BIỂU MƠ – MƠ LIÊN KẾT
Phần A : BIỂU MƠ.
I/ Khái niệm:
- Biểu mơ là tập hợp những tế bào, về phương diện hiển vi quang học chúng đứng
sát nhau. Biểu mơ khơng có mao mạch ni dưỡng, sự ni dưỡng được thực hiện
theo cơ chế thẩm thấu từ lớp mơ liên kết ở bên dưới qua màng đáy.
- Biểu mơ là loại mơ mà các tế bào nằm rất sát nhau, chất gian bào rất ít. Khi quan
sát dưới kính hiển vi quang học thì gần như khơng thấy gì giữa các tế bào. Nguồn gốc
của biểu mơ là từ cả 3 lá phơi: nội bì và ngoại bì.
II/ Chức năng của biểu mơ: Bao phủ mặt ngồi cơ thể (da) và lót mặt trong các
khoang rỗng của cơ thể (miệng, dạ dày, tử cung…...)
III/ Cấu tạo:
- Tuỳ theo loại mà biểu mơ có một hay nhiều lớp tế bào hợp thành.
- Những tế bào biểu mơ được gắn với nhau bởi chất mucopolysacrit có chứa trong
chất gian bào.
- Giữa biểu mơ và mơ liên kết có một màng đáy dày 500-700A°, phía trên màng đáy
thơng với khoảng gian bào.
- Trong biểu mơ khơng có mạch máu.
- Biểu mơ gồm một hay nhiều lớp tế bào ở mặt ngồi hay lót bên trong xoang (rỗng)
hoặc sinh ra các tuyến đặc (gan, thận, tuỵ). Các tế bào BM nằm sát nhau, mặt tiếp xúc
rất nhỏ và tựa trên màng nền. Có thể có hình khối, hình trụ, dạng lơng hay vảy, phụ
thuộc vào hình dạng của các tế bào và trong một số trường hợp gồm một lớp tế bào
như BM da. Những mơ lót bên trong xoang cơ thể gọi là BM giữa. Các mơ đơn độc hình
trụ hoặc khối sắp xếp chặt chẽ với lơng nhơ ra trên bề mặt tự do gọi là BM tiêm mao.
Các lơng này hoạt động nhịp nhàng theo làn sóng, tạo nên chuyển động của chất lỏng
hoặc các phân tử bao quanh.
IV/ Phân loại: Gồm 2 loại biểu mơ chính : Biểu mơ phủ và biểu mơ tuyến.loại biểu mơ
khác.
1/Biểu mơ phủ:
- Chức năng:
+ Bảo vệ và trao đổi chất.
a/Căn cứ vào cách bài xuất: có 2 loại : Tuyến ngoại tiết và tuyến nội tiết.
- Tuyến ngoại tiết : bài xuất ra ngoài hay vào các khoang thiên nhiên của cơ thể và thông với
ngoài qua ống trung gian, gồm 2 phần: chế tiết và bài xuất,gồm:
+ Tuyến ống.
+ Túi .
+ ng + túi.
- Tuyến nội tiết: chất tiết ngấm trực tiếp vào máu, tế bào tuyến tiếp xúc với mạch lưới mạch
máu dồi dào, gồm 3 kiểu:
+ Tuyến kiểu tản mác: tế bào tuyến đứng riêng lẻ tiếp xúc với lưới mạch máu.
+ Tuyến kiểu túi: tế bào tuyến tạo thành những túi xen giữa có mạch máu và bạch
huyết.
+ Tuyến kiểu lưới.
b/ Căn cứ vào thành phần tạo nên chất tiết: có 3 loại.
- Tuyến toàn vẹn: sau khi tiết ra chất tiết thì tuyến vẫn còn nguyên vẹn (tuyến t).
- Tuyến toàn tuỷ: tất cả chất tiết ra ngoài (tuyến bã,………).
- Tuyến bán tuỷ: phần ngọn của tế bào chế tiết được bài xuất ra ngoài (tuyến sữa).
c/Căn cứ vào số lượng tạo nên chất tiết: gồm:
- Tuyến đơn bào: chỉ có một tế bào như tế bào đài tiết nhày.
- Tuyến đa bào: gồm nhiều tế bào.
Phần B: MÔ LIÊN KẾT.
I/Khái niệm: "Mơ liên kết“ là loại mơ phổ biến nhất trong cơ thể. Mơ liên kết có ở hầu
hết khắp các bộ phận của cơ thể, xen giữa các mơ khác, chúng gắn bó với nhau.
II/Chức năng: liên kết các tế bào và cơ quan lại với nhau để nâng đỡ và duy trì hình
dáng của cơ thể.
III/Cấu tạo:
- Mơ liên kết có nguồn gốc từ lá thai giữa, tức là từ trung mơ. Trong cơ thể có nhiều loại
mơ liên kết.
- Mỗi loại mơ đều được hình thành bởi: Thành phần gian bào gồm: phần lỏng gọi là dịch
mơ; phần đặc hơn,có tính đặc của một hệ keo gọi là chất căn bản ; Phần tử sợi: các sợi
liên kết vùi trong chất căn bản; Các tế bào liên kết nằm rải rác trong thành phần gian bào.
• a.6/ Dưỡng bào : hình cầu, hình bầu dục hay không nhất đònh , bào tương có nhiều chất
chứa heparine chống đông máu và histamin là dãn mạch.
• a.7/ Tế bào nội mô : tạo thành lớp nội mô của mạch máu , dễ trở thành thực bào, có tác
dụng đông máu.
• a.8/ Tế bào mỡ : do tế bào sợi hay đại thực bào tạo thành, chung quanh khối mỡ có một
màng bào tương mỏng, nhân sát màng tế nào. Có tác dụng cách nhiệt và chống rét.
• * Mô mỡ, các dây chằng và mô liên kết là thành phần tạo nên hình dáng của tuyến vú.
a.9/ Tế bào sắc tố: chỉ thấy ở vùng dưới da của đầu vú và ở một lớp nhãn cầu. Tế bào
có nhánh, bào tương rộng toả mọi phía , chạy xen giữa các tế bào biểu mô.
a.10/ Những bạch cầu: là những huyết cầu lọc từ máu ra, thường có ở lớp đệm niêm
mạc ruột, khí quản, đường tình dục,….. khi bò viêm nhiễm số lượng bạch cầu xâm nhập
vào mô liên kết rất nhiều.
- Bạch cầu là một loại tế bào trong máu, có nhân, khơng có màu sắc, làm
nhiệm vụ bảo vệ cơ thể. Về mặt hình thái, có kích thước 7 - 14 μm, sau khi
nhuộm thường được phân biệt thành loại nhân một múi (đơn nhân) và loại
nhân nhiều múi (đa nhân); thành loại khơng có hạt trong bào tương (tế bào
lympho và tế bào đơn nhân) và loại có hạt (trung tính, ưa axit hay ưa bazơ).
Nơi sản sinh là tuỷ xương; khi trưởng thành mới vào máu. Trong 1 mm3 máu,
bình thường có từ 4.000 đến 9.000 BC nói chung. Số lượng dưới 4.000 là
giảm, sự giảm thường thấy trong nhiễm độc; cao hơn 9.000 là tăng, thường
gặp khi nhiễm khuẩn.
b/ Phần tử sợi: gồm:
• b.1/ Sợi tạo keo : có nhiều trong mô liên kết, là những sợi nhỏ, không phân nhánh mà
hợp thành bó, biến thành keo dưới tác dụng của nhiệt.
• b.2/ Sợi lưới = sợi vòng : nhỏ, mãnh, có thể kết hợp lỏng lẻo làm cho cấu trúc lưới có
tính đàn hồi.
• b.3/ Sợi chun : có tính chất chun giãn cao.
3
c/ Chất căn bản: có tính tạo keo, gồm: prôtêin, mucopolysaccarit, nước và muối khoáng.
Có thể đặc hay lỏng tuỳ theo trạng thái sinh lý của cơ thể. Là môi trường trong của cơ thể,
• a.4/ Huỷ cốt bào:
b/ Phần tử sợi: là sợi ossein vùi trong chất căn bản , khi khử muối vôi mới nhìn rõ phần tử sợi,
có tác dụng giảm lực cơ học khi tác động vào xương.
c/ Chất căn bản: Gồm chất hữu cơ (95% collgen ) và muối vô cơ, tạo lá xương, trên có những
ổ xương chứa thân tế bào xương.
• d/Tuỷ xương : Nằm trong ống tuỷ, thân xương dài, có hốc tuỷ .Người trưởng thành có tuỷ đỏ
(tuỷ tạo huyết) tạo ra các tế bào máu và tuỷ vàng (tuỷ mỡ) cấu tạo bởi mỡ ở trạng thái mô tuỷ
ngừng tham gia tạo máu.
• e/ Màng xương: gồm:
• - Màøng xương ngoài:
• + Lớp ngoài: bọc mặt ngoài của xương, cấu tạo bởi sợi collagen, sợi chun và tế bào
sợi.
• + Lớp trong: sợi hình cung đi chéo từ màng xương vào trong tậo ra xương cốt mạc.
• - Màng xương trong: có một lớp tế bào kiên kết dẹt.
3.2/ Phân loại:
• - Xương cốt mạc.
4
• - Xöông Havers.
CHƯƠNG II: HỆ XƯƠNG
• Có thể chia bộ xương người làm 3 phần chính:
1. Xương đầu ( hộp sọ).
2. Xương thân( xương cột sống, xương sườn,xương ức).
3. Xương chi: chi trên và chi dưới
I. CẤU TẠO VÀ TIẾN HÓA CỦA HỘP SỌ:
1. Đại cương về hộp sọ:
+ Hộp sọ(cranium) là bộ phận bảo vệ hệ thần kinh trung ương, các giác quan và phần đầu
của cơ quan tiêu hóa và hô hấp.
+Hộp sọ gồm nhiều xương lẽ và xương chẵn có nguồn gốc,cấu tạo và chức năng khác
nhau.
+Hộp sọ chia làm hai phần:
Gồm phần chai và phần mắt mũi:
*Phần chai có u trán phát triển, làm cho vầng trán cao và rộng. Phái trên của bờ ổ
mắt có một phần lồi chạy dài thành vành cung gọi là cung mày.
*Phần ổ mắt và phần mũi của xương trán, giới hạn xương trán ở mặt dưới và có
hướng phẳng ngang.
2.4. xương chẩm:
• Là xương lẻ, nằm ở phái sau và đáy hộp sọ.
5
• Mặt ngoài có u chẩm phát triển và các đường cong chẩm là nơi bán của các cơ vùng
đáy và cơ lưng.
• Phần đáy sọ có lỗ chẩm thông với ống cột sống và hai lồi cầu chẩm khớp với đốt cổ
thứ nhất.
• ở trẻ em xương chẩm gồm 4 phần tách rời nhau. Đến tuổi dậy thì các phần mới dính
lại thành một xương.
2.5.xương bướm:(os shenoidale)
• Xương bướm nằm chính giữa nền hộp sọ tiếp giáp với hầu hết các xương sọ.
• ở trẻ sơ sinh xương bướm tách rời thành 3 mảnh, đến cối năm đầu thì gắn lại thành
một xương.
• Xương có hình dạnh giống như một con bướm đang dang cánh,gồm 4 phần chính:
+Chính giữa là phần thân.
+ Hai bên có 2 đôi cánh, cánh bé ở trên và cánh lớn ở dưới
+ Dưới cùng có 2 mỏm từ gốc cánh lớn đi xuống gọi là mỏm chân bướm.
• Xương bướm có nhiều lỗ cho dây thần kinh và mạch máu đi qua:
+ Lỗ tròn lớn.
+ Lỗ bầu dục.
+ Lỗ tròn bé
+ Lỗ thị giác
+ Khe bướm
2.6. XƯƠNG SÀNG:(os ethmoidale )
* Xương sàng là xương lẻ ,có cấu tạo phức tạp,nằm khuất trong sọ mặt.
. Mỏm ổ mắt
. Mỏm bướm.
Giữi hai mỏm có khuyết bướm khẩu cái.
+ Bờ dưới có mỏm tháp, hướng ra phái ngồi và đối xứng với tấm ngang.
3.4. Xương móng( os hyoideum):
* Xương móng khơng trực tiếp nối với xương sọ - Xương này nằm dưới lưỡi
* Gồm: một thân và 2 đơi sừng là những mẩu nhơ dài ra, trơng tựa như móng ngựa.
+Thân xương cong lồi về phái trước,
+Sừng lớn hướng về phái sau,
+ Sừng bé đâm xiên, nối với thân xương ở gốc của sừng lớn.
* Xương móng là chỗ bám quan trọng của nhiều cơ nhỏ ở vùng cổ.
3.3. Xương hàm dưới( maudibula):
* Là xương duy nhất có khả năng cử động ở hộp sọ.
* Ở trẻ sơ sinh xương gồm một đơi đối xứng, đến năn thứ hai sau khi sinh , mới kết hợp
làm một.
* Xương hàm dưới hình móng ngựa gồm một thân và hai ngành
* Bờ trên của thân xương có cung nguyệt răng,bờ dưới cạnh tròn gọi là bờ đáy.
* Mặt ngồi xương có củ lồi cằm, nhơ về phái trước ( đây là đặc điểm tiến háo của người
so với vượn người).
* Ngành bên xương hàm dưới là một tấm dẹt từ thân xương hàm đâm xiên lên
II. Xương thân
A. Xương Cột Sống:
1. Cột sống chia thành các đoạn sau : cột sống chia gồm :33-34 đốt: Chia làm 5 đoạn
• -Đoạn sống cổ: gồm 7 đốt
• - Đoạn sống ngực: gồm 12 đốt
• - Đoạn thắt lưng: gồm 5 đốt
• -Đoạn cùng; 5 đốt
• -Đoạn cụt : gồm 4- 5 đốt
+Đoạn cổ ,ngực và thắt lưng gồm 24 đốt, cách nhau bởi các đóa sụn gian đốt sống.Các
đốt của đoạn cùng và đoạn cụt dính nhau thành xương cùng và xương cụt
• thống dây chằng liên kết các phần đốt sống.
• -Phù hợp với chức năng bảo vệ tim, phổi,thực quản,gan, dạ dày, lồng ngực có cấu
tạo như một cái lồng hình chóp: đỉnh trên, đáy dưới,rộng ngang và hẹp trước sau.
*Xương sườn(costae): Có sồ lượng bằng số lượng đốt sống ngực, gồm 12 đôi:
• + 7 đôi sườn thực: đầu trước nối trực tiếp với xương ức bằng sụn sườn (từ đôi 1
—đôi 7)
• +3 đôi sườn giả: từ đôi 8 đến đôi 10: đầu trước nối với phần sụn của đôi 7.
• +2 đôi sườn cụt: đôi 11 và 12: không có sụn sườn, đầu trước được tự do.
• -Độ dài xương sườn tăng dần từ trên xuống sau đó lại giảm dần.
*Xương ức(sternum):
• -Là một xương dẹt nằm đối diện với đoạn sống ngực.
• -Liên hệ với xương ức có đôi xương đòn và 7 đôi xương sườn trên.
• -Xương ức có hình kiếm gồm 3 phần: cán,thânvà mỏm kiếm.
C. XƯƠNG CHI:
*XƯƠNG CHI TRÊN
• Xương chi trên gồm :
• -Đai vai
• -Phần tự do:
• +Xương cẳng tay
• +Xương cánh tay
1.Đai vai
a. Xương đòn .Là một xương ống dài hình chữ S nằm giữa chi trên và xương ức
.Xương dẹt theo hướng trên dưới .Đầu ngoài dẹt để nối với mỏm cùng xương bả vai
goi là đầu cùng .Đầu trong dày nối với xương ức gọi là đầu ức. Đoạn giữa gọi là thân.
b.Xương bả vai.* Là một xương dẹt mỏng nằm ở phía lưng . Xương hình tam giác đáy
trên đỉnh dưới.Xương này có hai mặt ba bờ và ba góc.
• -Mặt lưng có gai vai là chỗ bám của cơ thang và cơ tam giác vai.
• -Mặt trức xương bả vai áp vào sườn gọi là hố dưới vai.
8
• -Mặt trên có một khuyết vai ,đôi khi có dây chằng tam giác qua và tạo nên một
*Sự hình thành cấu tạo của chậu hông được xác đònh trong quá trình đi thẳng người
(nở hai bên rộng trước sau)
b. Xương đùi( femun)
• - Chiều dài xương đùi tương đương ¼ chiều cao cơ thể.
• - Thân xương hơi cong về phái trước, mặt trước phẳng nhẵn, mặt sau có gờ nhám là
nơi bám
của các cơ.
• -Đầu trên xương đùi có chỏm cầu, tiếp đó là cổ giải phẩu, tiếp giáp với thân xương
là cổ phẩu thuật, đầu dưới hình khồi vng hơi cong ra sau.
- Phái trước là diện khớp cơ dọc khớp với xương bánh chè. Phái sau có hố keo.hai bên
diện khớp là hai lồi cầu khớp với xương chày.
c. Xương cẳng chân(ossa cruris)
* Gồm hai xương : xương chày và xương mác. Thân xương có 3 mặt 3 bờ.
• +Bờ trước có mào trước nổi rõ ngay dưới da.
• + Bờ ngoài có mào liên kết.
9
• +Bờ trong hơi tròn.
- Đầu xương của xương chày có lồi củ trong và lồi củ ngoài. Đầu dưới có diện
khớp ròng rọc với xương sên ở cổ chân.Phùiá trong kéo dài gọi là mỏm trâm hay là
mắt cá trong.
-Xương mác là xương mảnh,hình lưỡi mác, nằm ngoài và luôn song song với xương
chày. Đầu trên dính vào xương chày. Thân xương dài mảnh,có mào liên cốt. Đầu
dưới nhọn gọi là mắt cá ngoài.
d. Xương bàn chân: gồm 3 phần:
• +Xương cổ chân
• +Xương bàn chân
• +Xương đốt ngón
-Xương cổ chân chiếm một nửa bànchân sau ,phân biệt với nửa trước bởi đường
liên khớp Lisfranc, gồm 7 xương xếp thành 2 hàng
• + Hàng sau có xương sên và xương gót.
hoạt động của cơ càng giảm bấy nhiêu.
nh hưởng chính lên phạm vi hoạt động của cơ và khớp là do tác dụng các cơ
đối lập.
Sự co cơ không bao giờ xảy ra một cách riêng lẻ. Để hoàn thành một động cơ
nào đó cần phải có sự tham gia củanhiều cơ. Người ta phân biệt hai loại cơ: Cơ hoành
thành động tác và cơ đối lập động tác.
Sư hoạt động của cơ là điều cần thiết cho sự sinh tồn.Nhưng cơ nào không hoạt
động sẽ bòo thoái hoá và mất khả năng hoạt động qua từng thế hệ. Những cơ được
luyện tập sẽ được tăng cường thể tích và khả năng hoạt động.
C - SỰ PHÁT TRIỂN HỆ CƠ .
Hệ cơ đựơc phát triển từ lớp phôi giữa và phân hoá thành tất cả các cơ trong cơ
thể.
Tốc độ phát triển hệ cơ không đồng đều trong quá trình phát triển cơ thể. Trọng
lượng toàn bộ hệ cơ của trẻ sơ sinh chiếm độ 24% trọng lượng cơ thể.
Sự phát triển của từng nhóm cơ cũng không đồng đều.
Trong toàn bộ quá trình sinh trưởng, trọng lượng hệ cơ phát triển nhanh hơpn
trọng lượng cac cơ quan khác. Sư sinh trưởng cucả các cơ cũng không đều nhau.
Tóm lại từ lúc con người đạt được mức động trưởng thành đến 50 tuổi hệ cơ phát
triển rất chận và sau đó các sợi cơ bắt đầu thoái hoá. Trọng lượng hệ cớ bắt đầu
giảm dần. Ở tuổi già hệ cơ chiến độ 50% trọng lượng cơ thể.
II/ TÊN GỌI CÁC CƠ : NÓI CHUNG TÊN GỌI CÁC CƠ PHỤ THUỘC VÀO
- Phụ thuộc vào hình dạng ( cơ vuông, cơ tam giác, cơ thang vvv).
- Phụ thuộc vào số bó của cơ ( cơ nhò đầu, cơ tam đầu).
- Phụ tuộc vào cấu tạo bên trong ( cơ bán gân, cơ bán mạc).
- Phụ thuộc vào vò trí trong cơ thể (cơ thái dương, cơ dưới vai)
- Phụ thuộc vào chỗ bám.
- Phụ thuộc vào chức phận.
- Phụ thuộc vào hướng đi.
- Căn cứ vào những nguyên tác này, người ta đặt tên các cơ trong cơ thể.
E - TÊN GỌI VÀ ĐẶC ĐIỂM VÙNG CƠ CHÍNH:
3/ Những cơ trên xương móng.
Cơ nhò thân. Cơ hàm móng.
Cơ trâm móng. Cơ cầm móng.
4/ Những cơ sâu trước cột sống.
Cơ thẳng lớn trước.
Cơ thẳng bé trước.
Cơ cổ dài.
5/ Những cơ vùng ót.Được chia làm ba lớp:
Lớp sâu
Lớp giữa.
Lớp nông
III – CÁC CƠ Ở ĐẦU
A – CÁC CƠ NHAI
Cơ thái dương Cơ cắn.
Cơ chân bướm trong. Cơ chân bướm ngoài.
B – CÁC CƠ BÁM DA ĐẦU VÀ MẶT
Cơ bám quanh miệng. Cơ vòng miệng
Cơ mút Cơ vuông môi dưới
Cơ tam giác môi Cơ gò má.
Cơ vuông môi trên. Cơ xung quanh ổ mắt.
Cơ cằm. Cơ cười.
Cơ ở mũi cổ gồm 4 cơ nhỏ. Cơ ở phần sọ có hai cơ.
Các cơ ở quanh tai gồm ba cơ
IV – CÁC CƠ CHI TRÊN
A – CÁC CƠ VÙNG BẢ VAI
Cơ tam giác vai. Cơ trên vai.
Cơ dưới gai. Cơ trò bé.
Cơ tròn lớn. Cơ dưới vai.
B – CƠ Ở CÁNH TAY
Các cơ ở khu trước cánh tay.
+Lớp ngoài: màng đáy.
b/ Nhân: Mỗi sợi cơ có nhiều nhân, nhân nằm sát rìa sợi cơ, có hình bầu dục, hình
que.
c/ Cơ tương: gồm:
-Tơ cơ vân.
-Các bào quan.
-Chất vùi.
-Myoglobin.
c1/ Tơ cơ vân( vi sợi cơ- myofibril).
* Cấu tạo vi thể:
-Tơ cơ là những sợi dài.
-Mỗi tơ cơ có các đóa sáng (đóa I) và các đóa tối (đóa A) xếp xen kẽ nhau. Trong một
sợi cơ, những đoạn sáng của tơ cơ sắp xếp thành hàng ngang, đoạn tối cũng tương tự
nên nhìn toàn bộ sợi cơ có vân ngang:
-Đoạn sáng dày khoảng 0.8 miromet, ở giữa là vạch Z.
-Đoạn tối có vùng H, trong vùng H có vạch M.
-Tơ cơ được cấu tạo bởi 2 loại xơ: +Xơ myosin: to.
14
+Xơ actin: mảnh.
-Đóa I chỉ có xơ actin.
-Đóa A có cả xơ actin và myosin, riêng vùng H không có actin.
-Giữa 2 vạch Z là một đơn vò co cơ.
* Có 2 kiểu co cơ:
-Co cơ đẳng trường: xơ actin không lồng sâu vào xơ myosin nên chiều dài cơ không
thay đổi.
-Co cơ đẳng trương: xơ actin lồng sâu vào xơ myosin nên chiều dài của đóa I và vùng
H giảm-> sợi cơ co lại.
c2/ Các bào quan: gồm:
+Bộ Golgi.
+Ty lạp thể.
-Mỗi sợi cơ là một tế bào, nhân nằm chính giữa.
-Nhân hình tròn, hình bầu dục hoặc không có hình dạng nhất đònh.
-Không có vân ngang.
-Mỗi sợi cơ có màng đáy bao quanh.
tơ cơ chạy suốt theo chiều dài của sợi cơ, những tơ cơ này được tạo nên do sự phân
hoá của chất nguyên sinh.
-Các tế bào cơ thường tụm lại thành bó, các bó được bọc bởi mô liên kết.
-Trong cơ trơn của thành các tạng có rất nhiều nhánh của thần kinh giao cảm.
2/ Mô cơ trơn.
-Các tế bào họp lại thành bó bằng cách lồng vào nhau, xen giữa là các mô liên kết,
mạch máu, thần kinh.
-Các bó cơ có thể sắp xếp theo hướng vòng, hướng dọc.
III/ CƠ TIM.
-Cấu tạo nên quả tim người và động vật.
-Về phương diện cấu tạo cơ tim tương tự cơ vân nhưng về mặt sinh lý cơ tim co bóp tự
động như cơ trơn, không theo ý muốn của con người.
-Cơ tim không có khả năng tái tạo.
-Co rút nhanh, mạnh, liên tục.
1/ Cấu tạo sợi cơ tim.
-Có những vân ngang nhưng mỗi sợi cơ là một tế bào vì chỉ có một nhân ( hoặc 2
nhân).
-Nhân nằm chính giữa.
-Trong chất nhiễm sắc có nhiều tơ cơ sắp xếp thành từng bó.
-Các tơ cơ cũng có đóa sáng và đóa tối.
-Số lượng cơ chất nhiều hơn cơ vân nên tim có màu đỏ sẫm.
-Trong cơ chất còn có:
+Ty lạp thể( nằm rải rác).
16
+Hạt mỡ.
+Sắc tố.
truyền các xung động được nhanh chóng. Trong quá trình phát triển cơ thể chức
phận các phần hệ thần kinh phụ thuộc vào quá trình hình thành myelin đã chứng
minh bằng thực nghiệm
• như rèn luyện cơ thể tăng quá trình hình thành myêlin .
• * Sợi không có myêlin: phần lớn thuộc hệ thần kinh dinh dưỡng, tốc độ dẫn
truyền hưng phấn rất chậm chạp
- Những sợi đầu cuối của sợi thần kinh tiếp xúc tế bào thần kinh khác hay với các
mô của các cơ quan khácgọi là xinap(diện tiếp hợp)
- Những sợi đầu cuối của một só sợi thần kinh nằm tự do trong các thành mạch,
nội quan,cơ,da=>thu nhận cảm giác. Một số liên hệ với những loại mô biểu bì đã
17
biến đổi hình dạng và chức phận (vd: tế bào que, nón trong màng thần kinh cầu
mắt…)tạo thành những cảm giác đặc biệt trong cơ quan thò giác….
- Mỗi một cơ quan ï cảm giác thu nhận một loại kích thích đặc trưng.Cụ thể: mắt thu
nhận kích thích ánh sáng, tai thu nhận âm thanh… Được truyền về trung ương thần
kinh theo các sợi hướng tâm nên hệ thần kinh trung ương phân tích và điều hoà
hoạt động các cơ quan=> thích nghi môi trường.
- Tế bào thần kinh có nhiều loại: 1 cực, 2 cực ,nhiều cực, hình sao,…nhưng chức
năng tập hợp thành:
• * Tế bào thụ cảm: Thân nằm ngoài trung ương thần kinh,các tua ngắn, có tận
cùng thần kinh nằm trongc ác cơ quan tiếp nhận các loại kkích thích khác nhau
và các xung động thần kinh .
• * Tế bào đáp ứng: Có các đầu tận cùng của sợi trục nằm trong các cơ quan hoạt
động như cơ, tuyến. Thân nằm trong bộ phận thần kinh trung ương.
• * Tế bào liên hợp: Nằm trong bộ phần thần kinh trung ương => cầu nối giữa các
tế bào nói chung và các tế bào thụ cảm, tế bào đáp ứng nói riêng.
2. Dây thần kinh:
Các sợi thần kinh có kích thước khác nhau, các sợi thần kinh lớn đường kính
khoảng 20 micromét thường có bao mielin gọi là sợi nhóm A, sợi thần kinh trung bình
kích thước khoảng 2 -3 micromét gọi là sợi nhóm B, những sợi nhóm C thường nhỏ
- Xi măng bao quanh chân răng giữ cho răng nằm đúng vị trí.
- Giữa lớp xi măng với xương hàm có một lớp màng ngoài răng gồm những sợi colla
răng , giúp giảm đi những tác động làm nứt vỡ men răng.
- Răng cửa(incisivi) mỏng và sắc chỉ có một chân.
- Tuỳ theo hình dạng và chức phận mà người ta phân biệt các loại răng khác nhau:
- Răng nanh(canini)có đỉnh nhọn sắc cũng chỉ có một chân răng .
- Răng trước hàm (premolares) và răng hàm (molares) rất khoẻ. Răng trước hàm cũng
có 1 chân , nhưng răng hàm chính thức có từ 2 đến 3 chân cắm sâu và giữ chắc răng
vào hàm.
- Số răng ở người trưởng thành là 32 răng gọi là răng vĩnh cửu.
- Mỗi loại răng có 1 số răng nhất định và thường biểu thị bằng công thức của nửa hàm
trên và dưới
- Răng của người trưởng thành có công thức sau:2/2C 1/1N 2/2TH 3/3H
- Còn trẻ em bắt đầu mọc răng từ tháng thứ 6, tới 2 tuổi thì trẻ có tất cả 20 răng gọi là
răng sữa theo công thức:2/2C 1/1N 0/0TH 2/2H
- Lứa răng vĩnh cửu bắt đầu mọc từ 7 tuổi với 1 răng hàm và những năm tiếp theo bộ
răng sữa bắt đầu rụng dần và được thay thế bằng các răng vĩnh cửu . Sự thay thế và
mọc răng vĩnh cửu tiếp tục cho tới khoảng 14 đến 16 tuổi thì ngừng với sự xuất hiện
của răng hàm 2 . Răng hàm 3(còn gọi là răng khôn có thể không mọc vì không đủ
khoảng trống .Trong những trường hợp này chúng sẻ mọc áp vào xương hàm có thể
phẩu thuật để lấy ra.
b. Lưỡi : ( Hình dưới)
- Là một khối cơ vân chắc được phủ bằng lớp chất nhầy có khả năng chuyển động , có
mạch máu và dây thần kinh . Mặt trên lưỡi có các gai vị giác . Lưỡi có chức năng:
- Nhào trộn thức ăn với nước bọt
- Chuyển động thức ăn qua lại giúp nhai kỹ hơn
- Chức năng vị giác . Chức năng này rất quan trọng vì giúp lựa chọn thức ăn.
- Tham gia vào việc phát âm và phản xạ nuốt
- Lưỡi chia làm 3 phần : Đầu lưỡi , thân lưỡi và gốc lưỡi. Gốc lưỡi dính vào xương
móng và nắp thanh quản (Thanh thiệt ). Trên mặt lưỡi có nhiều gai cảm giác
thức ăn từ khoang miệng voà thực quản mà còn là đường dẫn không khí từ khoang
mũi qua thanh quản ,khí quản để vào phổi Giữa hầu và cột sống là một mô liên kết
thưa ,nhờ đó mà hầu cử động được dễ dàng khi nuốt .Hầu được chia thành 3 phần :
- Phần mũi-hầu: Hoàn toàn có chức phận hô hấp không liên hệ với ống tiêu
hoá . Ơ thành trên phía sau của phần mũi hầu có đám hạch nhân hầu rất phát triển ở
thanh thiếu niên và thoái hoá dần khi về già.
- Phần miệng- hầu: Là phần giữa của hầu. Khoang miệng thông với phần
này bằng lỗ họng
- Phần dưới hầu hẹp lại, có liên quan với thanh quản nên gọi là phần thanh
quản- hầu.
• Hầu vận động được là nhờ các cơ vùng hầu . Có hai loại cơ dọc và cơ ngang có tác
dụng nâng hầu và khép hầu. Lót mặt trong hầu là lớp màng nhầy.(tranh hầu)
3.Thực quản.(olsophagus)
• Thực quản là một ống cơ dài khoảng 22-25cm, tiếp theo hầu. Khi vào khoang ngực ,
ở đoạn trên thực quản nằm sau cung chủ động mạch, ở đoạn sau chuyển ra phía
trước và đi chéo qua động mạch chủ từ phải sang trái rồi chui quamột lỗ đặc biệt ở
cơ hoành để vào khoang bụng và nối với dạ dày
• Thành của thực quản được cấu tạo bởi ba lớp:
- Lớp màng nhầy, và lớp dưới màng nhầy thực quản là một lớp tế bào biểu
bì dẹt nhiều tầng .Lớp dưới màng nhầy rất phát triển. Bình thường lớp màng nhầy xếp
thành những nếp dọc sâuđảm bảo cho lòng thực quản có thể giãn rộng khi thức ăn đi
qua.
20
- Lớp cơ: Đảm bảo tính cường của thực quảnvà giúp thực quản chuyển thức
ăn xuống dạ dày. Cấu tạo của lớp cơ này không đồng nhất trên toàn bộ thực quản. Phần
đầu của thực quản là cơ vân, phần tiếp theo là cơ trơn.Những sợi cơ sắp xếp thành hai
lớp: Lớp cơ vòng ở trong và lớp cơ dọc ở giữa.
- Chính giữa lớp cơ vòng gây cử động nhu động của thực quản đảm bảo cho
thức ăn sau khi nuốt được chuyển tới dạ dày một cách chủ động không tuỳ thuộc vào
trọng lực của viên thức ăn.
b. Sự co bóp ở phần thân :
- Lúc dạ dày trống rỗng,các đợt co bóp yếu và thưa nhưng cảm giác đói tăng dần.
- Cử động nhu động theo chiều từ trên xuống dưới giúp thức ăn được chuyển động và
thấm dịch vị . Độ a xit của dịch vị càng tăng,co bóp càng mạnh .
5. RUỘT NON:( Xem hình bên dưới)
a. Cấu tạo của ruột non:
Ruột non là đoạn giữa dài nhất ống tiêu hoá trung bình trên dưới 6m.Ruột non được chia
thành 3 đoạn chính :
- Tá tràng là đoạn đầu của ruột non dài khoảng 20cm.Tá tràng thông với dạ dày ở môn vị
và tiếp nhận dịch tiêu hoá tiết ra từ các tuyến gan và tuyến tuỵ.Tá tràng cũng là đoạn rộng
nhất của ruột non. Nó uốn cong hình chữ V úp lên đầu của tuyến tuỵ gồm 2 đoạn:Đoạn đầu
là hành tá tràng,có thể di động được. Đoạn còn lại không di động được và tiếp với hổng
tràng ở một chỗ gấp,trông rất rõ gọi là gấp tá-hổng tràng chỉ có ở người và khỉ.
- Hổng tràng và hồi tràng được phủ ở phía trước bởi màng bụng và treo vào thành sau ổ
21
bụng bằng màng treo ruột.Hổng tràng dài khoảng 2/5 độ dài của ruột non phần còn lại là
hồi tràng. Các mạch máu và dây thần kinh đi theo màng treo ruột để vào ruột
- Thành ruột cấu tạo gồm 3 lớp bao ngoài cùng là lớp thanh mạc , dưới là lớp cơ và trong
cùng là lớp màng nhầy
+ Lớp cơ gồm 2 loại : Cơ dọc ở phía ngoài ,bên trong là cơ vòng.Các cơ này phát triển ở tá
tràng và giảm dần khi tới hồi tràng .Thức ăn được di chuyển trong ruột nhờ sự co rút của
các cơ thành ruột .
+ Lớp màng nhầy của ruột tạo nên nhiều nếp gấp chạy vòng gọi là van tràng . Trên bề mặt
của ruột ngoài các van tràng còn có các lông ruột
- Tổng số lông ruột của người có tới hơn 4 triệu. Mỗi lông được phủ 1 lớp tế bào viền hình
trụ nằm chen giữa các tế bào này có các tế bào hình chén tiết dịch nhầy. ( Lông ruột hình
trang 29)
Dưới kính hiển vi điện tử ta có thể thấy rõ các lông ruột cực nhỏ có dạng sợi rất mảnh .Mỗi
lông ruột có chiều dài từ 1-3 micromet.
Cùng với cấu tạo lông ruột và van tràng đã làm tăng bề mặt hấp thụ của ruột. Xen giữa các
Phần cuối của đoạn xuống là đoạn cong xich ma đi vào hố chậu bé và chuyển sang trực
tràng
- Trực tràng dài từ 15-20cm tiếp với hậu môn.
- Thành ruột già cấu tạo gồm 3 lớp:
+ Lớp thanh mạc bao ngoài chứa đầy mỡ làm thành bờm mỡ.
+ Lớp trong là cơ gồm cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong tới hậu môn thì lớp cơ vòng tạo
22
thành 2 vòng cơ thắt hậu môn : vòng cơ thắt trong và vòng cơ thắt ngoài. Vòng cơ thắt
ngoài thuộc loại cơ vân.Cả 2 vòng này thường xuyên co,khép chặt hậu môn và chỉ mở ra
một cách chủ động .
+ Lớp màng nhầy lót trong ruột già chỉ có một số tế bào tiết dịch nhầy giúp cho sự di
chuyển các chất cặn bã được dễ dàng.
b. Sự thải phân : Sau khi được hấp thụ nước ,các chất cặn bã còn lại cô đặc tạo thành
phân , trong phân còn rất ít các chất dinh dưỡng không được hấp thụ, mảnh vụn tế bào
Niêm mạc ống tiêu hoá và xác vi sinh vật
- Thải phân qua động tác đại tiện là phản xạ không điều kiện gây co bóp cơ trơn, cử động
nhu động mạnh ở ruột già làm một lượng phân tích tụ ở trực tràng gây áp lực thông qua cơ
chế thần kinh sẽ xảy ra phản xạ đại tiện .
II. CÁC TUYẾN TIÊU HOÁ: (Hình dưới)
1. Tuyến tuỵ :
-Tuyến tuỵ là 1 tuyến màu xám hồng gồm 3 phần : Đầu ,thân, đuôi. Tuỵ gồm nhiều thuỳ
nhỏ cấu tạo nên.Các thuỳ này có các ống dẫn chất tiết đổ vào 1 ống chung ở đầu tuỵ gọi là
ống tuỵ . Ống tuỵ cùng với ống dẫn mật đổ các chất tiết vào tá tràng .Ngoài ống tuỵ còn có
ống dẫn phụ đổ vào tá tràng Qua 1 lỗ trên gai nhỏ (Hình dưới là hình Tuyến tuỵ và tá tràng
)
- Bên cạnh các thuỳ nhỏ làm nhiệm vụ tiết dịch tiêu hoá , tuỵ còn có các nhóm tế bào sáng
màu hơn gọi là đảo tuỵ tiết ra insulin ngấm thẳng vào máu .
- Nhờ vậy tuỵ có 2 chức năng độc lập: Chức năng ngoại tiết và chức năng nội tiết
2. Gan: (Hình gan và ống dẫn mật)
Gan là 1 tuyến lớn nhất của cơ thể , có màu nâu sẫm ,trọng lượng trung bình là
- Vị trí loét thường cư trú ở thành tá tràng,bờ cong bé và đầu dưới thực quản.Nguyên nhân:
+ Dịch vị tiết ra quá nhiều,nguyên nhân này chiếm 50% trường hợp loét dạ dày
+ Bài tiết chất nhầy không có tác dụng bảo vệ.
+ Giảm bài tiết chất nhầy
+ Cơ chế điều hoà ngược tá tràng -dạ dày (để hạn chế tốc độ chuyển thức ăn từ dạ dày).
+ Cơ chế điều hoà ngược secretin-tuỵ(kích thích bài tiết dịch tuỵ kiềm tính)
- Loét tá tràng mang tính di truyền .
- Điều trị nội khoa :phối hợp những biện pháp sau:
+ Dùng thuốc trung hoà axit dịch vị
+ Giảm các tình trngj stress, vì bài nó dẫn đến bài tiết nhiều axit.
+ Dùng thuốc Cimetidin hoặc các thuốc tương tự tác dụng ức chế hoạt tính của axit
+ Cai thuốc lá , rượu ,tránh lạm dụng kháng sinh.
- Điều trị ngoại khoa:
+ Cắt nhánh dây thần kinh X vào dạ dày .
+ Cắt dạ dày bán phần :Cắt bỏ phần hang vị và môn vị .
2.Táo bón :Táo bón nghĩa là sự vận động chậm chạp của phân qua ruột già. Nguyên
nhân là do thói quen ức chế phản xạ đại tiện bình thường .Trẻ sơ sinh bị bắt nhịn mỗi
khi muốn đi đại tiện . Nếu sử dụng thường xuyên thuốc nhuận tràng thì sẻ mất dần
phản xạ đại tiện.Nếu tập được thói quen đi đại tiện vào buổi sáng sau bữa điểm tâm, thì
không bị táo bón.
3. Ỉa chảy : Ỉa chảy là sự vận động quá nhanh của phân trong trong ruột già , nguyên
nhân chủ yếu do mở rộng ở ruột già và phần cuối của hồi tràng . Do niêm mạc bị kích
thích các tuyến tăng dịch tiết. Kết quả là ruột bài tiết một lượng dịch rất lớn để cuốn đi
những tác nhân gây bệnh xuống phía hậu môn.
1. ĐẠI CƯƠNG VỀ CƠ QUAN HÔ HẤP
1.1 Ý nghĩa cũa cơ quan hô hấp .
Quá trình trao đổi chất của cơ thể sống gồm đồng hoá và dị hoá
+ Dị hoá phân huỷ các chất hữu cơ để giải phóng năng lượng cần thiết cho mọi
hoạt động sống của cơ thể đồng thời sản ra một số sản phẩm .
+ Quá trình dị hoá phải có o2 mới thực hiện được .
+ Tầng thượng bì lót mặt trong đường hô hấp ( thanh quản, khí quản và phế quản )có
nguồn gốc từ nội phôi bì . Các phần còn lại của cơ quan hô hấp
(mô liên kết, các vong sụn, lớp cơ trơn trong đường hô hấp )có nguồn gốc từ trung
phôi bì .
+ Ngày thứ 4 sau khi đẻ ra, phổi đã đạt được độ lớn đầy đủ .
+ Trước khi sinh ra phổi chiếm ½ thể tích lồng ngực .
+ Sau khi sinh, phổi chiếm 2/3 thể tích lồng ngực .
+ Ba tháng đầu phổi lớn rất nhanh .
+ Trẻ 8 tuổi phổi lớn gấp 8 lần, người lớn phổi lớn gấp 20 – 22 lần ở trẻ sơ sinh .
2. CẤU TẠO CƠ QUAN HÔ HẤP .
Căn cứ vào nhiệm vụ của từng phần, người ta chia cơ quan hô hấp làm 2 phần
+ Đường hô hấp dẫn khí vào phổi và từ phổi ra.
+ Phổi : nơi thực hiện trao đổi khí giữa không khi và máu
2.1. Đường hô hấp :
2.1.1 Khoang mũi(cavum nasis).
+ Được cấu tạo bởi các xương và sụn khá phức tạp .
+ Khoang mũi có 4 thành
- Thành ngoài cấu tạo bởi xương hàm trên, xương khẩu cái, mẫu chân bướm, ở
trên bởi khối bên của xương sàng, ở dưới bởi các xương xoăn .
- Thành trong(vách mũi)do xương lá míavà mảnh thẳng của xương sàng tạo
thành.vách mũi chia khoang mũi thành 2 phần (2 hố mũi) ở 2 bên.
- Thành dưới ( nền mũi ) tạo bởi mảnh ngang của xương khẩu cái và mấu khẩu cái
của xương hàm trên .
- Thành trên (nóc mũi ) bởi mảnh sàng của xương sàng và 2 xương mũi ở trước
Các hố mũi được thông với nhiều xoang ( xoang hàm trên, xoang bướm, xoang sàng và
xoang trán ).
+Các thành của hố mũi và các xoang có lớp niêm mạc chứa mao mạch, lông tơ và
tuyến nhầy có tác dụng sưởi ấm, lọc sạch và làm ẩm không khí trước khi vào phổi .
Ở người có 3 đôi xương xoăn :
- Đôi trên ( có nhiệm vụ khứu giác ) .