i
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao là một vấn đề phức tạp đòi hỏi
các doanh nghiệp phải có biện pháp quản lý phù hợp với sự thay đổi của thị trường
cũng như sự thay đổi của doanh nghiệp mình. Vấn đề hiệu quả kinh doanh luôn gắn
liền với vấn đề hiệu quả quản lý của từng doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp phải luôn biết tự hoàn thiện mình thông qua hệ thống KSNB.
Việc tính toán, kiểm soát chi phí giúp doanh nghiệp kiểm soát ngân quỹ và tính giá
thành sản phẩm. Kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp không chỉ là giải pháp tài
chính mà còn là giải pháp dùng người của nhà quản trị. Việc hoàn thiện hệ thống
KSNB trong kiểm soát chi phí là yêu cầu đặt ra hàng đầu cho mọi loại hình doanh
nghiệp thời kỳ hội nhập trong đó có Công ty Cổ phần Sản xuất Bê tông C.K.
Trải qua quá trình phát triển của mình, Công ty Cổ phần Sản xuất Bê tông C.K
đã xây dựng được một cơ chế quản lý, một hệ thống kiểm soát nội bộ, cũng như một
hệ thống các thủ tục kiểm soát khá chặt chẽ, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều
vấn đề đặt ra cần được hoàn thiện.
Từ thực tế tìm hiểu tại Công ty Cổ phần Sản xuất Bê tông C.K, cũng như những
kiến thức lý luận đã tiếp thu được ở Trường, Em đã lựa chọn Đề tài: “Hoàn thiện hệ
thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường kiểm soát chi phí tại Công ty Cổ phần
Sản xuất Bê tông C.K” để nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Đề tài là vận dụng lý luận về chi phí và hệ thống
KSNB vào phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát
chi phí của Công ty Cổ phần Sản xuất Bê tông C.K trong thời gian qua, để từ đó
đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB với việc tăng
cường kiểm soát chi phí của Công ty Cổ phần Sản xuất Bê tông C.K.
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, các
phương pháp cụ thể được sử dụng bao gồm: phương pháp thu thập thông tin, hệ
ii
iii
Chi phí của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống, hao
phí lao động vật hoá và chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (Nguồn: Giáo trình
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin - Tập 1- Trường Đại học kinh tế Quốc dân). Chi phí
trong doanh nghiệp bao gồm các khoản mục chủ yếu: chi phí NVL, chi phí lương và
các khoản trích theo lương, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí chung, chi phí
quản lý và các chi phí bằng tiền khác.
Trong chương 1 của Luận văn, tác giả đã nêu lên được những đặc điểm của hệ
thống KSNB, chi phí trong doanh nghiệp cũng như lợi ích của một hệ thống KSNB
vững mạnh và vai trò to lớn của việc kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp từ đó
đưa ra các mục tiêu và các quá trình KSNB đối với một số khoản mục chi phí chủ
yếu trong doanh nghiệp nhằm giảm thiểu những rủi ro và nâng cao hiệu quả quản lý
trong việc kiểm soát chi phí.
Vận dụng những lý luận đã nghiên cứu trong chương 1, Luận văn nghiên cứu
thực trạng hệ thống KSNB trong kiểm soát chi phí của Công ty Cổ phần Sản xuất
Bê tong C.K trong chương 2.
Công ty Cổ phần Sản xuất Bê tông C.K tiền thân là Công ty Cổ phấn Xây dựng
Thăng Long được thành lập từ năm 2002 với ngành nghề kinh doanh chủ yếu là sản
xuất, kinh doanh các sản phẩm bê tông đúc sẵn, ống cống, cột, cọc bê tông cốt thép,
bê tông trộn sẵn; thi công các loại nền móng công trình xây dựng. Do tính tất yếu
của quá trình phát triển, năm 2007, Công ty Cổ phần Xây dựng Thăng Long được
chia thành hai công ty là Công ty Cổ phần Sản xuất Bê tông C.K và Công ty Cổ
phần Xây dựng Thăng Long hoạt động độc lập. Công ty Cổ phần Sản xuất Bê tông
C.K có trụ sở chính tại Cụm Công nghiệp Lai Xá – Xã Kim Chung - Huyện Hoài
Đức – Thành phố Hà Nội với số vốn điều lệ 9.500.000.000 đồng.
Trong các lĩnh vực hoạt động của mình, Công ty ngày càng nâng cao chất
lượng về mọi mặt, tạo được nhiều công trình đảm bảo kỹ thuật cao và ngày càng đạt
v
Bên cạnh những ưu điểm thì thực tế hệ thống KSNB trong kiểm soát chi phí
của Công ty còn nhiều tồn tại.
Thứ nhất là tồn tại của Hệ thống kiểm soát nội bộ
Một là, Môi trường kiểm soát: bao gồm nhận thức, quan điểm và phong cách
điều hành của ban lãnh đạo Công ty, cơ cấu tổ chức; chính sách nhân sự và công tác
lập kế hoạch và dự toán.
Nhận thức, quan điểm và phong cách điều hành của Ban lãnh đạo Công ty: Ban
giám đốc Công ty rất thận trọng khi đưa ra bất cứ một quyết định nào vì vậy các
chính sách của doanh nghiệp thương được ban hành và áp dụng chậm so với nền
kinh tế Điều này làm doanh nghiệp bỏ lỡ nhiều cơ hội và do đó ảnh hưởng đến hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ cấu tổ chức: Đối với công việc kiểm soát, công ty chưa xác định rõ nhiệm
vụ, quyền hạn kiểm soát của các cấp kiểm soát trong đơn vị, như nhiệm vụ, quyền
hạn của phòng kế hoạch, phòng kế toán và lãnh đạo đơn vị trong việc kiểm soát quá
trình mua vật tư nguyên liệu và xuất vật tư, nguyên liệu cho sản xuất, kinh doanh.
Chính sách nhân sự: Công ty chưa xây dựng một quy định và tiêu chuẩn chung
về tuyển dụng, sử dụng, cũng như chế độ đãi ngộ đối với cán bộ công nhân viên;
chưa xây dựng quy định về chế độ thưởng, phạt trong sản xuất. Ý thức của người
lao động trong hoạt động sản xuất chưa cao: người lao động chỉ trú trọng đến năng
suất lao động mà chưa chú ý đến tiết kiệm NVL và bảo vệ tài sản….
Công tác kế hoạch, dự toán: không lường trước hết sự điều chỉnh của thị trường
trong tương lai nên đã có những quyết định gây ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất
kinh doanh. Bên cạnh đó, Công ty cũng chưa cập nhật thường xuyên những thay đổi
của môi trường kiểm soát bên ngoài (Luật và các văn bản pháp luật có liên quan đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty) dẫn đến việc áp dụng chậm những
chính sách thay đổi của nhà nước điều này làm ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất
lỗi phần mềm khiến cho các cân điện tử bị sai lệch so với định mức quy định; ý thức
của người lao động chưa cao trong quá trình bảo quản NVL và sản xuất gây lãng
phí (bảo quản NVL trong kho không đúng yêu cầu gây han rỉ, hỏng hóc, cắt nhầm
vii
kích cỡ các loại sắt thép, hàn sai quy cách, không tận dụng những phế phẩm trong
sản xuất…)
Hai là, Công tác kiểm soát chi phí lương và các khoản trích theo lương: Công
ty chưa có một quy chế hợp lý trong khâu tuyển dụng lao động, hệ thống chỉ tiêu
đánh giá chất lượng lao động cũng như các chính sách lương, thưởng rõ ràng. Ở
Công ty hiện đang tồn tại cùng một vị trí làm việc nhưng mức lương hưởng là khác
nhau. Vì vậy, trong chừng mực nhất định sẽ hạn chế sự nhiệt tình của người lao
động. Bên cạnh đó, do đặc thù là Công ty Cổ phần ngoài quốc doanh nên mảng
nhân sự trọng yếu trong Công ty vẫn thiên về những người có mối quan hệ mật thiết
với hội đồng quản trị. Điều này dẫn đến sự không khách quan trong việc xử lý
những sai phạm, ảnh hưởng tới tâm lý của người lao động.
Ba là, Công tác kiểm soát chi phí sử dụng máy thi công, chi phí chung : Vật
tư, dụng cụ mua về phục vụ cho máy thi công hay sản xuất chung ở xưởng được bảo
quản chưa đảm bảo gây hỏng hóc, thất thoát khi có nhu cầu sử dụng. Việc thực hiện
luân chuyển vật tư, dụng cụ giữa các bộ phận nhiều khi thực hiện tắt, không thông
báo với người có trách nhiệm, vì vậy, mà việc kiểm soát gặp nhiều khó khăn.
Bốn là, Công tác kiểm soát chi phí quản lý, chi phí bằng tiền khác: Dù đã có
kế hoạch và dự toán ngân sách cho những chi phí trên nhưng do biến động thị
trường, sự thay đổi chính sách của nhà nước làm cho dự toán chi phí sai khác nhiều
so với thực tế. Tình hình vay vốn ngân hàng 2 năm trở lại đây gặp nhiều khó khăn
do chính sách tín dụng của nhà nước, Công ty phải huy động nguồn vốn cá nhân để
đảm bảo yêu cầu sản xuất kinh doanh. Chi phí lãi tiền vay cá nhân khó kiểm soát
gây ra sự sai lệch so với dự toán chi phí, ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh. Chi phí
được cập nhật thường xuyên những thay đổi của môi trường kiểm soát bên ngoài
(Luật và các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty) để Công ty áp dụng kịp thời chính sách thay đổi của nhà nước.
ix
Sáu là định kỳ tổ chức các buổi học về an toàn lao động, văn hóa doanh
nghiệp cho CBCNV trong Công ty để nâng cao ý thức của người lao động trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán :
Một là, hoàn thiện hệ thống chứng từ kế toán: Việc tổ chức luân chuyển và kiểm soát
chứng từ, phải được thực hiện qua các cấp: Từ bộ phận có nhu cầu đến cấp bộ phận quản
lý trực tiếp, bộ phận kế toán và cuối cùng là kiểm soát và phê duyệt của lãnh đạo Công ty.
Kế toán cần có sự kiểm tra thường xuyên theo định kỳ ngắn 5 ngày hoặc 7 ngày bằng cách
in ra các bảng kê chứng từ kèm theo chứng từ gốc, giao cho kế toán viên phụ trách các
phần hành kế toán có liên quan kiểm tra chi tiết. Ngoài ra, một số khía cạnh khác của
kiểm soát kế toán đó là kiểm soát về vật chất, như kiểm kê vật tư, NVL, kiểm kê tài
sản, giám sát việc nhập, xuất kho NVL...Kế toán thực hiện tốt trách nhiệm kiểm tra,
kiểm soát hồ sơ tài liệu kế toán và kiểm soát vật chất là hoạt động kiểm soát thực sự
hữu hiệu.
Hai là, hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán, báo cáo tài chính: Hệ thống tài khoản
kế toán đầy đủ, chi tiết sẽ là cơ sở cho việc phản ánh, phân loại các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh một cách cụ thể, rõ ràng, đảm bảo tính chính xác trong việc ghi chép và cung cấp
thông tin cho nhà quản lý, việc lập Bảng cân đối tài khoản cũng là một cách kiểm soát số
liệu ghi chép có đúng hay không. Ngoài ra, sơ đồ kế toán rõ ràng, cụ thể rất có ích trong
việc chống lại những sai sót trong hạch toán Báo cáo tài chính cung cấp cho lãnh đạo
đơn vị những thông tin cơ bản cho việc ra các quyết định quản lý và những người
quyền ký duyệt.
Kiểm soát việc nhận tiền hoa hồng không được phép từ nhà cung cấp: Để kiểm
soát nhân viên mua hàng có thể chọn nhà cung cấp mà không bán hàng hóa phù hợp
nhất hoặc ở mức giá thấp nhất vì nhân viên này nhận tiền hoa hồng không được
phép của nhà cung cấp, Công ty nên áp dụng cách thức đòi hỏi ít nhất ba báo giá từ
ba nhà cung cấp độc lập mỗi khi mua hàng hoặc với mỗi khoản mua hàng trên một
mức nào đó. Công ty cũng nên hoán đổi vị trí các nhân viên mua hàng để tránh tình
trạng một người có quan hệ với một số nhà cung cấp nhất định trong một thời gian
xi
dài. Công ty cũng có những biện pháp kỷ luật chặt chẽ khi phát hiện nhân viên thu
mua nhận tiền hoa hồng không được phép từ nhà cung cấp.
Ngăn chặn hóa đơn đúp hoặc hóa đơn giả do nhà cung cấp phát hành: Khi công
ty nhận được hoá đơn của nhà cung cấp, tất cả các hoá đơn nên được đánh số theo
thứ tự để việc sau đó việc kiểm tra về tính liên tục của các số hoá đơn có thể giúp
xác định việc tất cả các hóa đơn nhận được đã được hạch toán. Một biện pháp kiểm
soát tốt cũng bao gồm việc đóng dấu lên hoá đơn để ghi rõ số tham chiếu của đơn
đặt hàng và biên bản nhận hàng, mã tài khoản, nếu phù hợp, và tên viết tắt của nhân
viên thực hiện việc kiểm tra này.
Thanh toán mua hàng chính xác: Để ngăn ngừa và kiểm soát khi thanh toán
bằng séc, uỷ nhiệm chi có thể có thanh toán nhầm nhà cung cấp, hoặc với chữ ký
được uỷ quyền không đúng, hoặc đề xuất thanh toán các khoản giả mạo hoặc cho
người giả mạo hoặc hoá đơn bị thanh toán hai lần liền. Phòng kế toán, hoặc đối với
một số công ty là bộ phận công nợ phải trả của phòng kế toán, nên lưu giữ một danh
sách các ngày đến hạn thanh toán. Khi đến hạn, kế toán phải trình không chỉ hoá
đơn mà cả đơn đặt hàng và biên bản nhận hàng cho người có thẩm quyền ký duyệt
thanh toán. Phòng mua hàng nên có trách nhiệm thông báo cho phòng kế toán về bất
kỳ thay đổi gì liên quan đến việc mua hàng mà có thể dẫn đến thay đổi thanh toán,
phòng kế toán đã lập, căn cứ vào hợp đồng lao động, bảng chấm công, chất lượng
công tác, quy định chính sách về tiền lương để kiểm soát bảng thanh toán lương
trước khi chuyển lên giám đốc duyệt. Thủ quỹ tiến hành trả lương cho cán bộ công
nhân viên.
Thứ ba, hoàn thiện phần hành kiểm soát chi phí sử dụng máy thi công và chi phí
chung : Công ty cần tách biệt chức năng thực hiện nghiệp vụ với chức năng kế toán
để tránh tình trạng sai lệch thông tin. Vật tư, hàng hóa mua về phục vụ cho máy thi
công hay sản xuất chung ở xưởng phải được bảo vệ thông qua hệ thống kho bãi, đảm
bảo thủ tục kiểm soát và được bảo quản an toàn; đồng thời sổ sách kế toán phải phản
ánh trung thực, đầy đủ giữa thực tế và số liệu ghi chép trên sổ sách, đảm bảo chức
năng kiểm soát trên các phương diện, cụ thể là bảo vệ tài sản, ngăn ngừa việc mất mát
xiii
tài sản hoặc sử dụng không đúng mục đích gây lãng phí, theo dõi sự dịch chuyển của
tài sản giữa các bộ phận trong tổ chức; việc so sánh giữa sổ sách kế toán và tài sản
hiện có trong thực tế phải được thực hiện thường xuyên và định kỳ, khi có chênh
lệch cần phải được điều tra và xem xét nguyên nhân, những điểm còn tồn tại trong
thủ tục kiểm soát tài sản để có biện pháp khắc phục.
Công ty thường xuyên tổ chức các lớp học về an toàn lao động, tạo điều kiện
cho người lao động tham gia các khóa học bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao tay nghề.
Thứ tư, hoàn thiện phần hành kiểm soát chi phí quản lý và chi phí bằng tiền khá : Các
khoản chi phí dùng cho bộ phận quản lý công ty cần thực hiện khoán định mức sử dụng cho
từng bộ phận, theo nguyên tắc bộ phận nào tính chất công việc cần sử dụng nhiều sẽ có
mức khoán cao hơn. Công ty chủ động tìm thêm nguồn vốn vay tại các ngân hàng, một
phần có thể kiểm soát được lãi vay tài chính một phần chủ động nguồn vốn lưu động trong
khoảng thời gian xác định. Đối với các khoản chi khác (chi hoạt động tình nghĩa),
công ty có quy định rõ ràng địa bàn cũng như phần kinh phí tham gia cho hoạt động.