B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
--------------------
T TH KIM NHUNG
THựC TRạNG SứC KHỏE, BệNH TậT Và MộT Số YếU
Tố LIÊN QUAN
CủA NGƯờI LAO ĐộNG SảN XUấT SUPE PHốT PHáT
CÔNG TY Cổ PHầN SUPE PHốT PHáT Và HóA CHấT L
ÂM THAO
NĂM 2017
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
KHểA 2011 2017
HÀ NỘI – 2017
B GIO DC V O TO
B Y T
TRNG I HC Y H NI
--------------------
T TH KIM NHUNG
Em cũng xin chân thành cảm ơn Trung tâm Y tế – Môi trường Lao động
Công thương và Công ty Cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao đã
giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu để viết khóa luận này.
Con vô cùng biết ơn bố mẹ, em gái và những người thân trong gia đình đã
luôn bên cạnh con, tin tưởng con, khuyến khích, động viên con để con có điều
kiện học tập, phấn đấu và trưởng thành như ngày hôm nay.
Cuối cùng, tôi cũng xin cảm ơn chân thành những người bạn, những người
anh em đã ủng hộ, động viên tôi trong suốt sáu năm ngồi trên ghế giảng đường.
Hà Nội, ngày 29 tháng 5 năm 2017
Sinh viên làm khóa luận
Tạ Thị Kim Nhung
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
Phòng Đào tạo Đại học Trường Đại học Y Hà Nội.
Bộ môn Sức khỏe nghề nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội.
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp.
Em xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm khóa luận một cách khoa
học, chính xác và trung thực. Các kết quả thu được trong khóa luận là có thật
và chưa được công bố trên bất kỳ tài liệu khoa học nào.
Hà Nội, ngày 29 tháng 5 năm 2017
Sinh viên làm khóa luận
Tạ Thị Kim Nhung
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
11
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khoa học kỹ thuật và công nghệ ngày càng phát triển thì hóa chất càng
được sử dụng rộng rãi trong mọi mặt của đời sống xã hội. Nhu cầu về nguyên
liệu hoá chất cũng tăng với tốc độ tăng trưởng sản xuất hoá chất hàng năm là
15% [1]. Phát triển công nghiệp hóa chất một cách bền vững, phù hợp với
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là một quan điểm phát triển
của Đảng và Nhà nước [2]. Công nghiệp hóa chất ngày nay đang có những
bước tiến dài và đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên hệ thống máy móc
kỹ thuật của ngành công nghiệp hóa chất nước ta mới chỉ đang ở mức độ trung
bình khá so với một số nước trong khu vực.
Theo số liệu báo cáo của Cục Quản lý Môi trường Y tế về công tác y tế
lao động và phòng chống bệnh nghề nghiệp năm 2015 số mẫu vượt tiêu chuẩn
cho phép chưa có xu hướng giảm. Các yếu tố THNN còn ở mức độ đáng chú ý:
tiếng ồn (17,46%), ánh sáng (15,84%), phóng xạ từ trường (19,9%), vi khí
hậu (9,1%), hơi khí độc (5,5%), bụi (3,67%), rung (3,24%)… [3]. Theo ILO,
tại Việt Nam từ năm 1995 – 2012 số vụ tai nạn lao động đã tăng hơn 8 lần từ
840 lên 6777 trường hợp, số lượng NLĐ tử vong cũng tăng từ 264 lên 606
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến sức khỏe, bệnh tật của người lao động
sản xuất Supe Phốt phát Công ty Cổ phần Supe Phốt phát và Hóa chất
Lâm Thao năm 2017.
13
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1.
Một số định nghĩa, khái niệm
1.1.1. Sức khỏe
Năm 1948, WHO đưa ra định nghĩa:
Sức khỏe là trạng thái thoải mái hoàn toàn về mặt thể chất, tâm thần và
xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh hoặc không bị tàn tật.
1.1.2. Bệnh tật
Theo nghĩa rộng, bệnh tật nhằm chỉ bất kỳ tình trạng nào làm suy yếu
chức năng bình thường của cơ thể.
Theo nghĩa hẹp, bệnh tật là khía cạnh sinh học của sự không khỏe, chủ
yếu là sự rối loạn chức năng sinh lý.
1.1.3. Người lao động
Theo Luật số: 10/2012/QH13 – Bộ luật Lao động, người lao động được định
nghĩa là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng
lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
1.1.4. Các yếu tố tác hại nghề nghiệp
Các yếu tố tác hại nghề nghiệp là khái niệm chỉ những yếu tố có trong
dây truyền công nghệ, quá trình sản xuất, điều kiện nơi làm việc, có ảnh
hưởng xấu tới sức khỏe và khả năng làm việc của người lao động.
- Hóa tổng hợp hữu cơ: sợi hóa học, cao su tổng hợp, các chất dẻo, các
chất thơm, phim ảnh…
- Hóa dầu: xăng, dầu hỏa, dầu bôi trơn; dược phẩm…
Công nghiệp hóa chất được tập trung ở các nước kinh tế phát triển với
đầy đủ các phân ngành. Các nước đang phát triển cũng có những cố gắng nhất
định để phát triển ngành này, chủ yếu là sản xuất các hóa chất cơ bản, chất
dẻo. Ngày nay, công nghiệp hóa chất đã đạt được nhiều thành tựu và ngày
càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia,
trong đó có Việt Nam.
1.2.2. Tình hình ngành công nghiệp hóa chất Việt
Nam
Ngành công nghiệp hoá chất Việt Nam bắt đầu được xây dựng trên quy mô
lớn từ năm 1954. Trải qua hơn một thập kỷ phát triển, công nghiệp hóa chất Việt
15
Nam đã trở thành một ngành kinh tế kỹ thuật độc lập. Năm 1969, Nhà nước đã
quyết định thành lập Tổng cục Hóa chất Việt Nam. Năm 1985, công nghiệp hoá
chất chiếm tỉ trọng cao trong toàn ngành công nghiệp Việt Nam (10,6%). Thời
kỳ đổi mới, từ 1986, công nghiệp hoá chất nước ta phát triển ổn định. Tốc độ
tăng trưởng của ngành cao nhất là thời kỳ 1991 – 1995, đạt mức 20%/năm,
cao hơn tốc độ tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp. Đến ngày 23/12/2009,
Nhà nước đã quyết định thành lập Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (VINACHEM)
theo quyết định số 2180/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính Phủ trên cơ sở sắp xếp,
tổ chức lại Tổng công ty Hóa chất Việt Nam [7].
Ngành nghề kinh doanh chính của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam gồm:
-
Sản xuất, kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.
hệ thần kinh với các yếu tố THNN khác. Tiếng ồn có tác động đặc biệt và trực
tiếp lên cơ quan thính giác của NLĐ qua 3 giai đoạn sau một quá trình tiếp
xúc thường là lâu dài. Lúc đầu là hiện tượng thích nghi sau đó đến mệt mỏi
thính giác rồi cuối cùng là ĐNN [10].
Theo Vũ Thị Giang (2004), nghiên cứu ảnh hưởng của tiếng ồn tới sức nghe
của CN trong các ngành nghề, kết quả cho thấy có 114 CN trên tổng số 347 CN bị
giảm thính lực, 30 CN được giám định ĐNN (chiếm 8,64%). Tuổi nghề từ 2 – 10
năm, tỷ lệ ĐNN là 23,33%, từ 11 – 15 năm là 13,33%, từ 16 – 25 năm là 43,33%
và từ 26 – 30 năm là 20% [11].
Theo một nghiên cứu về đặc điểm bệnh ĐNN và sức khoẻ CN một số
nhà máy đóng tàu trong ngành giao thông vận tải của Phạm Tùng Lâm và
cộng sự năm 2014 cho thấy: cường độ tiếng ồn chung vượt tiêu chuẩn cho
phép từ 1 – 27 dBA chiếm tỷ lệ 83,7%; tỷ lệ mắc bệnh ĐNN là 13,8%; chủ
yếu là thể nghe kém nhẹ 72,5% và nghe kém vừa 27,5% [12].
Theo Nguyễn Đăng Quốc Chấn nghiên cứu tỷ lệ ĐNN của NLĐ tại xưởng in
cho thấy tỷ lệ số điểm ồn vượt tiêu chuẩn cho phép là 32,7%, có mức độ ô nhiễm
tiếng ồn cao vượt mức về cường độ cao nhất là 10 dBA. Tỷ lệ ĐNN là 17%, khi
NLĐ làm việc tăng thêm 1 năm thì nguy cơ bị ĐNN tăng lên 1,5 lần [13].
∗ Rung chuyển
Rung chuyển là sự chuyển động qua lại giữa hai phía của một điểm chuẩn
cố định, đi đến giới hạn cực đại của một phía, dừng lại rồi đi đến giới hạn cực đại
phía bên kia và dừng lại. Cơ thể con người có thể chịu đựng được rung chuyển
với các loại tần số khác nhau, nhưng với điều kiện biên độ, vận tốc hay gia tốc
17
tương ứng với tần số phải dưới giới hạn cho phép. Theo diện tích tiếp xúc, rung
chuyển được chia thành 2 loại: rung chuyển cục bộ và rung chuyển toàn thân.
Tiếp xúc với rung chuyển cục bộ gây ảnh hưởng đến một cơ quan, một bộ phận
phải chiếm ít nhất 30% trong chiếu sáng hỗn hợp.
Chiếu sáng trong lĩnh vực công nghiệp hóa chất chủ yếu là chiếu sáng
nhân tạo từ các đèn huỳnh quang.
Theo nghiên cứu của Bùi Hoài Nam ở một công ty may phân tích cho
thấy trong MTLĐ có ánh sáng chưa đảm bảo có mối liên quan đến triệu
chứng mờ mắt xuất hiện cuối ca làm việc ở CN nữ [16].
1.3.2. Bụi
Trong sản xuất, tác hại của bụi đối với cơ thể không giống nhau bao gồm
các tác hại sau:
- Gây độc toàn thân: bụi chì, mangan, asen, flo, oxit kẽm.
- Gây kích thích cục bộ tổn thương ở da và niêm mạc: xi măng, bụi vôi,
-
bụi nhựa than, bụi thuốc lá...
Gây phản ứng dị ứng: bụi đay, bột sơn, phấn hoa...
Gây tác dụng quang lực học: bụi hắc ín.
Gây nhiễm khuẩn: bụi giẻ rách, lông súc vật, thóc lúa...
Gây ung thư: bụi của một số chất quang học và chất cơ năng phóng xạ.
Gây tác dụng đặc biệt trên cơ quan hô hấp có 5 loại:
• Tác dụng với đường hô hấp trên: bụi sợi, bụi động vật và thực vật.
• Gây phản ứng tăng thực đối với phổi, nhưng không rõ rệt: bụi than,
bụi oxit sắt.
• Tác dụng làm cho xơ hoá tăng thực rõ rệt gây bệnh phổi mạn tính
nặng: bụi silic (SiO2), bụi amiăng...
• Làm giảm tính chất miễn dịch của tổ chức phổi: bụi xỉ lò thomas; gây ung
thư phế quản và ung thư phổi như crom và các hợp chất hoá học của asen.
• Gây viêm nhiễm, bội nhiễm trên bộ máy hô hấp: tỷ lệ rất cao thường
gặp 30 – 70% ở người tiếp xúc với các loại bụi [17].
Theo nghiên cứu của Lê Minh Dũng ở CN một số nhà máy xí nghiệp
tạng, đặc biệt là máu và hệ thống thần kinh.
1.3.4. Các yếu tố sinh học
Theo nghiên cứu gần đây về MTLĐ hiện đại có khoảng 200 tác nhân sinh
học là vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm mốc và 3000 tác nhân gây dị ứng [21].
20
1.3.5. Tâm sinh lý lao động – ecgonomi
∗ Stress
Stress là sự mất cân bằng giữa nhu cầu và khả năng đáp ứng của con
người trong một điều kiện nhất định, gây ảnh hưởng xấu tới tâm sinh lý NLĐ.
Stress gây tăng bài tiết catecholamine, tăng áp lực máu dẫn đến THA, bệnh
tim mạch, loét dạ dày – tá tràng. Stress làm cho NLĐ lo âu, trì trệ, tâm thần.
Nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Mai và cộng sự đã chỉ ra rằng trong 7 nhóm
tác nhân gây stress phổ biến ở nhân viên điều dưỡng thì nhóm các tác nhân liên
quan đến cái chết của bệnh nhân và quá tải công việc là những yếu tố gây mức
độ stress nặng hơn [22].
Theo Trịnh Hồng Lân nghiên cứu về stress nghề nghiệp của CN ngành
may công nghiệp ở một số tỉnh phía Nam cho thấy tỉ lệ CN có biểu hiện stress
nghề nghiệp dưới nhiều mức độ khác nhau là 71% [23].
∗ Ecgonomi vị trí làm việc
Ecgonomi là một môn khoa học liên ngành liên quan đến thiết kế phù
hợp với nhu cầu con người và nghề nghiệp để đảm bảo sức khỏe cho NLĐ và
hoạt động sản xuất có hiệu quả. Tư thế làm việc khó khăn là một trong những
yếu tố bất lợi của môi trường lao động: do sắp xếp nơi làm việc không hợp lý,
việc thiết kế và lựa chọn các công cụ không phù hợp, phương pháp làm việc
không đúng. Các tư thế làm việc khó khăn có thể gây ra sự mệt mỏi và góp
phần vào sự phát triển của các rối loạn cơ xương.
Theo thống kê của WHO có hơn 50% BNN là do yếu tố ecgonomi mà
người, đặc biệt là NLĐ ngày càng được quan tâm. Các yếu tố quyết định mức độ
độc hại của hóa chất bao gồm loại hóa chất tiếp xúc, đường xâm nhập của hóa
chất vào cơ thể, nồng độ và thời gian tiếp xúc và một số yếu tố khác như tính
mẫn cảm của cá nhân người tiếp xúc (tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe…),
điều kiện lao động.
Theo Hovlvaf K.H và cộng sự nghiên cứu chức năng hô hấp của CN trong
một nhà máy sản xuất phân bón nitrat ở Na – uy cho thấy làm việc trong ngành
công nghiệp phân bón có thể dẫn đến suy giảm chức năng thông khí phổi [27].
22
Theo Bulbulyan M.A nghiên cứu đánh giá tỷ lệ tử vong của NLĐ tiếp xúc
với các hợp chất N – nitroso trong một nhà máy phân bón của Nga cho thấy
CN làm việc trong nhà máy có tỷ lệ tử vong do ung thư dạ dày cao hơn [28].
Jedrychowski W đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của MTLĐ đối với
sự xuất hiện của các bệnh hô hấp mạn tính không đặc hiệu của các CN sản
xuất Supe Phốt phát ở Ba Lan, kết quả chỉ ra rằng CN sản xuất Supe Phốt
phát có tỷ lệ bị bệnh viêm phế quản mạn tính, hội chứng hen và rối loạn thông
khí phổi cao hơn [29].
Rafieepour A và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu việc cải thiện các triệu
chứng hô hấp ở NLĐ tiếp xúc với hơi axit sulfuric trong MTLĐ, kết quả cho
thấy nồng độ của hơi axit sulfuric trong các đơn vị mạ cao hơn tiêu chuẩn cho
phép có thể làm gia tăng các triệu chứng kích thích hô hấp và hạn chế chức
năng hô hấp của NLĐ [30].
Theo Suyama Y và cộng sự nghiên cứu về sự xói mòn răng ở NLĐ tiếp
xúc với axit sulfuric trong cơ sở sản xuất ắc quy chì cho thấy tỷ lệ xói mòn
răng ở NLĐ có tuổi nghề trên 10 năm cao hơn ở những NLĐ có tuổi nghề
dưới 10 năm; tỷ lệ này ở nhóm tuổi nghề 10 – 14 năm là 42,9%, ở nhóm 15 –
19 năm là 57,1% và ở nhóm NLĐ có tuổi nghề hơn 20 năm là 66,7% [31].
sở chính nằm tại: thị trấn Lâm Thao, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ là doanh
nghiệp hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực cung cấp các sản phẩm phân
bón Supe lân và các hóa chất khác [6]. Công ty hiện có 9 xí nghiệp sản xuất
(3 xí nghiệp axit sulfuric, 2 xí nghiệp Supe Phốt phát và 4 xí nghiệp NPK) với
tổng số 2896 cán bộ công nhân viên. Trong đó, xí nghiệp Supe Phốt phát bắt
đầu đi vào hoạt động ngay từ thời mới thành lập công ty (năm 1962), mang đầy
đủ các đặc trưng sản xuất của công ty. Qua 55 năm xây dựng, phát triển xí nghiệp
Supe Phốt phát vẫn luôn dẫn đầu công ty về trữ lượng sản phẩm đầu ra.
24
Xí nghiệp Supe Phốt phát sử dụng sản phẩm đầu vào là quặng Apatit
3Ca3(PO4)2.CaF2 giàu hàm lượng P2O5 để sản xuất Supe Phốt phát ở dạng bột,
màu xám sáng, có hàm lượng P2O5 hữu hiệu 16 – 16,5% và các nguyên tố vi
lượng khác. Dây chuyền sản xuất Supe Phốt phát cũng được trang bị những
trang thiết bị tương đối hiện đại và được cải tiến liên tục.
Sơ đồ tóm tắt quy trình công nghệ sản xuất Supe Phốt phát và một số
yếu tố THNN phát sinh trong quá trình sản xuất
Quặng Apatit
Sấy, nghiền sơ bộ
Vi khí hậu
nóng
Bụi,
Nghiền mịn
Điều chế
Axit
việc tiến hành một nghiên cứu về tình trạng sức khỏe, bệnh tật của NLĐ ở đây
là thực sự cần thiết. Nghiên cứu này giúp cho NLĐ sản xuất Supe Phốt phát
có một cái nhìn khái quát hơn về tình hình sức khỏe của mình để có những
biện pháp tác động kịp thời đến sức khỏe. Nghiên cứu cũng giúp công ty có
cái nhìn tổng thể hơn về tình hình phát triển của công ty để có những chiến
lược, hỗ trợ phù hợp và phát triển bền vững.