Thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị trên địa bàn quận hải châu, thành phố đà nẵng - Pdf 56

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TIÊU PHI LỰC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TIÊU PHI LỰC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. HỒ TẤN SÁNG

HÀ NỘI, năm 2019


KẾT LUẬN............................................................................................................ 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CSC

: Chính sách công

QLNN

: Quản lý nhà nước

UBND

: Ủy ban nhân dân

TTXD

: Trật tự xây dựng

TTVH

: Trật tự vỉa hè

VSMT

: Vệ sinh môi trường



độ phát triển đô thị diễn ra nhanh chóng. Việt Nam hiện nay, đã có khoảng 745 đô
thị, trong đó, có gần 110 thành phố, thị xã. Việc xây dựng và phát triển các đô thị
này đòi hỏi phải được thực hiện theo đúng quy hoạch phê duyệt, và đúng với tiêu

1


chuẩn cho phép đối với từng khu vực. Tuy nhiên trên thực tế việc vi phạm TTĐT,
không còn là chuyện xa lạ của thế giới trong thời gian qua. Tình hình vi phạm
TTĐT đã và đang là một vấn đề nóng trong thực tế của đô thị nước ta hiện nay;
dường như đây chính là mặt trái của đô thị hoá với tốc độ quá nhanh trong khi
QLNN về đô thị lại chưa đáp ứng kịp. Hiện tượng xây dựng sai phép không đúng
với nội dung giấy phép xảy ra ở nhiều nơi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,thành
phố Hải Phòng, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh…có thể nhận thấy các
công trình vi phạm pháp luật về trật tự xây dựng ngày càng nhiều và đa dạng hơn.
Đồng thời các vi phạm về TTVH, VSMT, PCCC, về cư trú ... cũng gia tăng và diễn
biến phức tạp. Điều này đòi hỏi chính sách quản lý TTĐT phải được quan tâm một
cách nghiêm túc.
Thực tế cho thấy, những mặt tích cực và tiêu cực của sự phát triển đô thị nước
ta trong thời gian qua đã tạo ra sức ép khá lớn về nhiều mặt, có nguy cơ của sự phát
triển không bền vững. Quá trình phát triển đô thị đã, đang nảy sinh nhiều vấn đề lớn
như: gia tăng dân số cơ học ở các đô thị lớn; tình trạng lấn, chiếm đất xây dựng nhà
trái phép vi phạm các chỉ giới, sai với quy hoạch ngày càng nghiêm trọng; sự bùng
nổ các phương tiện cơ giới gây ách tắc giao thông, nhiều tuyến đường đã trở thành
nơi buôn bán hàng rong không còn chỗ cho người đi bộ; ý thức giữ gìn vệ sinh môi
trường của người dân không được nâng lên...Bên cạnh đó,quá trình phát triển đô thị
cũng chính là nguyên nhân làm giảm chất lượng môi trường, suy thoái nguồn tài
nguyên thiên nhiên và mất cân bằng sinh thái; đây chính là thách thức của công tác
quản lý nhà nước về TTĐT tại các thành phố ở nước ta.

hỏi bức thiết đang đặt ra.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, đã có nhiều giáo trình, công trình khoa học, các nghiên
cứu, hội thảo, bài viết về QLNN về TTXD đô thị, đáng chú ý như:
- Đỗ Hoàng Toàn (2005), “Giáo trình Quản lý Nhà nước về kinh tế”. Tác giả

đã nêu lên vai trò của Nhà nước, nêu lên hệ thống các cơ quan quản lý các lĩnh vực
xã hội như: cổ động, tuyên truyền, cưỡng chế, và các cơ quan quản lý khoa học kỹ
thuật, tài chính...Nhà nước phải định hướng, đảm bảo xã hội phát triển, nhân dân có
quyền đạt được những nguyên vọng chính đáng của chính mình. Tác giả cũng đã
nêu lên khái niệm QLNN về kinh tế, thực tế của QLNN về kinh tế là việc tổ chức,

3


sử dụng phải có hiệu quả các nguồn lực trong nước và ngoài nước mà Nhà nước có
khả năng tác động vì mục tiêu xây dựng và phát triển.
- Lê Bảo (2016),“Bài giảng Quản lý Nhà nước về kinh tế”.Tại chương 1, tác

giả đã nêu những vấn đề lý luận chung của QLNN về kinh tế. Nêu lên vai trò và sự
cần thiết của QLNN về kinh tế. Chức năng, nhiệm vụ của QLNN về kinh tế, đồng
thời nêu phương pháp QLNN và các công cụ của QLNN.Tại chương 4, tác giả cũng
đã nêu nội dung QLNN về hệ thống quản lý, hệ thống hạ tầng kinh tế-xã hội. Đó là
xây dựng hệ thống luật pháp, khai thác và quản lý hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội.
Quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội là một nhiệm vụ quan trọng
của mọi cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương.
- Nguyễn Đình Hương (2003), “Quản lý Đô thị”, Giáo trình gồm 10 chương,

mỗi chương tương ứng với một vấn đề đặt ra cho công tác quản lý đô thị. Giáo trình đã
làm rõ những quan niệm về đô thị và quản lý đô thị, chia loại đô thị và từng giai đoạn

- Luận văn thạc sĩ "Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị

từ thực tiễn Q.Cẩm Lệ, TP.Đà Nẵng” của tác giả Trịnh Văn Quang (2016). Các vấn
đề về xử phạt vi phạm hành chính đã được tác giả đã hệ thống hóa.; phân tích toàn
diện đặc điểm về tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực TTĐT từ thực trạng
Q.Cẩm Lệ. Đánh giá về những kết quả đạt được trong hoạt động xử phạt vi phạm
hành chính trên lĩnh vực TTĐT từ thực tiễn của Q.Cẩm Lệ. Tác giả đã đi sâu phân
tích kết quả và tìm ra những hạn chế, nguyên nhân. Đề xuất, kiến nghị các giải pháp
nâng cao hiệu lực - hiệu quả hoạt động xử phạt trong vi phạm hành chính trong lĩnh
vực TTĐT từ thực tiễn Q.Cẩm Lệ trong thời gian đến. Ngoài ra còn nhiều đề tài
nghiên cứu quản lý nhà nước trên các lĩnh vực như giao thông đô thị, đất đai,an sinh
xã hội, môi trường và tài nguyên,quy hoạch đô thị...
Có thể nhận thấy, mặc dù đã có những công trình trên đã đề cập một số khía
cạnh có liên quan, nhưng việc thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị trên địa
bàn quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng – đặc biệt chuyên sâu về 3 lĩnh vực thực
hiện chính sách quản lý về trật tự xây dựng; quản lý về vệ sinh môi trường và quản
lý về trật tự vỉa hè, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích

Góp phần nêu lên cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất một số giải pháp nâng
cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị nói chung và
quản lý trên các lĩnh vực trật tự xây dựng, trật tự vỉa hè, vệ sinh môi trường nói
riêng ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

5


3.2. Nhiệm vụ:
- Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách quản lý trật tự

Thu thập và xử lý thông tin thứ cấp (tư liệu, số liệu có sẵn từ các cơ quan Nhà

6


nước, các sở, các phòng ban trong quận, các thư viện; bản đồ, các văn bản pháp luật,
bản đồ hiện trạng sử dụng đất của quận, phường; báo cáo quy hoạch sử dụng đất của
quận; tình hình phân bố dân cư, lao động trên địa bàn quận; hệ thống các bảng biểu
thống kê, và các văn bản pháp luật có liên quan đến QLNN về trật tự xây dựng).

Số liệu được thu thập, tổng hợp được trình bày theo kiểu văn xuôi để thuận lợi
cho việc phân tích và đánh giá. Các dữ liệu và thông tin xử lý trên phần mềm
Excel…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Có thể là khung lý thuyết về thực hiện chính sách quản lý

trật tự đô thị nói chung và quản lý trên các lĩnh vực trật tự xây dựng, trật tự vỉa hè,
vệ sinh môi trường nói riêng.
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng lý
luận để phân tích, đánh giá kết quả thực hiện chính sách và định hướng cho việc giải
quyết trong quá trình thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị. Thực trạng và các
kiến nghị có thể được vận dụng vào việc thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị
ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Cũng là cơ sở để các địa phương tham khảo
nhằm nâng cao chất lượng thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị hiện nay.
Đây cũng là tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên cứu củng cố, hoàn thiện hệ
thống chính sách quản lý TTĐT đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền đô thị tại
TP. Đà Nẵng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm 3 chương.

của chế độ thực dân để lại.
5- Bỏ ngay các thuế, như: thuế thân; thuế chợ; thuế đò; tuyệt đối cấm hút
thuốc phiện.
6- Ra tuyên bố tự do tín ngưỡng và đoàn kết lương giáo.
Đặt trong bối cảnh đất nước lúc bấy giờ, có thể xem đây là mẫu mực của việc
xác định những vấn đề cấp bách để hoạch định và thực thi chính sách của nhà nước
– chính sách công – chính sách để giải quyết những nhu cầu lợi ích thiết thực của
quốc dân, đồng bào sau khi chính quyền mới được thành lập.
Như vậy, tiếp cận từ góc độ chủ thể ban hành và sử dụng chính sách để phục
vụ và quản lý xã hội có thể thấy: Nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực của

8


nhân dân, ban hành chính sách để mưu cầu lợi ích cho cộng đồng xã hội. Chính sách
của nhà nước đã tác động rộng khắp đến mọi đối tượng, mọi quá trình trên phạm vi
toàn quốc. Chính sách khi gắn với vai trò, chức năng “lo cho cái chung” hay “khu
vực công” của nhà nước được gọi là chính sách công (Public policy).
Tích hợp những cách tiếp cận, cách hiểu, cách định nghĩa đã có, trong luận
văn này chúng tôi thống nhất cách quan niệm: Chính sách công là tổng thể chương
trình hành động của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng
trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo phương thức nhất định nhằm đạt được
các mục tiêu đề ra, bảo đảm cho xã hội phát triển bền vững, ổn định.
Khái niệm trên thể hiện đặc trưng của chính sách công là:
Do nhà nước chủ động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng
quản lý một cách tương đối ổn định.
Là công cụ định hướng cho hành vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái
độ chính trị của nhà nước trong.việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời
sống xã hội;
Để đạt được mục tiêu đề ra, trước hết chính sách đó phải tồn tại trong thực tế,

đoạn kế tiếp, những người ra quyết định thực sự ban hành đường lối hành động.
Sang giai đoạn triển khai thực hiện CSC, một tập hợp các chế tài được thiết lập để
cưỡng chế những người nào không tuân theo quy định của nhà nước. Sau đó, CSC
được duy trì bởi bộ máy hành chính và vận hành theo định hướng cho đến khi hoàn
thành sứ mệnh, hoặc bị hủy bỏ. Cuối cùng, các kết quả mang lại của CSC được
đánh giá theo mục tiêu của chủ thể ban hành CSC ban đầu.
Mô hình của Harold. D.Lasswell đã tạo cơ sở cho sự phát triển các mô hình
về chu trình CSC của Gary D.Brewer vào đầu những năm 1970 và mô hình khá nổi
tiếng của Charles O.Jones và James Anderson vào những năm 1970 và 1980.
Chu trình CSC theo mô hình này gồm 5 giai đoạn:
(1) Lập chương trình (Agenda setting): Các cá nhân và tổ chức, cơ quan chức

năng tham gia làm chính sách trình vấn đề công ra thảo luận, và xem xét đưa vào
chương trình chính thức. Trên thực tế, có những vấn đề chính sách dễ dàng mở
“cánh cửa cơ hội” xuất hiện trong chương trình nghị sự; trong khi nhiều vấn đề khác
lại bị trì hoãn lâu dài.
(2) Hình thành chính sách (Policy formulation, bao gồm việc thiết kế chính

sách – policy design): Chính thức đề xuất các phương án (biện pháp thay thế) nhằm
mục tiêu giải quyết vấn đề chính sách. Giải pháp thay thế trong các đề xuất chính

10


sách có thể thể hiện dưới dạng dự thảo các quy định pháp lý của chính phủ, tòa án
hoặc dự luật của Quốc hội.
(3) Thông qua chính sách (Policy adoption): Chính sách được chính thức

thông qua bởi đa số, hay được hợp pháp hoá (legitimation). Nói chung, chính sách
có thể được thông qua bởi Quốc hội, Chính phủ và Tòa án trong phạm vi luật định.


đúng mục tiêu chinh sách, sau đó xây dựng hoặc đề xuất các các giải pháp để đạt
các mục,tiêu đó. Để làm việc này,;các chủ thể của chính sách phải đánh giá đúng tác
động của các giải phap, đồng thời phải so sánh, dự đoán các kết quả các giải pháp
với nhau; từ đó làm cơ sở để đề xuất để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định để
cuối cùng.
(2). Tổ chức thực hiện chính sách công.
Là giai đoạn hiện thực,hóa,chính sách trong đời sống xã/hội.Đây là giai đoạn
triển khai thực hiện các giải pháp của chính,sách đã được thông qua và kiểm tra quá
trình của việc thực hiện.Sự thành, bại của một chính sách là nằm ở giai đoạn này.
(3). Đánh giá chính sách công.
Đây là công đoạn tính toán, dự trù các chi phí và kết quả của việc thực hiện
chính sách; các tác động từ thực tế của việc thực hiện chính sách trong quá trình
nhằm đạt được mục tiêu CSC, từ đó xác định hiệu quả của một CSC trong thực tế.
Trên cơ sở kết quả của đánh giá CSC, các cơ quan này.có thể chấm dứt sự tồn tại
của,CSC; hoặc có thể bổ sung mục tiêu, điều chỉnh các giải-pháp cho phù hợp với
tình hình thực tế.
Mô hình hoá chu trình chính sách công theo cách phân loại trên

Hoạch định chính sách công

Phân tích
chính sách công

Thực thi chính
sách công

Đánh giá chính
sách công


xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện . Kế hoạch triển khai thực hiện CSC,
bao gồm những nội dung cơ bản sau:
+ Lập kế hoạch, tổ chức điều hành cần đảm bảo những dự kiến về hệ thống

13


các cơ quan chủ trì và các bộ phận phối hợp triển khai thực hiện, những dự kiến về
cơ chế trách nhiệm đối với cán bộ quản lý,số lượng và chất lượng của lực lượng
tham gia, công tác tổ chức thực hiện, cơ chế tác động giữa các cấp trong quá trình
thực hiện chính sách đó;
+ Xác định kế hoạch,cung cấp các nguồn vật lực như: dự kiến về các cơ sở
hạ tầng, trang thiết bị khoa học, thiết bị văn phòng,phục vụ cho công tác thực hiện
chính sách.
+ Xác định thời gian triển khai thực hiện thông qua dự kiến về thời gian duy

trì chính sách; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính
sách đến tổng kết rút kinh nghiệm. Cần dự kiến thời gian cho mục tiêu cần đạt được.
Tùy vào chính sách, điều kiện thực tế để dự kiến mỗi bước cho phù hợp với một
chương trình cụ thể của chính sách;
+ Lên kế hoạch kiêm tra thực hiện CSC,là những dự kiên về tiến độ, hình

thức; phương pháp,kiểm tra; giám sát,tổ chức thực hiên CSC.
+ Xây dựng dự kiến những nội dung trong thực hiện CSC bao gồm: nội quy,

quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm và nghĩa vụ, quyền hạn của cán bộ,
công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành CSC; về các biện
pháp khen thưởng, kỷ luật trong tổ chức thực hiện chính sách...
+ Lãnh đạo ở cấp nào thì xem xét thông qua kế hoạch thực hiện ở cấp đó.
Sau khi quyết định thông qua, kế hoạch thực hiện CSC phải mang giá trị thiết thực

một cách có hiệu quả. Việc phổ biến, tuyên truyền CSC được thực hiện bằng nhiều
phương pháp như: trao đổi với các đối tượng; tiếp nhận và giải thích trực tiếp hoặc
gián tiếp (tùy theo tình hình thực tế); gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại
chúng... Tuỳ theo yêu cầu của các cơ quan quản lý, tính chất của từng loại chính
sách và điều kiện cụ thể mà cơ quan quản lý quyết định lựa chọn các hình thức
tuyên truyền, vận động phù hợp.
Thứ ba: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách công
Ở bước này, căn cứ theo kế hoạch của chính sách đã được phê duyệt các đơn
vị, cơ quan có liên quan có nhiệm vụ thực hiện công tác phối hợp và chịu trách
nhiệm trên lĩnh vực mình phụ trách. Số lượng tổ chức và cá nhân tham gia thực hiện
chính sách là rất lớn vì phạm vi triển khai thực hiện hiện của CSC rất rộng lớn, tối
thiểu củng ảnh hưởng đến một địa phương tương đương như một cấp quận. Số

15


lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách, nhân dân thực hiện
và bộ máy tổ chức thực hiện của nhà nước. Không những vậy, các hoạt động triển
khai thực hiện các mục tiêu của CSC diễn ra cũng hết sức đa dạng và phức tạp theo
không gian và thời gian, chúng xen lẫn nhau, thúc đẩy hoặc kìm hãm nhau theo quy
luật...Bởi vậy, muốn tổ chức thực hiện CSC đạt hiệu quả cần phải tiến hành phan
công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý, các ngành, các cấp chính quyền địa
phương, các yếu tố tham gia thực hiện CSC và các quy trình ảnh hưởng đến việc
thực hiện các mục tiêu CSC. Trong thực tế, cơ quan chủ trì hoặc cơ quan, đơn vị
phối hợp thường được phân công thực hiện một chính cụ thể nào đó. Chính sách có
thể tác động đến lợi ích của một bộ phận dân cư, nhưng kết quả tác động lại liên
quan đến nhiều yếu tố, quá trình thuộc các bộ phận khác nhau, nên cần phải phối
hợp chúng lại để đạt yêu cầu quản lý.
Hoạt động phân công, phổi hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện CSC một
cách sáng tạo, chủ động để luôn được duy trì chính sách được ổn định, góp phần

Một sổ nguyên tắc cần phải tuân thủ khi điều chỉnh CSC là: chỉ được điều
chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu
từ tình hình thực tế; không cho phép điều chỉnh dẫn đến thay đổi mục tiêu, nếu để
dẫn đến làm thay đổi mục tiêu, thì coi như chính sách đó bị thất bại.
Thứ sáu: Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách công
Các cơ quan, cán bộ, công chức có trách nhiệm đôn đốc thực hiện CSC thông
qua các công cụ hữu ích để cho các chủ thể tham gia vào CSC nêu cao ý thức trách
nhiệm trong việc thực hiện theo định hướng của chính sách. Trong thực tế, để thúc
đẩy các chủ thể liên quan đến chính sách nỗ lực tham gia và thực hiện để hoàn
thành nhiệm vụ thì chủ thể ban hành hoặc đơn vị có trách nhiệm cần có hoạt động
kiểm tra, giám sát và đôn đốc việc thực hiện CSC đồng thời nhằm phòng, chống
những hành vi vi phạm quy định trong thực quá trình thực hiện CSC.
Thứ bảy: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm
Đánh giá, tổng kết trong bước tổ chức thực hiện CSC được hiểu là quá trình
xem xét, tổng hợp để đánh giá, kết luận và chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính
sách của các đối tượng thực hiện chính sách công.
Các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở là đối tượng được xem xét,
đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực hiện CSC. Ngoài ra, còn phân tích,

17


đánh giá về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội
và của toàn xã hội trong việc tham gia thực hiện CSC. Cơ sở để đánh giá tổng kết
công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện CSC trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch
được giao và những nội quy, quy chế. Đồng thời kết hợp sử dụng các văn bản liên
tịch giữa cơ quan nhà nuớc với các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và các văn
bản quy phạm khác để xem xét tình hình, phối hợp chỉ đạo, điều hành thực hiện
CSC của các tổ chức đó.
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà

Tuy nhiên, trên thực tế, một chính sách công cơ sở được ban hành thỏa mãn
tất cả các điều kiện trên là khó đạt được, bởi để một chính sách công dễ dàng được
thông qua thì mục tiêu và giải pháp chính sách công cần chung chung, mơ hồ và
trừu tượng thay vì cụ thể. Bên cạnh đó, các chính sách công cơ sở do các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền chính trị cao nhất ban hành, do đó khó có thể xác định mục
tiêu và giải pháp cụ thể mà có thể áp dụng cho mọi địa phương. Ngoài ra, các chính
sách công được ban hành để giải quyết những vấn đề thực tiễn, trong khi đó những
vấn đề này gắn liền với những nhóm dân số ở những vùng, miền và nơi cư trú khác
nhau; do đó, nếu mục tiêu và giải pháp chính sách công được xác định chi tiết và cụ
thể ngay từ ở cấp cao nhất thì có thể sẽ không phù hợp với vấn đề và các đối tượng
mà nó hướng tới.
Do vậy, thực thi chính sách công không đơn giản là tổ chức thực hiện các
giải pháp chính sách công cụ thể, mà là sự tiếp nối những gì còn thiếu trong giai
đoạn hoạch định chính sách công.
(2) Các điều kiện liên quan đến chủ thể thực thi và nguồn lực
Một chính sách công chỉ có thể có hiệu lực trong thực tế khi quá trình thực
hiện chính sách công thỏa mãn được tất cả những tiêu chí sau:
- Chính sách công được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết đúng về nhân quả,

phương tiện và mục đích, các mối quan hệ trực tiếp này.
- Có một cơ quan thực thi CSC, và không phụ thuộc vào các cơ quan khác,

hoạc nếu có sự tham gia của các cơ quan khác trong thực hiện CSC thì các mối quan
hệ phụ thuộc là tối thiểu về số lượng và mức độ trong thực hiện CSC.
- Cơ quan chuyên trách thực thi phải diễn giải được mục tiêu chính sách

công thành những kế hoạch và công việc cụ thể.
- Cần xác định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan thực thi chính sách

công một các chi tiết và theo một trình tự logic.


(3) Các điều kiện liên quan đến bối cảnh thực thi
Quá trình thực hiện chính sách công diễn ra trong những điều kiện liên quan
đến bối cảnh thực thi nhất định và yêu cầu đối với những điều kiện này là:
- Môi trường chính trị, kinh tế, xã hội và quốc tế ổn định trong suốt quá trình

thực hiện chính sách công.
- Cam kết chính trị và sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đây là

nhân tố quyết định sự thành, bại của mọi CSC ở Việt Nam.
- Sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân và các nhà lập pháp trong suốt quá trình

thực hiện chính sách công.
- Sự tham gia nhiệt tình của các bên liên quan.
- Giải quyết các mâu thuẫn chính trị giữa các bên liên quan đến chính sách

công.
1.1.2.2. Vai trò của công đoạn thực hiện chính sách công
Thực hiện CSC là một giai đoạn rất quan trọng trong chu trình của CSC, bởi

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status