PHẦN 1: KHÁI QUÁT CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ:
1. Khái niệm cơ bản
1.1. Khái niệm dịch vụ
Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu
dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống
ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật.
1.2. Khái niệm hợp đồng cung ứng dịch vụ:
Hợp đồng cung ứng dịch vụ là thỏa thuận, theo đó một bên (bên cung ứng dịch vụ) có
nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ
(sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa
thuận (quy định tại Khoản 9 Điều 3 Luật Thương mại 2005).
2. Phân loại hợp đồng cung ứng dịch vụ:
Pháp luật Việt Nam không đưa ra cách phân loại hợp đồng cung ứng dịch vụ cụ
thể mà chỉ quy định về quyền cung ứng và sử dụng dịch vụ khác nhau tại Khoản 1 và 2
Điều 75 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005. Tuy nhiên, để tiện theo dõi, nhóm đề xuất
cách phân loại căn cứ vào các dịch vụ quy định trong Luật Thương mại Việt Nam năm
2005 như sau:
Hợp đồng dịch vụ khuyến mại (Điều 90)
Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại (Điều 110)
Hợp đồng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa dịch vụ (Điều 124)
Hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hóa (Điều 193)
Hợp đồng dịch vụ quá cảnh (Điều 251)
Hợp đồng nhượng quyền thương mại (Điều 285)
3. Đặc điểm của hợp đồng cung ứng dịch vụ
3.1. Chủ thể trong hợp đồng cung ứng dịch vụ:
quảng cáo, dịch vụ chuyên chở, dịch vụ ngân hàng…)
Lưu ý: Chính Phủ VN ban hành nghị định nêu rõ các dịch vụ bị cấm
kinh doanh, hạn chế kinh kinh doanh hay kinh doanh có điều kiện:
(Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Chính
phủ hướng dẫn thi hành Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm
kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện)
a.
-
Dịch vụ bị cấm kinh doanh:
Kinh doanh mại dâm, tổ chức mại dâm, buônbán phụ nữ, trẻ em
-
(Nghị định số 03/2000/NĐ-CP)
Tổ chức đánh bạc, gá bạc dưới mọi hình thức. (Nghị định số
-
03/2000/NĐ-CP)
Dịch vụ điều tra bí mật xâm phạm lợi ích củaNhà nước, quyền
và lợi ích hợp
pháp của tổchức, cá nhân.(
Nghị
định
số
Phải
được
cấpGiấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh:
TT Tên hàng hóa, dịch vụ
Văn bản pháp luật hiện
hành (*)
Pháp lệnh Hành nghề y,
1
Dịch vụ y tế; dịch vụ y, dược cổ truyền
dược tư nhân năm 2003;
Nghị
định
số
103/2003/NĐ-CP
2
Dịch vụ kinh doanh thuốc bao gồm dịch vụ bảo quản
thuốc và kiểm nghiệm thuốc
3
Dịch vụ kết nối Internet (IXP)
Nghị định số 55/2001/NĐCP
Nghị định số 55/2001/NĐCP
8
Dịch vụ ứng dụng Internet trong bưu chính, viễn thông Nghị định số 55/2001/NĐ(OSP bưu chính, OSP viễn thông)
CP
Pháp lệnh Bưu chính, viễn
9
Cung cấp dịch vụ bưu chính
thông
năm
2002;
Nghị
định số 157/2004/NĐ-CP
Pháp lệnh Bưu chính, viễn
10
Dịch vụ thiết kế phương tiện vận tải
Luật Điện lực năm 2004
Nghị định số 11/2006/NĐCP
Nghị định số 48/CP ngày
17/7/1995
Nghị
định
số
125/2003/NĐ-CP
Nghị
định
số
125/2004/NĐ-CP
Các dịch vụ bảo hiểm:
- Bảo hiểm nhân thọ;
16
- Bảo hiểm phi nhân thọ;
- Tái bảo hiểm;
- Môi giới bảo hiểm;
Luật Kinh doanh bảo hiểm
phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương
18
Dịch vụ xuất khẩu lao động
Nghị định số 81/2003/NĐ-
CP
19
Dịch vụ pháp lý (bao gồm cả tư vấn pháp luật và bào
chữa) do luật sư Việt Nam thực hiện
2001;
Nghị
định
số
94/2001/NĐ-CP
20
Dịch vụ tư vấn pháp luật do luật sư nước ngoài thực hiện
21
hành (*)
Giết mổ, sơ chế động vật, sản phẩm động vật; bảo
1 quản, vận chuyển sản phẩm động vật sau giết mổ, sơ Pháp lệnh Thú y năm 2004
chế
2
Dịch vụ về giống cây trồng, vật nuôi theo Pháp lệnh
Giống cây trồng và Pháp lệnh Giống vật nuôi
Pháp lệnh Giống cây trồng
năm 2004; Pháp lệnh Giống
vật nuôi năm 2004
Đại lý dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát thư (bao Pháp lệnh Bưu chính, viễn
3 gồm cả đại lý dịch vụ chuyển phát thư cho tổ chức thông năm 2002; Nghị định số
chuyển phát nước ngoài)
157/2004/NĐ-CP
Pháp lệnh Bưu chính, viễn
4 Đại lý dịch vụ viễn thông
thông năm 2002; Nghị định số
160/2004/NĐ-CP
5 Đại lý dịch vụ Internet công cộng
Nghị định số 55/2001/NĐ-CP
11 Dịch vụ in
Nghị định số 08/2001/NĐ-CP
Dịch vụ thành lập, in và phát hành các loại bản đồ không
12 thuộc phạm vi quản lý của cơ quan quản lý nhà nước ở Nghị định số 12/2002/NĐ-CP
Trung ương
Dịch vụ kiểm định các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất Nghị
định
13 có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao 20/01/1995;
động
số
06/CP
Nghị
ngày
định
số
110/2002/NĐ-CP
14 Dịch vụ dạy nghề; tư vấn dạy nghề
22
Dịch vụ đóng mới, hoán cải, sửa chữa, phục hồi phương
tiện thủy nội địa
Luật Giao thông đường thủy
nội địa năm 2004; Nghị định
số 21/2005/NĐ-CP
Dịch vụ xếp, dỡ hàng hóa, phục vụ hành khách tại cảng,
bến thủy nội địa
23 Dịch vụ vận tải đường thủy nội địa
24 Dịch vụ đại lý tầu biển
25 Dịch vụ đại lý vận tải đường biển
26 Dịch vụ môi giới hàng hải
27 Dịch vụ cung ứng tầu biển
28 Dịch vụ kiểm đếm hàng hóa
29 Dịch vụ lai dắt tầu biển
30 Dịch vụ sửa chữa tầu biển tại cảng biển
31 Dịch vụ vệ sinh tầu biển
32 Dịch vụ xếp dỡ hàng hóa tại cảng biển
Nghị định số 10/2001/NĐ-CP
33 Dịch vụ vận tải biển
34 Đại lý làm thủ tục hải quan
35 Dịch vụ kế toán
36
18/9/1995;
số
56/CP
Nghị
ngày
định
số
08/2001/NĐ-CP
Luật Du lịch năm 2005
41 Dịch vụ lữ hành nội địa
42 Đại lý lữ hành
43 Dịch vụ vận chuyển khách du lịch
44
Dịch vụ du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du
lịch
45 Dịch vụ hướng dẫn viên
46 Dịch vụ giám định thương mại
Luật Thương mại năm 2005;
hợp đồng vận chuyển theo chuyến bằng đường biển, hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo
hiểm…
Có thể thấy, với đa số hợp đồng cung ứng dịch vụ, pháp luật Việt Nam đều yêu cầu
hợp đồng được lập dưới hình thức văn bản (trong khi các hợp đồng mua bán hàng hóa nói
chung thì không có yêu cầu này). Điều này cho thấy tính chất phức tạp của hợp đồng
cung ứng dịch vụ với hợp đồng mua bán hàng hóa.
3.4 Giá dịch vụ:
Theo điều 86 mục 2 Luật Thương mại 2005: “Trường hợp không có thỏa thuận về
giá dịch vụ, không có thỏa thuận về xác định giá dịch vụ và cũng không có bất kì chỉ dẫn
nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ được xác định theo giá của loại dịch vụ đó trong
điều kiện tương tự về phương thức cung ứng, thời điểm cung ứng, thị trường địa lý,
phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá dịch vụ”
3.5 Thời hạn thanh toán:
Theo điều 87 mục 2 Luật Thương mại 2005: “ Trường hợp không có thỏa thuận và
giữa các bên không có bất kỳ thói quen nào về việc thanh toán thì thời hạn thanh toán là
thời điểm việc cung ứng dịch vụ được hoàn thành”
4.
Nghĩa vụ của các bên trong Hợp Đồng Cung Ứng Dịch Vụ:
4.1 Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ
Điều 78 Luật thương mại năm 2005.
Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên cung ứng dịch vụ có những nghĩa vụ sau đây:
−
Cung ứng các dịch vụ và thực hiện những công việc có liên quan một cách đầy đủ,
phù hợp với thoả thuận và theo quy định của Luật này;
− Bảo quản và giao lại cho khách hàng tài liệu và phương tiện được giao để thực
hoặc hàng được giao sau 31/12/2010 thì người bán đã vi phạm hợp đồng.
Dịch vụ taxi, nếu không chở khách đến tận nơi như yêu cầu ban đầu của khách
hàng => vi phạm nghĩa vụ
• Nghĩa vụ cung ứng dịch vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất
Nghĩa vụ này được quy định tại Điều 80 của Luật Thương mại năm 2005: Trừ trường
hợp có thoả thuận khác, nếu tính chất của loại dịch vụ được cung ứng yêu cầu bên cung
ứng dịch vụ phải nỗ lực cao nhất để đạt được kết quả mong muốn thì bên cung ứng dịch
vụ phải thực hiện nghĩa vụ cung ứng dịch vụ đó với nỗ lực và khả năng cao nhất.
Ví dụ:
-
Trong hợp đồng cung ứng dịch vụ tư vấn pháp lý, người tư vấn sẽ thông thể cam
kết rằng anh ta sẽ khiến cho một dự án đầu tư đạt được thành công. Do đó, anh ta
sẽ cung ứng dịch vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất bằng cách sẽ cung cấp
những giải pháp tối ưu đối với những cần đề cần được tư vấn, hoặc bên tư vấn sẽ
-
cung cấp một dịch vụ với chất lượng tốt nhất
Dịch vụ cắt tóc, người cắt tóc cam kết hứa sẽ cắt tóc đẹp nhất nhưng khi cắt tóc
hết khả năng rồi nhưng kết quả không tốt ( Không phải là theo kết quả công việc
mà theo nỗ lực và khả năng cao nhất)
♣ Trong một hợp đồng cung ứng dịch vụ có thể có cả hai loại nghĩa vụ này tồn tại:
Ví dụ: Hợp đồng quảng cáo:
-
Cung cấp kịp thời các kế hoạch, chỉ dẫn và những chi tiết khác đê việc cung ứng
dịch vụ được thực hiện không bị trì hoãn hay gián đoạn;
− Hợp tác trong tất cả những vấn đề cần thiết khác để bên cung ứng có thể cung ứng
dịch vụ một cách thích hợp;
− Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối
hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng có nghĩa vụ điều phối hoạt động
của các bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đến công việc của bất kỳ bên
cung ứng dịch vụ nào.
Lưu ý:
Trong trường hợp 2 bên không có thỏa thuận cụ thể về giá dịch vụ và thời hạn
thanh toán thì bên sử dụng dịch vụ (khách hàng) sẽ xác định giá dịch vụ và thời hạn
thanh toán theo những quy định của Điều 86 và 87 Luật Thương mại năm 2005.
5.
So sánh Hợp Đồng cung ứng dịch vụ và Hợp Đồng mua bán hàng hóa
Ở đây hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng cung ứng dịch vụ đều là hợp đồng
thương mại, về cơ bản là thoả thuận giữa các thương nhân hoặc giữa các thương nhân với
các chủ thể khác làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương
mại.
Về điểm khác nhau của hợp đồng cung ứng dịch vụ và hợp đồng mua bán hàng hóa:
Điểm khác nhau
1. Đối tượng của hợp đồng
2. Cách thức phân loại
Hợp đồng mua bán hàng
hóa
loại là “hợp đồng theo kết
quả công việc” và “hợp
đồng theo nỗ lực cao nhất”
Có sự hợp tác giữa các bên
cung ứng dịch vụ với nhau.
Nếu xảy ra tình trạng người
cung ứng dịch vụ này gây
cản trở hoặc làm chậm tiến
độ của người cung ứng
dịch vụ khác thì cần phải
quy định về nghĩa vụ hợp
tác giữa các nhà cung ứng
dịch vụ.
Bên mua và các bên cung
ứng cần trao đổi thông tin
cho nhau về tiến độ công
việc và yêu cầu của mình
có liên quan đến việc cung
ứng dịch vụ, đồng thời phải
cung ứng dịch vụ vào thời
gian và theo phương thức
phù hợp để không gây cản
trở đến hoạt động của bên
cung ứng dịch vụ đó.
Trường hợp một dịch vụ
chỉ có thể được hoàn thành
khi khách hàng hoặc bên
cung ứng dịch vụ khác đáp
ứng các điều kiện nhất định
thì bên cung ứng dịch vụ
PHẦN 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG VIỆC ÁP DỤNG LUẬT THƯƠNG MẠI 2005
VÀO HỢP ĐỒNG
Nội dung của một hợp đồng cung ứng dịch vụ tùy thuộc vào từng loại hình dịch
vụ. Một số điều khoản phổ biến thường được quy định là: đối tượng của hợp đồng, giá
dịch vụ, phương thức và thời hạn thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên, phạt vi
phạm, các trường hợp miễn trách, luật áp dụng, giải quyết tranh chấp, hiệu lực của hợp
đồng. Tuy nhiên theo Luật Thương mại Việt Nam, một số điều khoản còn quy định chung
chung, để tránh tranh chấp phát sinh thì khi giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ cần chú
ý đến điều khoản sau:
1
Điều khoản về dịch vụ và chất lượng dịch vụ:
Vì dịch vụ là vô hình, khó nắm bắt nên một trong các điều khoản quan trọng của
hợp đồng cung ứng dịch vụ, đó là điều khoản về dịch vụ phải thực hiện và chất lượng
dịch vụ. Điều khoản này sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết các tranh chấp phát
sinh giữa các bên trong hợp đồng.
+ Quy định cụ thể về dịch vụ được cung ứng
Việc quy định điều khoản này tùy thuộc vào từng loại hình dịch vụ và tính chất
của dịch vụ.
Ví dụ, đối với dịch vụ tư vấn pháp lý, cần quy định rõ mục đích và nội dung tư
vấn (tư vấn về vấn đề gì, nhằm mục đích gì?), giới hạn vấn đề tư vấn (chỉ tư vấn những
mảng cụ thể như: thành lập doanh nghiệp, tư vấn đầu tư, tư vấn về hợp đồng…)
Đối với dịch vụ quảng cáo, cần nêu rõ đối tượng cần quảng cáo (hàng hóa hay
dịch vụ gì), phương tiện quảng cáo (tờ rơi, báo, truyền hình, phát thanh, quảng cáo điện
tử…), nội dung của thông điệp quảng cáo, phương pháp quảng cáo, hình thức quảng cáo,
thời hạn và tiến độ thực hiện các dịch vụ quảng cáo, phạm vi quảng cáo.
Đối với dịch vụ vận chuyển hàng hóa, cần quy định rõ về hàng hóa được chuyên
chở, phương tiện chuyên chở, phương thức chuyên chở (có chuyển tải hay không), thời
không được đề cập đến. Trong khi thực tiễn thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ thì đây
là điều khoản quan trọng và có thể dẫn đến tranh chấp.Phương thức cung ứng dịch vụ là
khác nhau tùy vào loại hợp đồng, cần được thỏa thuận và quy định rõ rang trong hợp
đồng cung ứng dịch vụ
Đối với hợp đồng cung ứng dịch vụ xây dựng, việc xây dựng có thể được cung
ứng theo phương thức trọn gói, hoặc theo đơn giá, theo thời gian, hay theo tỷ lệ phần
tram. Hợp đồng cũng cần phải quy định rõ việc sử dụng các nhà thầu phụ, việc chỉ định
các nhà thầu phụ, các công việc có thể thầu lại, trách nhiệm cụ thể của mỗi bên (nhà thầu
chính, nhà thầu phụ).
Đối với hợp đồng cung ứng dịch vụ chuyên chở thì phương thức cung ứng có thể
là chuyên chở và giao hàng một lần/nhiều lần, có chuyển tải hay không, sử dụng một
phương thức vận chuyển hay nhiều phương thức vận chuyển…
Đối với dịch vụ tư vấn thì việc cung ứng dịch vụ có thể là qua điện thoại, qua trao
đổi bằng thư, hoặc là bằng việc gửi chuyên gia tư vấn trực tiếp đến công ty để xem xét tài
liệu, trao đổi các vấn đề trước khi tiến hành tư vấn trực tiếp.
3
Điều khoản Tạm ngừng cung cấp dịch vụ
Điều 294 của Luật Thương mại năm 2005, tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc
một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
*Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm ngừng thực
hiện hợp đồng;
*Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
Điều khoản này trong hợp đồng cần được chi tiết và rõ ràng cụ thể hơn để tránh
phát sinh tranh chấp. Bên sử dụng dịch vụ cần thỏa thuận hình thức thông báo tạm ngừng
tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài. Thủ tục giải quyết tranh chấp trong
thương mại tại Tòa án được tiến hành theo các thủ tục tố tụng do pháp luật quy định.
Về thời hạn khiếu nại, trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 chỉ có quy định về
các khiếu nại liên quan đến hàng hóa còn dịch vụ thì không đề cập đến vì vậy trong hợp
đồng cung ứng dịch vụ điều khoản về thời hạn khiếu nại cần được chú ý làm rõ và chi
tiết. Riêng khiếu nại đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thì đã được nêu ra
trong Điều 318 cụ thể là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải nhận được thông
báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics giao hàng cho người nhận.
Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ
thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp sau khi bị khiếu nại,
thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại
Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng.
KẾT LUẬN
Qua việc nghiên cứu tài liệu, hệ thống các văn bản luật và dưới luật có liên quan,
bài tiểu luận đã trình bày tổng quát những vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến hợp
đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại như: khái niệm, đặc điểm,
vaitrò,các nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại
cũng như trách nhiệm pháp lý khi có vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp phát
sinh... Như vậy về mặt lý luận liên quan đến pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ đã
được quy định khá đầy đủ và chi tiết trong các văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài ra bài
viết đã làm rõ vai trò của hợp đồng cung ứng dịch vụ đối với các doanh nghiệp hiện nay.
Hợp đồng cung ứng dịch vụ sẽ càng ngày càng đóng góp cho sự phát triển nói riêng của
doanh nghiệp Việt Nam và cho sự phát triển của ngành dịch vụ nói chung. Hợp đồng
cung ứng dịch vụ không chỉ là một công cụ pháp lý mà qua đó nhu cầu trao đổi, giao lưu
của người được thực thi và bảo đảm, giúp cho luồng lưu thông hàng hóa, dịch vụ đáp ứng