ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ PHẠM Ý DUYÊN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TẠI TỔ CHỨC TẦM NHÌN THẾ GIỚI VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Đà Nẵng - 2019
Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Ngƣời hƣớng dẫn KH: PGS.TS. HOÀNG TÙNG
Phản biện 1: PGS.TS. TRẦN ĐÌNH KHÔI NGUYÊN
Phản biện 2: TS. NGUYỄN THÀNH CƯỜNG
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
vào ngày 24 tháng 12 năm 2019
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
2
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: thực tiễn về công tác KSNB với
trường hợp nghiên cứu điển hình minh họa tại tổ chức TNTGVN.
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: 37 Chương trình vùng (AP) thuộc tổ chức
TNTGVN.
Thời gian: dữ liệu thu thập năm tài chính FY2016 đến
tháng 6 FY2018 (1/10/2015 đến 30/6/2018).
Nội dung: công tác KSNB được nghiên cứu qua 3 thành
phần gồm: Môi trường kiểm soát; Hệ thống kế toán, Quy trình và
thủ tục kiểm soát.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Thu thập dữ liệu:
+ Dữ liệu thứ cấp:
+ Dữ liệu sơ cấp:
Watkins, 2008). Các kiểm toán viên của các tổ chức phi lợi nhuận
Mỹ đã thông qua chuẩn mực SAS No. 112 Communicating Internal
Control Matters Identified in an Audit năm 2017 và kế tiếp là SAS
No. 115 với cùng tiêu đề vào năm 2009. Các chuẩn mực này xác
định các loại thiếu sót của KSNB, cung cấp các hướng dẫn chi tiết về
đánh giá các thiếu sót KSNB và yêu cầu kiểm toán viên giao tiếp
bằng văn bản cho quản lý và những người chịu trách nhiệm quản trị
bất kỳ thiếu sót nào được phát hiện trong một cuộc kiểm toán. Năm
2008, the Internal Revenue Service, Sở Thuế Vụ Mỹ, một cơ quan
Quản lý liên bang, cung cấp các hướng dẫn về công bố thông tin
KSNB, quản trị tổ chức và gian lận trong lĩnh vực phi lợi nhuận.
Từ nền tảng lý luận cơ bản, đã có nhiều công trình nghiên cứu
về KSNB ở các tổ chức phi lợi nhuận. Các tài liệu nghiên cứu được
nêu trên là rất quan trọng cho các nghiên cứu sau này về NGO và
KSNB. Song, theo hiểu biết của tôi thì chưa có nghiên cứu nào về
4
công tác KSNB tại một NGO cụ thể nhằm khắc phục và hoàn thiện
những hạn chế của KSNB trong đơn vị đó. Do vậy, việc nghiên cứu
về công tác KSNB tại TNTGVN là nghiên cứu đầu tiên, mới mẻ
được cho là cần thiết cả về lý luận và thực tiễn.
6. Kết cấu của đề tài
Nghiên cứu này được thực hiện theo cấu trúc gồm 4 chương:
Chương mở đầu: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 1: Lý luận chung về KSNB tại các tổ chức phi lợi
nhuận
Chương 2: Thực trạng công tác KSNB tại tổ chức
TNTGVN
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác KSNB tại
Đánh giá rủi ro:
Hoạt động kiểm soát:
6
Thông tin và trao đổi thông tin:
Hoạt động giám sát:
Theo khuôn khổ KSNB SAS 55, KSNB của một tổ chức bao
gồm ba thành phần như sau: Một trường kiểm soát, hệ thống kế toán
và các thủ tục kiểm soát. (Đường Nguyễn Hưng, 2016).
Mặc dù chuẩn mực kiểm toán SAS 55 được phục vụ cho
kiểm toán viên trong quá trình đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống
KSNB của khách hàng, khuôn khổ KSNB như trên có thể áp dụng
cho bất kỳ tổ chức nào. Do vậy, tôi chọn việc nghiên cứu chuẩn mực
này để tìm hiểu thực tế áp dụng của tổ chức và đưa ra giải pháp hoàn
thiện thiết thực cho tổ chức.
1.2. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TỔ CHỨC PHI LỢI NHUẬN
(NPO) ẢNH HƢỞNG ĐẾN KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.2.1. Sự cần thiết của kiểm soát nội bộ trong các tổ chức
phi chính phủ phi lợi nhuận
KSNB hữu hiệu giúp cho các tổ chức phi lợi nhuận thực hiện
có hiệu quả các hoạt động liên quan đến nhiệm vụ sứ mệnh và trách
nhiệm ủy thác của nó.
Trong những năm gần đây, với sự hạn chế về tài chính, kêu
gọi trách nhiệm giải trình và phương tiện truyền thông bùng nổ đã
tạo ra nhu cầu tăng cường kiểm soát và đo lường hiệu quả trong lĩnh
vực phát triển cộng đồng này. Các NGO hiện đang chịu áp lực phải
tăng cường giám sát, đánh giá các chỉ số về đầu ra, kết quả và tác
động.
Bongani (2013) báo cáo rằng KSNB trong các tổ chức là rất
Tất cả các tổ chức đều dễ bị đe dọa bởi hành vi gian lận và
tham nhũng. Nguy cơ mất tài chính tồn tại ngay cả ở các tổ chức từ
thiện, nơi nhiệm vụ của nó là làm điều tốt và nhân viên thường tự
hào về giá trị đạo đức mạnh mẽ của mình.
8
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TỔ
CHỨC TẦM NHÌN THẾ GIỚI VIỆT NAM
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TẦM NHÌN THẾ GIỚI VIỆT NAM
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
TNTGVN là một tổ chức nhân đạo phi lợi nhuận hoạt động
thông qua các chương trình phát triển và cứu trợ khẩn cấp nhằm cải
thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng, đặc biệt là trợ giúp trẻ
em, người nghèo và người gặp hoàn cảnh khó khăn. TNTG Quốc Tế
(TNTGQT) hoạt động tại Việt Nam từ năm 1990 với văn phòng
quốc gia tại Hà Nội.
Tầm nhìn:
Sứ mệnh:
Giá trị cốt lõi:
Nguồn lực tài chính để TNTG thực hiện sứ mệnh:
Cơ chế để thực hiện sứ mệnh:
Ƣu tiên chiến lƣợc mà tổ chức muốn đạt đƣợc đến năm
2030:
2.1.2 Lĩnh vực hoạt động của chƣơng trình vùng
Mỗi một AP được thiết kế từ 5 đến 20 năm để triển khai hoạt
động trên một huyện (từ 5 đến 7 xã được lựa chọn). Ngân sách hằng
năm được cam kết từ văn phòng tài trợ cho mỗi AP và kế hoạch năm
(POA) được lập dựa trên khung logic (Logframe) phù hợp nhu cầu
thuật thì có các Quản lý bộ phận kỹ thuật: Dinh Dưỡng, Bảo Vệ Trẻ
em, Sinh Kế , Bảo Trợ Trẻ em & Sự tham gia cộng đồng.
Mỗi một AP thường sẽ có 8 nhân viên, đứng đầu sẽ là Trưởng
Chương trình. Dưới Trưởng chương trình có 2 từ 4 nhân viên hoạt
động. Mỗi nhân viên hoạt động có thể phụ trách từ 1 đến 3 xã trong
vùng dự án chịu trách nhiệm triển khai, lập kế hoạch, thực hiện hoạt
động, đánh giá, giám sát hoạt động các xã mình phụ trách. Ngoài ra,
còn có một Điều phối viên AP, một nhân viên phụ trách hoạt động
Bảo trợ và một Kế toán. Thông thường mỗi một cụm từ 7-8 AP sẽ
thành một vùng dưới sự quản lý và giám sát về mặt hoạt động của
Quản lý vùng.
2.2. THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI TẦM NHÌN
THẾ GIỚI
2.2.1. Môi trƣờng kiểm soát
Triết lý và đặc trưng hoạt động:
Sứ mệnh của TNTGVN liên quan đến việc sử dụng những
khoản đóng góp cho các AP. Hơn nữa, TNTGVN cam kết duy trì các
10
tiêu chuẩn cao nhất về sứ mệnh phục vụ và trách nhiệm giải trình.
Khái niệm về trách nhiệm giải trình là phần cốt lõi trong các Giá Trị
Cơ Bản của TNTGVN.
Thái độ, nhận thức và điều hành của mọi nhân viên trong tổ
chức chịu ảnh hưởng phần lớn bởi thái độ, nhận thức và hành động
của BQL cấp cao thông việc tuân thủ các chính sách, quy định của tổ
chức và quy định của pháp luật nhà nước Việt Nam. Như vậy, việc
điều hành tại AP được vận hành và thiết kế theo quy định, hướng dẫn
của TNTGVN.
TNTGVN là tổ chức phát triển cộng đồng, mỗi một hoạt
giá trị của tổ chức.
Trách nhiệm của Ban quản lý đối với công tác kiểm soát
nội bộ
Ban quản lý TNTGVN có trách nhiệm thiết lập công tác
KSNB phù hợp tại văn phòng Quốc Gia và tại các AP.
Giám đốc Tài chính phải thông báo với Giám đốc quốc gia về
những thiếu sót của hệ thống nội dẫn đến rủi ro về nguồn tài trợ và
tài sản của tổ chức. Họ cũng phải tuân thủ các chính sách cũng như
hệ thống pháp luật của Việt Nam.
Ban Kiểm toán nội bộ TNTGVN hoặc Ban Kiểm toán Toàn
cầu của TNTG thực hiện kiểm toán mỗi AP, phòng ban tại VPQG
bất cứ lúc nào, thường thì hai năm tài chính một lần đối với một AP
vá ít nhất dự án được kiểm toán một lần trong suốt thời gian hoạt
động.
Theo kết quả phỏng vấn, các phát hiện của kiểm toán được
thông báo với toàn bộ nhân viên AP nhưng hầu hết các AP chưa chia
sẻ cho mạng lưới đối tác được biết để tránh những sai sót cũng như
12
rủi ro trong khi thực hiện hoạt động.
2.2.2 Hệ thống kế toán của tổ chức tầm nhìn thế giới
Giới thiệu chung về hệ thống kế toán của tổ chức TNTGVN:
Trách nhiệm của Giám đốc quốc gia và Giám đốc tài chính,
Trưởng AP và kế toán AP:
Giám đốc quốc gia và Giám đốc tài chính đồng chịu trách
nhiệm cuối cùng đối với vấn đề trách nhiệm giải trình về tài chính tổ
chức.
Giám đốc tài chính có khả năng liên hệ chặt chẽ, hiểu và theo
dõi quá trình hoạt động của các dự án. Báo cáo kế toán được thống
mới.
Đối với các AP tại mỗi huyện, mỗi AP phải mở riêng một tài
khoản ngân hàng và các chứng từ sổ sách kế toán của dự án tách ra
khỏi sổ sách của văn phòng quốc gia.
Trước ngày 15 của hàng tháng, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu
thực tế của AP và dựa trên POA, AP phải đệ trình bằng email một
bản ủy quyền thanh toán (PPA) đã được phê duyệt yêu cầu nguồn
ngân sách cho các hoạt động đến văn phòng quốc gia. Văn phòng
quốc gia sẽ thực hiện việc chuyển tiền cho dự án sau khi nhận được
ngân sách từ TNGT Toàn Cầu, ngày có hiệu lực là ngày mùng 5 của
tháng hiện tại.
Khi triển khai hoạt động dự án, nhân viên dự án phải lập kế
hoạch chi tiết cho từng hoạt động trong POA và được phê duyệt
cũng như tuân thủ theo hướng dẫn tài chính của TNTGVN. Khi
nghiệp vụ chi tiêu hoạt động diễn ra như tạm ứng hoặc thanh toán
sau khi hoàn tất hoạt động (tối đa là 7 ngày), nhân viên dự án sẽ đệ
trình yêu cầu tạm ứng hoặc một bản báo cáo chi phí với các chứng
14
từ hỗ trợ cho kế toán dự án.
Khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kế toán AP sẽ kiểm tra sự
hợp lý, đúng đắn, chính xác của chứng từ, phản ánh các nghiệp vụ
kinh tế theo hệ thống tài khoản của TNTG vào một công cụ Excel có
tên là Voucher Interface ngay khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Và
khoản thanh toán được thực hiện cho người thụ hưởng sau khi có sự
phê duyệt đúng thẩm quyền phê duyệt.
Tất cả các nghiệp kinh tế trong tháng của AP từ Voucher
Interface được kế toán AP chuyển cho Ban Tài chính Quốc Gia vào
đầu tháng sau (hạn cuối là ngày 5), cùng với sổ chi tiết ngân hàng,
Kiểm toán nội bộ TNTGVN hoặc Ban kiểm toán nội bộ TNTG Toàn
Cầu đã thực hiện rất tốt vai trò trách nhiệm của mình trong việc
kiểm toán mỗi AP, phòng ban tại VPQG bất cứ lúc nào, thường thì
hai năm tài chính một lần đối với một AP vá ít nhất dự án được kiểm
toán một lần trong suốt thời gian hoạt động.
Hệ thống kế toán
Nhìn chung, hệ thống kế toán bao gồm phương pháp và các
hồ sơ để chỉ ra, tập hợp, phân loại, phân tích, ghi chép và báo cáo
các giao dịch một cách đúng đắn, kịp thời, chính xác và duy trì trách
nhiệm giải trình.
Quy trình, thủ tục kiểm soát
Nhìn chung, mọi hoạt động trong tổ chức đều tuân thủ quy
định, chính sách và hướng dẫn cũng như chính sách phân quyền.
18
Điều này cho phép tổ chức kiểm soát tốt mọi hoạt động trong tổ
chức và giúp tài sản của tổ chức được sử dụng đúng mục đích.
Quản lý tiền mặt: Quản lý số dư tài khoản ngân hàng được
thực hiện chặt chẽ tại các APs. 100 % của 37 AP đều đạt 11/12
tháng ở mức số dư cuối tháng cho phép từ FY2016 đến FY2017.
Các báo cáo kiểm toán từ FY2016 đến FY 2017 cũng không phát
hiện trường hợp nào bị sai sót trong việc đối chiếu số dư tài khoản
ngân hàng và sổ sách.
Quy trình, thủ tục đối với mua sắm, thanh toán và thẩm quyền
phê duyệt: Quy trình mua sắm, thanh toán và chính sách phân
quyền phê duyệt được thực hiện nghiêm túc tại tổ chức TNTGVN.
Theo báo cáo kiểm toán nội bộ, không có một phát hiện nào tại tổ
chức từ FY2016 cho đến 6/FY2018.
Tạm ứng: TNTGVN quy định và thực hiện nghiêm túc với
quá tải công việc cho nhân viên mua sắm và sẽ giảm cam kết làm
việc của họ cho tổ chức. Hơn nữa, khi AP đệ trình yêu cầu mua sắm
lên cho Ban Mua Sắm, việc chờ đợi lâu để được phê duyệt sẽ góp
phần làm giảm tiến độ hoạt động dự án.
Tạm ứng: Vẫn có trường hợp thanh toán muộn hơn 7 ngày sau
khi hoạt động hoàn thành đối với trường hợp tạm ứng cho đối tác.
20
CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI
BỘ TỔ CHỨC TNTGVN
3.1 HOÀN THIỆN VỀ MÔI TRƢỜNG KIỂM SOÁT
Để có bằng chứng xác đáng, kịp thời việc trì hoãn hoạt động
nằm ở hoạt động nào, xã nào, nhân viên hoạt động nào chịu trách
nhiệm và đối tác của phòng ban nào phối hợp triển khai hoạt động đó
thì kế toán phải báo cáo tiến độ tổng hợp giải ngân cho từng nhân
viên hoạt động so với kế hoạch để thúc đẩy sự chịu trách nhiệm
trước khi có báo cáo chính thức từ VPQG. Tương tự, điều phối viên
tại AP và nhân viên hoạt động cũng phải duy trì và cập nhật hệ thống
chỉ số của AP hàng tháng.
Mặc dù hệ thống lưu trữ thông tin của TNTG cho phép bất
kỳ cá nhân nào cũng tiếp cận báo cáo tài chính này. Tuy nhiên, bộ
phận kế toán của VPQG cũng nên báo cho Giám đốc hoạt động bằng
email về tình hình chi tiêu của toàn bộ tổ chức hàng tháng và cảnh
báo sớm cho Giám đốc hoạt động những AP nào chậm tiến độ.
Việc chi tiêu nhiều vào cuối năm tài chính sẽ có thể ảnh
hưởng đến chất lượng hỗ trợ như đã đề cập. Vì thế, BQL khi đo
lường kết quả chi tiêu của nhân viên hoạt động hay của AP thì cũng
đừng quá chú trọng về mức độ chi tiêu mà cần phải đánh giá chất
Kế toán AP phải cung cấp báo cáo kịp thời phục vụ cho quản
lý để thúc đẩy sự chịu trách nhiệm của nhân viên hoạt động và đối
tác về tiến độ giải ngân. Cùng một thể ấy, phòng tài chính của
VPQG cũng phải cảnh báo kịp thời tình hình hoặc chiều hướng chi
tiêu của các AP cho BQL cấp. BQL thay vì yêu cầu các AP giải
trình hàng quý về tình hình chậm tiến độ như cách làm hiện tại thì
cần phải xem xét thực hiện việc này hàng tháng.
22
Nhân viên kế toán AP cũng phải thiết kế một hướng dẫn về
quy định tài chính cho đối tác dựa trên quy định của tổ chức
TNTGVN.
3.3 Hoàn thiện quy trình, thủ tục kiểm soát
TNTGVN nên có chiến lược để chuyển đổi từ phương pháp
thanh toán thủ công sang thực hiện Internet Banking.
Tuy báo cáo lưu chuyển tiền tệ không phải là báo cáo chính
thức và không bắt buộc, kế toán AP nên theo dõi cập nhật tình hình
yêu cầu ngân sách của mỗi nhân viên hoạt động , mức độ giải ngân
bằng tiền mặt của từng nhân viên và số dư ngân hàng của từng nhân
viên trong tổng số dư ngân hàng.
TNTGVN cũng nên xem xét lại chi phí và lợi ích của việc tăng
cường kiểm soát đối với hoạt động mua sắm từ 500 USD phải qua sự
phê duyệt của ban mua sắm thay vì Trưởng chương trình như trước
đây.
Trong điều kiện này, TNTGVN nên cân nhắc tuyển thêm nhân
viên cho Ban mua sắm, nhận các tình nguyện viên, các thực tập sinh
ngắn hạn để giảm các áp lực công việc của Ban mua sắm và các nhân
viên có liên quan.
Nhân viên TNTG cũng nên chia sẻ tầm quan trọng của việc
KSNB tại TNTGVN.