình.
Về phía Nhà trường: Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên

Giáo dục toàn diện cho học sinh Tiểu học

NXB Giáo dục Việt Nam

2

Những tình huống trong giao tiếp ứng xử

NXB Giáo dục Việt Nam

3

Để học tốt Tiếng Việt lớp 2

Thái Thị Như Quỳnh

4

Vui học Tiếng Việt lớp 2

Đặng Nguyệt Minh

5

Giúp em giỏi Luyện từ và câu

Võ Thị Minh Trang

6






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status