Báo cáo tốt nghiệp THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LY HÔN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG - Pdf 65

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KONTUM

NGUYỄN TRẦN MINH TÂM

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LY HÔN TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU- THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG


PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KONTUM

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LY HÔN TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU- THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : CHÂU THỊ NGỌC TUYẾT
SINH VIÊN THỰC HIỆN
: NGUYỄN TRẦN MINH TÂM
LỚP
: K915LK2
MSSV
:15152380107097

MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT..................................................................................................5
DANH MỤC BẢNG- SƠ ĐỒ...........................................................................................6

3.2.2 Những nhược điểm, hạn chế trong áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân để
giải quyết án ly hôn trên địa bàn quận Hải Châu..................................................30
3.3 Những tác động của việc ly hôn đến xã hội trên địa bàn quận Hải Châu.........32
3.3.1 Những tác động tích cực của việc ly hôn đến đời sống xã hội......................32
3.3.2 Những tác động tiêu cực của việc ly hôn đến đời sống xã hội......................33
3.4 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về việc giải quyết
các vụ án ly hôn...........................................................................................................38
3.5 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện việc áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ
án ly hôn trên địa bàn quận Hải Châu.......................................................................39
3.6 Một số biện pháp xã hội nhằm giảm thiểu tình trạng ly hôn trên địa bàn quận Hải
Châu.............................................................................................................................43


KẾT LUẬN...................................................................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................48


DANH MỤC VIẾT TẮT
STT
01
02
03
04
05

Tên Viết Tắt
ADPL
BLTTDS
BLDS
TAND

là tạo cơ hội để em tiếp cận với môi trường thực tế thông qua đợt thực tập đầy ý nghĩa và
thiết thực này.
Em xin chân thành cảm ơn Chánh Án, cùng toàn thể cán bộ - nhân viên Tòa án nhân
dân quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá
trình thực tập giúp em tiếp thu được nhiều kiến thức bổ ích từ thực tế và góp phần to lớn
trong việc từng bước hoàn thiện kỹ năng, kiến thức chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp khi
bước vào nghề.
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn giáo viên hướng dẫn cô: Châu Thị Ngọc Tuyết đã
hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành báo cáo thực tập đúng thời gian quy định. Trong
quá trình thực hiện báo cáo, em còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ và động viên của
quý thầy cô, bạn bè và gia đình. Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc.
Với thời gian thực tập ngắn, trình độ và nhận thức còn nhiều hạn chế do đó sẽ còn
nhiều thiếu sót. Kính mong nhận được sự nhận xét góp ý, phê bình của quý thầy cô, để em
có điều kiện học hỏi, tiếp thu kiến thức, tìm hiểu, nghiên cứu, hoàn thiện kỹ năng nghề
nghiệp và phấn đấu hơn nữa.
Cuối cùng, em xin kính chúc Ban giám hiệu và quý thầy cô lời chúc sức khỏe, thành
đạt và hạnh phúc trong cuộc sống và công tác. Trân trọng cảm ơn.


MỜ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với những thay đổi về kinh tế - xã hội, quan hệ giữa
con người với con người trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình cũng bị tác động mạnh
mẽ. Ngành tòa án liên tục báo động về tình trạng án ly hôn tăng, đặc biệt là đối với những
cặp vợ chồng trẻ... Có thời điểm, tỷ lệ án ly hôn ở một số tòa án cấp quận, huyện chiếm tới
50 - 60% án dân sự. Điều này cho thấy mối quan hệ hôn nhân đang trở nên mong manh và
đáng lo ngại là vấn đề hậu ly hôn sẽ để lại nhiều hệ lụy cho xã hội.
Về mặt xã hội, ly hôn là hiện tượng bất bình thường. Nếu kết hôn là mặt phải của xã
hội thì ly hôn là mặt trái của xã hội, là cái chết của một tổ ấm gia đình. Hậu quả của việc ly
hôn là làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng xấu đến con cái. Ly hôn là một biện

2. Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này em tập trung nghiên cứu về thực trạng giải quyết sơ thẩm các vụ án ly
hôn và quy định của pháp luật về ly hôn, giải quyết vụ án ly hôn cụ thể tại Tòa án Nhân dân
quận Hải Châu, tìm hiểu, phân tích và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu
quả xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn tại Tòa án Nhân dân quận Hải Châu nói riêng và các
Tòa án khác trên cả nước nói chung.
3. Phương pháp nghiên cứu
Báo cáo sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác – Lênin về duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgic; phương pháp kết hợp giữa lý luận và
thực tiễn; phương pháp phân tích tổng hợp thống kê, so sánh, điều tra, khảo sát.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Trong Báo cáo tốt nghiệp này em lựa chọn nghiên cứu đề tài : “Thực tiễn giải quyết
án ly hôn trên địa bàn quận Hải Châu – thành phố Đà Nẵng”. Mục đích của việc nghiên
cứu đề tài này là dựa trên cơ sở các quy định của luật thực định để giải quyết việc ly hôn của
vợ chồng cho hợp lý, chính xác, đảm bảo quyền, lợi ích của các bên.Trên cơ sở đó, tìm hiểu
những quy định còn bất cập, chưa cụ thể, để từ đó có những nhận xét, kiến nghị nhằm hoàn
thiện vấn đề ly hôn theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Với mục đích trên, Báo cáo thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật trong giải quyết án ly hôn.
Với nhiệm vụ này, em sẽ trình bày; khái niệm - đặc điểm, quy trình giải quyết án ly hôn; các
căn cứ ly hôn theo quy định pháp luật Việt Nam.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về ly hôn thông qua hoạt động xét xử của Toà
án. Qua đó, đánh giá về những thành công và hạn chế của việc áp dụng pháp luật về ly hôn
để từ đó sẽ nêu lên một số những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ly hôn.
5. Bố cục đề tài
Về bố cục của Báo cáo, ngoài phần Mục lục, Lời nói đầu và Danh mục tài liệu tham
khảo thì Khóa luận này được chia làm 3Chương:
Chương 1. Tổng quan về đơn vị thực tập
Chương 2. Những vấn đề lý luận về ly hôn và giải quyết án ly hôn của Tòa án
Chương 3. Thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ ánly hôn tại Tòa án Nhân

vay kinh doanh, sinh sống, tiêu dùng cũng từ đó mà tăng theo. Từ thực tiễn trên kéo
theo các tệ nạn xã hội, và các vụ án hình sự từ nhỏ đến lớn trên địa bàn thành phố. Tòa
án các quận, huyện giải quyết các vụ án hình sự nói trên tại thành phố, và tình hình các
vụ án hình sự này xảy ra ngày một tăng lên. Trong đó, Tòa án nhân dân quận Hải Châu
có thể xem là nơi có nhiều vụ án hình sự vì đây là quận trung tâm của thành phố Đà
Nẵng.
1.1.2 Giới thiệu về Tòa án nhân dân quận Hải Châu- thành phố Đà Nẵng
Tên đơn vị: Tòa án nhân dân quận Hải Châu
Địa chỉ trụ sở: 24 Hoàng Văn Thụ, quận Hải Châu, Tp Đà Nẵng
Địa chỉ email:
Quận Hải Châu là quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng nằm sát trục giao thông
Bắc Nam và cửa ngõ ra biển Đông, với một hệ thống hạ tầng giao thông phát triển
mạnh, đồng thời, là trung tâm hành chính, thương mại, dịch vụ của thành phố, tập trung
3


đông đúc dân cư và các cơ quan, văn phòng của hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn
thành phố, quận Hải Châu có một tầm quan trọng đặc biệt trong sự phát triển của thành
phố Đà Nẵng về tất cả mọi mặt. Do đó, quận Hải Châu cũng là nơi xảy ra nhiều vụ án
hình sự trọng điểm; các tranh chấp dân sự cũng không ngừng gia tăng về số lượng và
phức tạp về tính chất.
Là cơ quan bảo vệ pháp luật được xây dựng trên địa bàn quận Hải Châu, Toà án
nhân dân quận Hải Châu đã nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị
của mình, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương,
góp phần tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển của quận Hải Châu nói riêng, thành
phố Đà Nẵng nói chung.
Về cơ cấu tổ chức: Tính đến tháng năm 2018, Toà án nhân dân quận Hải Châu có
34 cán bộ công chức và hợp đồng, trong đó có 17 Thẩm phán, 9 Thư ký, 01 chuyên
viên, 01 cán bộ công nghệ thông tin, 01 kế toán, 02 bảo vệ, 02 nhân viên tạp vụ, 01 lái
xe.

phòng dành cho Kiểm sát viên, không có phòng lưu giam, không có phòng nghị án
phải nghị án ở tại phòng họp của cơ quan. Quy mô và thiết kế công trình không tương
xứng với tính chất và nhu cầu thực tế công việc của đơn vị. Dù vậy, lãnh đạo và toàn
thể cán bộ, công chức trong đơn vị đều nỗ lực khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt các
nhiệm vụ được giao.
Bảng 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân quận Hải Châu

5


CHÁNH ÁN
Nguyễn Thị Thu Hà

PHÓ CHÁNH ÁN
Phạm Khắc Tường

CHÁNH VĂN PHÒNG
Nguyễn Thị Ngọc Thùy

THƯ KÝ
9 người

6

PHÓ CHÁNH ÁN
Phan Thị Huệ

THẨM PHÁN
17 người


Vấn đề ly hôn được quy định trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia là khác
nhau. Một số nước cấm vợ chồng ly hôn (theo Đạo thiên chúa), bởi vì theo họ quan hệ
vợ chồng bị ràng buộc thiêng liêng theo ý chúa. Một số nước thì hạn chế ly hôn bằng
cách đưa ra những điều kiện hết sức nghiêm ngặt. Cấm ly hôn hay hạn chế ly hôn đều
trái với quyền tự do dân chủ của cá nhân.
Pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính
đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những những điều kiện nhằm hạn chế
quyền tự do ly hôn. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả của hành
vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình. Nhà nước bằng pháp
luật không thể cưỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không
thể bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi
tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân đã không thể đạt
được. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ.
Điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ chồng, con cái và các thành viên trong gia đình.
Theo Lê-nin “thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “ tan rã ” những mối
liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân
chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh”. Nhưng
bên cạnh đó, ly hôn cũng có mặt hạn chế đó là sự ly tán gia đình, vợ chồng, con cái. Vì
vậy, khi giải quyết ly hôn, Toà án phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân và bản chất của quan
hệ vợ chồng và thực trạng hôn nhân với nhiều yếu tố khác để đảm bảo quyền lợi cho
các thành viên trong gia đình, lợi ích của nhà nước và của xã hội.
Như vậy, ly hôn là sự chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc
quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng.

7


2.2 CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
2.2.1 Thuận tình ly hôn

công nhận thuận tình ly hôn. Như vậy, chúng ta đã mắc lừa họ và họ sẽ đạt được mục
đích riêng như thuận tình ly hôn giả để chuyển hộ khẩu; phụ cấp người ăn theo; lấy vợ
lẽ nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với người khác.
Vì vậy, trong những trường hợp này, Toà án cần xử bác đơn xin ly hôn của đương sự,
đồng thời nghiêm khắc phê phán, giáo dục đương sự với những hành vi sai trái đó.
8


2.2.2 Ly hôn theo yêu cầu của một bên
Ly hôn theo yêu cầu của một bên (của một bên vợ hoặc một bên chồng) là
trường hợp chỉ có một trong hai vợ chồng yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Điều 56, luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng
yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn
nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm
trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng,
đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.”
Về nguyên tắc, Toà án chỉ xét xử ly hôn nếu xét thấy quan hệ vợ chồng đã ở vào
“tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
không đạt được”. Như vậy, giải quyết ly hôn trong cả hai trường hợp vợ chồng thuận
tình ly hôn hoặc do một bên vợ hoặc một bên chồng yêu cầu ly hôn đều giống nhau về
bản chất. Bản án và quyết định ly hôn của Toà án đều là việc Toà án xác nhận một cuộc
hôn nhân đã “chết”, không thể tồn tại được nữa. Trong trường hợp một bên vợ, chồng
yêu cầu ly hôn thì chỉ có một bên vợ, chồng tự nguyện và nhận thức được quan hệ hôn
nhân đã tan vỡ, còn bên kia - người chồng, vợ không muốn ly hôn vì không nhận thức
được mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng hoặc có thể nhận thức được nhưng lại xin
đoàn tụ vì động cơ nào đó.
Ngoài ra, theo khoản 2 điều 51 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
‘‘Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một
bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm
chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do vợ chồng,

án cung cấp các loại giấy tờ có liên quan đến quan hệ hôn nhân, các đương sự tự viết
vào bản tự khai. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự tự thỏa thuận, định đoạt
được các mối quan hệ trong hôn nhân thì Tòa án ra quyết định công nhận việc thỏa
thuận của họ (Theo điều 91, 92, 97, 98 BLTTDS 2015)
Trên cơ sở kết quả điều tra xác minh vụ án chủ thể áp dụng pháp luật phân tích
những tình tiết khách quan của vụ án ly hôn, làm rõ các đặc trưng pháp lý của vụ án để
tiến hành các bước tiếp theo giải quyết vụ án đó.
Hai là, lựa chọn các quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, về dân sự, về tố
tụng dân tương ứng để giải quyết vụ án ly hôn.
Nói chung việc lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng pháp luật được tiến hành
theo ý chí đơn phương của Tòa án có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ
thể bị áp dụng, điều này được thể hiện rất rõ đối với việc áp dụng pháp luật trong giải
quyết án hình sự và giải quyết vi phạm hành chính, nhưng đối với việc giải quyết án ly
hôn về cơ bản cũng như vậy, song có một số trường hợp có thể trong khi giải quyết vụ
án các đương sự có thể thực hiện quyền của mình theo pháp luật quy định sẽ thay đổi
quan điểm, nên dẫn đến vụ án không phải tiếp tục điều tra, xét xử mà có thể ra một
trong các quyết định theo hướng khác phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể bị áp dụng
pháp luật, nhưng lựa chọn các quy phạm pháp luật vẫn là do cơ quan tòa án.
Ba là, làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của quy phạm pháp luật hôn nhân gia
đình và các quy phạm pháp luật khác khi đưa ra áp dụng đối với vụ án ly hôn.
Đây là quá trình vận dụng tổng hợp các tri thức chính trị, kinh tế, xã hội, đặc biệt
là các tri thức pháp lý. Để làm sáng tỏ tư tưởng nội dung các quy phạm liên quan đến
lĩnh vực ly hôn. Giai đoạn này của quá trình áp dụng pháp luật nhằm nhận thức đúng
đắn nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật đưa ra áp dụng, để giải quyết án ly hôn.
Việc áp dụng pháp luật phải thông qua người có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật.
Bốn là, ra quyết định áp dụng pháp luật hoặc ra một bản án để giải quyết vụ án ly
hôn.
10



b. Trình tự thủ tục giải quyết vụ án ly hôn tại Tòa án
Hoạt động giải quyết án ly hôn cũng rất đa dạng và phong phú, nhưng quy về các
nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, trong thụ lý, điều tra, đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án:
 Thụ lý vụ án:
Cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định có quyền khời kiện
về việc hôn nhân và gia đình, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Điều 28, 29

11


của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định những loại việc mà Tòa án thụ lý giải quyết vụ án
khi có đơn khởi kiện thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình gồm:
- Ly hôn, tranh chấp về con, chia tài sản khi ly hôn.
- Tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
- Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc các định con cho cha mẹ.
- Tranh chấp về cấp dưỡng.
Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. mang thai hộ vì mục
đích nhận đạo.
Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như
vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật.
- Yêu cầu hủy việc kết hôn trái phép.
- Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
- Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận của cha mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi
con sau khi ly hôn hoặc công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly
hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Yêu cầu hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền
thăm nom con sau ly hôn.
Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

định: “Nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, Tòa án báo ngay cho
nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí, trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nộp đơn …
Tòa án thụ lý vụ án kể từ ngày nguyên đơn nộp tiền”, nhưng đối với Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 tại điều 191 quy định: Tòa án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự
nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Khi nhận
đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận
đơn cho người khởi kiện. Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức trực tuyến
thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện Tòa án phải
gửi thông báo nhận đơn cho người khời kiện. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận đơn khởi kiện Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn
khởi kiện. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được phân công, Thẩm
phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:
- Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.
Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục
rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định của pháp
luật.
- Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi
kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác.
- Trả lại đơn cho người khởi kiện, nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án.
Việc trả lại đơn thì được phân ra trong các trường hợp:
- “Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật hoặc
không có năng lực hành vi tố tụng dân sự.
- Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trừ
trường hợp Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con hay mức cấp
dưỡng …
- Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
- Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án …


ghi xong, biên bản ghi lời khai phải được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký
tên hoặc điểm chỉ. Đương sự có quyền sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai, ký
tên hoặc điểm chỉ xác nhận và có dấu của Tòa án, nếu nhiều bản thì phải có dấu giáp
lai. Trường hợp biên bản ghi lời khai ở ngoài trụ sở Tòa án phải có người làm chứng
hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ
chức nơi lập biên bản. Ngoài việc lấy lời khai của đương sự, khi xét thấy cần thiết
Thẩm phán tiến hành lấy lời khai, nếu đương sự thuộc trường hợp năng lực hành vi dân
sự của họ bị hạn chế hoặc các trường hợp khác do pháp luật quy định thì phải được tiến
hành lấy lời khai với sự có mặt người đại diện hợp pháp của đương sự đó.

14


“Đối với vụ án ly hôn, khi có tranh chấp về con, nếu con từ 7 tuổi trở lên, khi giải
quyết cần phải xem xét nguyện vọng của con.”
Từ kết quả lấy lời khai nếu thấy có mâu thuẫn thì tiến hành cho đối chất giữa các
đương sự với nhau nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mâu thuẫn, việc đối chất phải được
ghi lại thành biên bản có chữ ký của những người tham gia đối chất.
- Việc thu thập chứng cứ trong vụ án ly hôn có những đặc trưng riêng. Thư ký
cần chú ý về những đặc trưng này để hỗ trợ Thẩm phán trong việc thực hiện các biện
pháp thu thập chứng cứ để xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng. Các giấy tờ cần
giao nộp trong vụ án ly hôn thường là:
+ Bản sao giấy đăng ký kết hôn;
+ Bản sao giấy khai sinh của các con (nếu có con);
+ Bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc sổ đăng ký hộ khẩu thường trú (xuất
trình cùng bản chính);
+ Các chứng cứ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có yêu cầu chia tài
sản chung của vợ chồng), v..v.
Các giấy tờ tài liệu nói trên phải là bản chính hoặc bản sao có chứng thực. Nếu là
giấy tờ, tài liệu từ nước ngoài gửi về thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự.

c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu
tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt
hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;
d) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác
xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ,
tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;
đ) Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng
khác theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác
theo quy định của Bộ luật này thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của
bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
e) Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án,
quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết;
g) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này mà Tòa án đã
thụ lý;
h) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ được áp dụng theo điều 218 Bộ luật Tố tụng
dân sự.
- Trong trường hợp tạm đình chỉ vụ án áp dụng Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân
sự trong các trường hợp sau:
a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia,
tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;
b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà
chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;
c) Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế;
d) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật
quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án;
đ) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi

diện của đương sự biết về địa điểm, thời gian, nội dụng các vấn đề cần hòa giải. Thành
phần hòa giải cũng được pháp luật quy định gồm: Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải,
thư ký ghi nội dung biên bản hòa giải. Trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự
vắng mặt trong phiên hòa giải, nhưng các đương sự khác đồng ý tiến hành hòa giải và
việc hòa giải không ảnh hướng đến quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì
Thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt, nếu các đương sự đề nghị
hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn
phiên hòa giải.
Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định
của pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền lợi và
nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý nếu vụ án phải xét xử, để họ tự thỏa
thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

17


Sau đó phân tích đánh giá, làm rõ các tình tiết trong vụ án, đồng thời nắm được
tâm tư nguyện vọng của các bên đương sự rồi tiến hành hòa giải.
Ở đây việc hòa giải đòi hỏi Thẩm phán phải nắm vững kiến thức pháp luật, có sự
hiểu biết sâu rộng và có kinh nghiệm, cần phải kiên trì phân tích, động viên các bên
hướng đến gải quyết những tranh chấp thì việc hòa giải mới đạt được kết quả. Khi các
bên đương sự đã thỏa thuận được với nhau về các vấn đề tranh chấp, nội dung hòa giải
phải được ghi lại thành biên bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên đương sự, của
thư ký và chủ tọa phiên tòa theo quy định tại điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự, hết 07
ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì
Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân
công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định tại
Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự.
“Hiệu lực của quyết định công nhận hòa giải thành có hiệu lực pháp lý ngay sau
khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng có thề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status