Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại - Thực tiễn áp dụng tại Công ty Luật TNHH IMC - Pdf 26

TÓM LƯỢC
Cùng với tiến trình tự do hóa thương mại và sự phát triển ngày càng đa dạng của
các loại hình thị trường trong nền kinh tế thị trường, dịch vụ đóng vai trò ngày càng
quan trọng trong nền kinh tế của hầu hết các nước phát triển. Gia nhập tổ chức Thương
mại thế giới (WTO), Việt Nam đã đạt được một bước tiến dài trong việc nâng cao tỷ
trọng ngành dịch vụ. Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS) ra đời cung cấp một
cách tiếp cận mới về dịch vụ dựa trên khái niệm thương mại dịch vụ, đã mở rộng nội
dung, phạm vi hoạt động và cơ hội trong lĩnh vực này cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Dịch vụ đã trở thành hàng hóa và việc trao đổi, mua bán dịch vụ ngày càng trở nên sôi
động, phổ biến khi thị trường thương mại dịch vụ được mở cửa, tạo sự cạnh tranh
mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp Việt nam với nhau cũng như giữa các doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ Việt Nam với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài.
Xuất phát từ sự quan tâm về thương mại dịch vụ, trên cơ sở những kiến thức đã
học cũng như thời gian thực tế tại Công ty Luật TNHH IMC, đề tài nghiên cứu: “Một
số vấn đề pháp lý về hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại -
Thực tiễn áp dụng tại Công ty Luật TNHH IMC” đã làm rõ được những nội dung
sau:
Qua việc nghiên cứu tài liệu, hệ thống các văn bản luật và dưới luật có liên quan,
đề tài đã trình bày tổng quát những vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến hợp đồng
cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, các
nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại cũng
như trách nhiệm pháp lý khi có vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp phát sinh
Như vậy về mặt lý luận liên quan đến pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ đã được
quy định khá đầy đủ và chi tiết trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Ngoài ra, đề tài đã làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về vấn đề giao kết và
thực hiện hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp lý tại Công ty Luật TNHH IMC : những
mặt thuận lợi, tích cực cũng như những khó khăn, hạn chế. Từ đó, đưa ra một số kiến
nghị nhằm góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật hợp đồng cung ứng dịch vụ trong
thương mại nói chung đồng thời nâng cao hiệu quả quá trình giao kết và thực hiện hợp
đồng cung ứng dịch vụ pháp lý tại Công ty Luật TNHH IMC với các khách hàng.
Vấn đề hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại rất rộng lớn và còn nhiều

4. Trách nhiệm hữu hạn: TNHH
5. Tòa án nhân dân: TAND
6. Viện kiểm sát nhân dân: Viện KSND
7. Cán bộ nhân viên: CBNV
8. Xã hội chủ nghĩa: XHCN
4
4
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Cùng với tiến trình tự do hóa thương mại và sự phát triển ngày càng đa dạng của
các loại hình thị trường trong nền kinh tế thị trường, dịch vụ đóng vai trò ngày càng
quan trọng trong nền kinh tế của hầu hết các nước phát triển. Gia nhập tổ chức Thương
mại thế giới (WTO), Việt Nam đã đạt được một bước tiến dài trong việc nâng cao tỷ
trọng ngành dịch vụ. Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS) ra đời cung cấp một
cách tiếp cận mới về dịch vụ dựa trên khái niệm thương mại dịch vụ, đã mở rộng nội
dung, phạm vi hoạt động và cơ hội trong lĩnh vực này cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Dịch vụ đã trở thành hàng hóa và việc trao đổi, mua bán dịch vụ ngày càng trở nên sôi
động, phổ biến khi thị trường thương mại dịch vụ được mở cửa, tạo sự cạnh tranh
mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp Việt nam với nhau cũng như giữa các doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ Việt Nam với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài. Để có
thể nâng cao sức cạnh tranh trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ trong các hoạt động
thương mại các doanh nghiệp đã sử dụng hợp đồng dịch vụ như một công cụ pháp lý
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia thị trường thương mại
dịch vụ. Hợp đồng cung ứng dịch vụ là một chế định nhằm tạo ra cơ sở pháp lý giúp
cho các chủ thể kinh doanh dịch vụ có được môi trường kinh doanh lành mạnh và bình
đẳng. Tuy nhiên trong thực tiễn hoạt động kinh doanh dịch vụ vẫn còn tồn tại những
khuyết điểm nhất định, môi trường chính sách dịch vụ ở Việt Nam là một hệ thống khá
phức tạp với nhiều loại luật, văn bản dưới luật… Các văn bản quy phạm pháp luật về
cung ứng dịch vụ, hợp đồng dịch vụ còn nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật
khác nhau với hiệu lực pháp lý cao thấp cũng khác nhau, xong vẫn chưa tạo được tính

Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2010): “Chế độ pháp lý về hợp đồng dịch vụ trong
lĩnh vực tư vấn thiết kế trang trí nội thất - thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Mộc
Dũng”. Đề tài tập trung phân tích về hợp đồng dịch vụ trong lĩnh vực tư vấn thiết kế
trang trí nội thất và thực tiễn quá trình thực hiện tại Công ty TNHH Mộc Dũng.
Ngoài những công trình nghiên cứu điển hình ở trên còn có những bài phát biểu,
những bài báo và một số bài viết có liên quan như:
1/ Bài viết của Th.S Hà Công Bảo Anh (2013) “Hợp đồng thương mại dịch vụ và
vai trò của nó đối với doanh nghiệp”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại. Bài viết đưa ra một
khái niệm mới về thương mại dịch vụ, từ đó phân tích vai trò và tầm quan trọng của
loại hợp đồng này đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
2/ Nguyễn Thị Mơ. (2004), “Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở
cửa về dịch vụ thương mại”, NXB Lý luận chính trị. Bài viết tập trung phân tích
ngành dịch vụ thương mại ở Việt Nam, từ đó nêu nên những giải pháp để Việt Nam
mở cửa, hội nhập ngành dịch vụ với thế giới.
Hầu hết các công trình nghiên cứu liên quan đến cung ứng dịch vụ trong hoạt
động thương mại chỉ đưa ra những khái quát về hoạt động thương mại dịch vụ và nêu
lên thực trạng tại Việt Nam hay tại các doanh nghiệp Việt Nam và đưa ra một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thương mại dịch vụ mà chưa đi sâu vào
6
6
nghiên cứu các quy định pháp lý đối với hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động
thương mại nên các thông tin về hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương
mại còn bị hạn chế. Do đó, có nhiều cách hiểu khác nhau trong việc áp dụng các quy
định của pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ vào thực tiễn cũng là điều tất yếu.
Nhằm hiểu và áp dụng các quy định của pháp luật về việc giao kết và thực hiện
các hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại thế nào là đúng, là hợp lý?
Các đặc điểm pháp lý của hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại là
gì? Vai trò của hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt đông thương mại là như thế
nào? Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng cung ứng các dịch
vụ pháp lý của Công ty Luật TNHH IMC diễn ra như thế nào? Các đề xuất giải pháp

đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại. Trong đó, chú trọng sử dụng
phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp so sánh pháp luật để làm rõ mối
quan hệ giữa quy định về hợp đồng dịch vụ trong BLDS 2005 với các quy định về
cung ứng dịch vụ trong luật thương mại 2005.
Ngoài ra đề tài cũng sử dụng các phương pháp thu thập, xử lý số liệu và phương
pháp khảo sát đánh giá thực tiễn để tìm hiểu thêm thực tiễn áp dụng các quy phạm
pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty Luật TNHH IMC, nhằm góp phần
làm rõ thêm thực trạng áp dụng các qui định của pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch
vụ trong các hoạt động thương mại. Qua đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nhằm tăng
cường hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ
trong hoạt động thương mại tại công ty Luật TNHH IMC.
• Phương pháp thu thập dữ liệu:
Thu thập dữ liệu là một giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình
nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội. Phương pháp thu thập thông tin là việc nghiên
cứu, tìm hiểu thông tin về các vấn đề tại doanh nghiệp. Việc thu thập dữ liệu giúp người
nghiên cứu nắm được vấn đề cần nghiên cứu, có phương pháp luận hay luận cứ chặt
chẽ hơn, có thêm kiến thức sâu rộng về lĩnh vực đang nghiên cứu,…Người nghiên cứu
có thể thu thập các tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp. Có nhiều phương pháp thu thập
dữ liệu, khi tiến hành thu thập dữ liệu thường phải sử dụng phối hợp nhiều phương
pháp với nhau để đạt mong muốn.
Thu thập dữ liệu sơ cấp: Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu các văn bản quy phạm
pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ cũng như việc nắm bắt thực trạng áp dụng tại
Công ty Luật TNHH IMC, đã thu thập các dữ liệu sơ cấp từ việc đọc các văn bản quy
phạm pháp luật, các tài liệu của công ty, các báo cáo hàng năm…để lấy cơ sở dữ liệu
hoàn thành đề tài khóa luận.
Thu thập dữ liệu thứ cấp: việc nghiên cứu thông thường bắt đầu từ việc thu thập
thông tin thứ cấp. Nguồn tài liệu này bao gồm: nguồn tài liệu bên trong của Công ty
(Báo cáo về tình hình hoạt động, thực hiện cung ứng các dịch vụ tư vấn pháp lý cho
các khách hàng của công ty) và nguồn tài liệu bên ngoài của công ty (các văn bản quy
phạm pháp luật của nhà nước, sách báo thường kỳ, sách chuyên ngành, thông in thống

5. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài chương mở đầu và những mục có liên quan như lời cảm ơn, mục lục, danh
mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, bài viết gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng cung ứng dịch vụ trong
hoạt động thương mại và pháp luật điều chỉnh hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt
động thương mại.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng cung ứng dịch vụ trong
hoạt động thương mại và thực tiễn áp dụng tại Công ty Luật TNHH IMC
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả áp dụng các quy định của
pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại tại Công ty Luật
TNHH IMC
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP
ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
9
9
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hợp đồng cung ứng dịch vụ
trong hoạt động thương mại
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng
Hợp đồng là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu và hiện tại có khá nhiều khái
niệm về hợp đồng. Trên thực tế, sự tiếp cận khái niệm hợp đồng trong các hệ thống
pháp luật cũng khác nhau. Quan niệm của các luật gia thuộc hệ thống Civil Law xem
hợp đồng như một kết quả phức hợp của ý chí tự do cá nhân cùng nhiều nguyên tắc
pháp lý cơ bảncủa Luật Tư. Theo Geoffrey Samuel: “Khái niệm hợp đồng trong hệ
thống Civil law bị chi phối bởi ba nguyên tắc. Thứ nhất,hợp đồng được xem là kết quả
chung của sự gặp gỡ ý chí của các bên. Thứ hai, đó là pháp luật do các bên lập ra để
ràng buộc chính các bên trong hợp đồng. Vì sự ràng buộc của hợp đồng không chỉ là
hiệu lực pháp lý được dự liệu bởi các bên, mà đó còn là hiệu lực được đảm bảo bởi
pháp luật, bởi tập quán hoặc bởi yêu cầu của nguyên tắc thiện chí, nhằm xác lập trách
nhiệm thực thi hợp đồng phù hợp với bản chất của hợp đồng. Nguyên tắc thứ ba là tự
do hợp đồng: các bên được tự do, trong phạm vi giới hạn của luật công và trật tự

là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự”.
4

Xét về bản chất, hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận của các bên, là kết quả
của quá trình thương thảo và thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền và nghĩa vụ mà pháp
luật có qui định là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng thỏa thuận của các bên. Xét
về vị trí, vai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, thì hợp đồng là một loại giao dịch dân
sự, là một căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự.
Như vậy, hợp đồng là phương tiện pháp lý để các bên tạo lập quan hệ nghĩa vụ.
Có thể nói, định nghĩa trên đã hàm chứa tất cả dấu hiệu mang tính bản chất của hợp
đồng và thể hiện rõ chức năng, vai trò của hợp đồng trong việc làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt quan hệ pháp luật.
1.1.2. Khái niệm hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại
LTM 2005 đưa ra định nghĩa về cung ứng dịch vụ như sau: “Cung ứng dịch vụ
là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có
nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ
(sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử
dụng dịch vụ theo thỏa thuận”.
5
Theo định nghĩa tại điều 518 BLDS 2005 thì “Hợp đồng dịch vụ trong dân sự là
sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên
thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”.
Theo đó, ta có thể rút ra cách hiểu về hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương
mại như sau: “Hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại là sự thỏa
thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện, cung cấp
dịch vụ cho bên sử dụng dịch vụ (khách hàng), còn bên sử dụng dịch vụ phải thanh
toán cho bên cung ứng dịch vụ”. Hợp đồng dịch vụ trong thương mại là hình thức
3 Đinh Văn Thanh, Đặc trưng pháp lý của hợp đồng dân sự, Luật học, số 4/1999,

dịch vụ và điều này đòi hỏi các bên phải có sự am hiểu về tính chất của công việc đó.
Tuy nhiên các dịch vụ này phải là các dịch vụ có thể thực hiện được, không bị pháp
luật cấm và không trái đạo đức xã hội.
Thứ hai, chủ thể của hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại thường được
gọi là bên cung cấp dịch vụ và bên thuê dịch vụ hay còn gọi là khách hàng. Đây là một
điểm khác biệt so với hợp đồng mua bán hàng hóa. Chủ thể của hợp đồng mua bán
hàng hóa thường được gọi là bên bán và bên mua. Cách gọi này thể hiện được sự
chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa trong quan hệ mua bán hàng hóa giữa hai bên, khi
nghĩa vụ của người bán không chỉ đơn thuần là giao hàng mà còn gắn liền với nghĩa
vụ chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa đó cho người mua. Còn cách gọi các chủ thể
12
12
của hợp đồng cung ứng dịch vụ phần nào cho thấy bản chất của hoạt động cung ứng
dịch vụ, đó là việc một bên cung cấp dịch vụ nhưng không chuyển giao quyền sở hữu
dịch vụ đó, bên kia sử dụng và có nghĩa vụ thanh toán.
Thứ ba, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động
thương mại có thể là nghĩa vụ theo kết quả công việc hoặc theo nỗ lực và khả năng cao
nhất. Theo Luật Thương mại 2005 thì nghĩa vụ theo kết quả công việc là trừ khi có
thỏa thuận khác trong hợp đồng, nếu tính chất của loại dịch vụ được cung ứng yêu cầu
bên cung ứng dịch vụ phải đạt được một kết quả nhất định thì bên cung ứng phải thực
hiện việc cung ứng dịch vụ với kết quả phù hợp với các điều khoản và mục đích của
hợp đồng. Còn nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất là nếu tính chất của loại dịch
vụ được cung ứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải nỗ lực cao nhất để đạt được kết
quả mong muốn thì bên cung ứng dịch vụ phải nỗ lực thực hiện nghĩa vụ cung ứng
dịch vụ đó với sự nỗ lực và khả năng cao nhất.
Thứ tư, hợp đồng cung ứng dịch vụ có thể chịu sự điều chỉnh của điều ước quốc
tế về thương mại dịch vụ, luật quốc gia, tập quán thương mại quốc tế và thậm chí cả án
lệ. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh thêm rằng, đối với hoạt động cung ứng dịch vụ, ngoài
các nguồn luật nói trên thì hợp đồng mẫu được sử dụng khá phổ biến, đặc biệt là các
hợp đồng cung ứng dịc vụ vận chuyển hoặc các quy tắc của các tổ chức cung cấp dịch

cung cấp dịch vụ trong bao lâu, mức độ hài lòng được đánh giá như thế nào, tiến độ
thanh toán, trách nhiệm của các bên nếu không thực hiện cam kết của mình.
Hợp đồng có giá trị pháp lý như luật (contract = law) là công thức để giúp cho
các doanh nghiệp có cơ sở bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp xảy
ra. Nếu như sự an toàn của con người, tài sản được bảo đảm trên cơ sở những quy định
trong Bộ Luật hình sự thì sự an toàn và trật tự trong thế giới kinh doanh lại phụ thuộc
vào hợp đồng. Trong kinh doanh, để đi đến hợp đồng là điều khó, nhưng để hoàn
thành một hợp đồng mà các bên đều hài lòng lại là điều khó hơn, thực vậy, khi ký kết
hợp đồng các doanh nghiệp không thể lường trước hết mọi tình huống sẽ xảy ra trong
tương lai, nguyên nhân dẫn đến việc không hoàn thành hay không thực hiện những
thỏa thuận có thể là khách quan nhưng cũng có thể là chủ quan dẫn để dẫn đến tranh
chấp. Vì vậy, hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại sẽ giúp cho các
bên xác định được ai sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của mình và các cơ quan
giải quyết tranh chấp là tòa án hay trọng tài cũng không thể giải quyết một vụ tranh
chấp nếu không có bằng chứng về sự thỏa thuận, cam kết của các bên và một lần nữa
hợp đồng hợp đồng dịch vụ này sẽ trở nên vô cùng quan trọng để qua đó cơ quan giải
quyết tranh chấp sẽ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các doanh nghiệp.
Thứ hai, hợp đồng thương mại dịch vụ là công cụ quan trọng để doanh nghiệp
nâng cao sức cạnh tranh của mình trong hoạt động kinh doanh: Tài chính là một trong
những yếu tố quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Thông qua hợp
đồng, các doanh nghiệp dịch vụ sẽ xác định được chi phí, giá cả theo một thời gian
nhất định trong quá trình cung cấp dịch vụ, tránh được những rủi ro tiềm ẩn trong việc
tăng chi phí khi hoạt động. Từ đó giúp cho doanh nghiệp xây dựng được kế hoạch tài
chính chủ động, là điều quan trọng nhất trong việc thực hiện chiến lược cạnh tranh
tổng quát của doanh nghiệp. Hợp đồng thương mại dịch vụ sẽ giúp doanh nghiệp loại
14
14
bỏ được những đối tác có tư duy “ăn thật làm giả” khi tham gia vào thị trường dịch vụ:
như đã đề cập, sự khó khăn trong vấn đề xác định “hình dáng” dịch vụ cũng chính là
cơ hội để nhiều doanh nghiệp lợi dụng cung cấp những sản phẩm không như mong

thuật và công nghệ mới, tăng năng suất lao động, cải tiến các dây chuyền sản xuất và
phục vụ các nhu cầu sinh hoạt xã hội do đó nhu cầu cần các hoạt động dịch vụ bổ trợ
15
15
cũng sẽ tuân theo ví dụ như dịch vụ phân phối, dịch vụ đại diện, logicstic cũng tăng
lên và hợp đồng thương mại dịch vụ sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm.
Thứ ba, hợp đồng thương mại dịch vụ là công cụ hữu hiệu để doanh nghiệp Việt
Nam thâm nhập thị trường dịch vụ nước ngoài: Cùng với xu hướng phát triển của nền
kinh tế đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì hoạt động
cung cấp dịch vụ không chỉ gói gọn trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà được
rộng sang thị trường quốc tế. Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận
mở rộng thị trường cung cấp dịch vụ của mình. Thâm nhập thị trường dịch vụ nước
ngoài không phải là điều dễ làm khi ở một môi trường mới khác biệt về văn hóa, pháp
luật, chính trị. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải nắm bắt những cơ hội mà mình có
được, đồng thời phải đảm bảo cho mình những quyền lợi, lợi ích và loại bỏ những rủi
ro tiềm tàng trong kinh doanh, hợp đồng vẫn chính là câu trả lời cuối cùng cho những
mục tiêu đó. Ở chiều ngược lại, Việt Nam hiện nay cũng là điểm đến của nhiều doanh
nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp này mang đến nhiều nét mới cho thị trường dịch
vụ ở Việt Nam, việc giao kết những hợp đồng với các doanh nghiệp này sẽ giúp cho
doanh nghiệp Việt Nam đặt nền móng cho mối quan hệ với công ty có quy mô lớn, từ
đó tạo tiền đề cho sự phát triển ra nước ngoài. Trong thương trường quốc tế, doanh
nghiệp Việt Nam vẫn bị đánh giá là yếu thế hơn về tiềm lực tài chính, quan hệ bạn
hàng do đó chúng ta thường bị rơi vào tình trạng bị động trong quá trình đàm phàn.
Pháp luật của các nước hiện nay đều thừa nhận sự thỏa thuận của các bên trong hợp
đồng dù thỏa thuận đó là không công bằng, ở một số nước có quy định loại bỏ những
điều khoản mang tính không công bằng đó nhưng chỉ đối với loại hợp đồng giữa
doanh nghiệp và người tiêu dùng ví dụ như theo điều khoản Luật về các điều khoản
không công bằng của Anh năm 1977 (Unfair Contract Term Act 1977) hoặc Luật mua
bán hàng hóa và dịch vụ của Australia năm 1982 (Supply of Good and services Act

thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Trong đó, cung ứng dịch
vụ là một hoạt động thương mại mà một bên có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một
bên khác và nhận thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa
thuận.
Hoạt động cung ứng dịch vụ là một hoạt động thương mại do đó chịu sự điều
chỉnh của LTM 2005 và pháp luật có liên quan. Tùy từng lĩnh vực cụ thể như dịch vụ
tư vấn, dịch vụ thiết kế, dịch vụ giám định… chịu sự điều chỉnh của các quy định cụ
thể khác nhau. Các hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại cụ thể
chịu sự điều chỉnh của LTM 2005 và BLDS 2005. Trường hợp điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật
nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của
LTM, BLDS thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế. Các bên trong giao dịch nước
ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán quốc tế nếu pháp luật
17
17
nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Việt Nam.
Như vậy, hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại chịu sự điều
chỉnh của LTM 2005, BLDS 2005, Điều ước quốc tế và tập quán thương mại quốc tế
có liên quan.
1.2.2. Một số nội dung cơ bản của pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ
trong hoạt động thương mại
1.2.2.1. Vấn đề về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ
Việc ký kết hợp đồng phải được xem xét trên các khía cạnh: nguyên tắc giao kết,
căn cứ giao kết, chủ thể của hợp đồng, đối tượng của hợp đồng, nội dung và hình thức
của hợp đồng, nội dung. Cụ thể:
• Nguyên tắc giao kết hợp đồng
Nguyên tắc giao kết hợp đồng đó là những tư tưởng chỉ đạo được quán triệt trong
những quy phạm pháp luật về hợp đồng, có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể
trong khi tiến hành ký kết hợp đồng. Trong nền kinh tế thị trường, việc giao kết hợp

Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được, không bị
pháp luật cấm, không trái với đạo đức xã hội. Theo điều 75, LTM 2005, thương nhân
có quyền cung ứng các dịch vụ sau: cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam
sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam; cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt
Nam sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam; cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam
và sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài; cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt
nam sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài.
• Hình thức của hợp đồng
- Hợp đồng dịch vụ được thể hiện bằng lời nói, văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi
cụ thể.
- Đối với các loại hợp đồng dịch vụ mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản
thì phải tuân theo các quy định đó.
6
• Nội dung của hợp đồng
Nội dung của hợp đồng dịch vụ đó là những thỏa thuận của các bên. Các bên có
thể thỏa thuận về các nội dung chủ yếu (theo điều 402 Bộ Luật dân sự 2005) như:
+ Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không
được làm;
+ Số lượng, chất lượng;
+ Giá, phương thức thanh toán;
+ Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
+ Quyền, nghĩa vụ của các bên;
+ Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
+ Phạt vi phạm hợp đồng;
+ Các nội dung khác;
6 Điều 74, LTM 2005 về: “Hình thức hợp đồng”
19
19
Sau khi các bên đàm phán và ghi trong hợp đồng, mọi thỏa thuận ghi trong hợp
đồng ràng buộc các bên. Hợp đồng thể hiện rõ quyền lợi cũng như nghĩa vụ mà mỗi

khách hàng cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện có liên quan. Hoặc được thay đổi
điều kiện dịch vụ vì lợi ích của khách hàng mà không nhất thiết phải chờ ý kiến của
7 Điều 78, LTM 2005 & Điều 522 , BLDS 2005 về: “Nghĩa vụ của bên cung ứng
dịch vụ”
20
20
khách hàng, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại cho khách hàng, nhưng phải báo ngay
cho khách hàng.
8
Theo điều 82, LTM 2005 quy định về thời hạn hoàn thành dịch vụ. Cụ thể: bên
cung ứng dịch vụ phải hoàn thành đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Trường hợp không có thỏa thuân về thời hạn hoàn thành dịch vụ thì bên cung ứng dịch
vụ phải hoàn thành dịch vụ trong một thời hạn hợp lý trên cơ sở tính đến tất cả các
điều kiện và hoàn cảnh mà bên cung ứng dịch vụ biết được vào thời điểm giao kết hợp
đồng, bao gồm bất kỳ nhu cầu cụ thể nào của khách hàng có liên quan đến thời gian
hoàn thành dịch vụ. Trường hợp một dịch vụ chỉ có thể được hoàn thành khi khách
hàng hoặc bên cung ứng dịch vụ khác đáp ứng các điều kiện nhất định thì bên cung
ứng dịch vụ đó không có nghĩa vụ hoàn thành dịch vụ của mình cho đến khi các điều
kiện đó được đáp ứng.
Sau khi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ mà dịch vụ vẫn chưa hoàn
thành, nếu khách hàng không phản đối thì bên cung ứng dịch vụ phải tiếp tục cung ứng
dịch vụ theo nội dung đã thỏa thuận và phải bồi thường thiệt hại, nếu có.
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ (khách hàng):
Khách hàng phải có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ tiền cung ứng dịch vụ như đã
thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu có yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho
việc thực hiện thì phải cung cấp kịp thời. Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung
ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng
có nghĩa vụ điều phối hoạt động của bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đến
công việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào và phải trả tiền dịch vụ cho bên cung
ứng dịch vụ theo như thỏa thuận trong hợp đồng.

hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều 424, BLDS 2005 quy định, hợp đồng chấp dứt trong các trường hợp:
+ Hợp đồng đã được hoàn thành
+ Theo thỏa thuận của các bên
+ Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm dứt mà
hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể đó thực hiện
+ Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện
+ Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn và
các bên có thể thỏa thuận thay thế đối tượng khác hoặc bồi thường thiệt hại
+ Các trường hợp khác do pháp luật quy định
• Hủy bỏ hợp đồng
Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên
kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có
quy định.
Bên hủy bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết việc hủy bỏ hợp
đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
10 Điều 521, BLDS 2005 về: “Quyền của bên thuê dịch vụ”
22
22
Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không còn có hiệu lực từ thời điểm giao kết
và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện
vật thì phải trả tiền.
Bên có lỗi trong việc dẫn đến hợp đồng bị hủy bỏ phải bồi thường thiệt.
• Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
Điều 426 BLDS 2005 quy định chi tiết việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
đồng. Cụ thể:
Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu các bên có thỏa
thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên đơn phương chấm dứt hợp đồng phải thông báo
ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt
hại thì phải bồi thường.

bị phá vỡ. Điều quan trọng là việc giải quyết các tranh chấp đó hoàn toàn phụ thuộc
vào thiện chí của các bên, sự can thiệp của Nhà nước có thẩm quyền hay trung gian chỉ
là giải pháp cuối cùng. Các quan hệ làm hợp tác kinh doanh này đều dựa trên sự thỏa
thuận ý chí bình đẳng của các bên chủ thể, các quan hệ này luôn biến đổi theo sự thay
đổi của thị trường, thời gian và tiền bạc, nên các tranh chấp cũng cần được giải quyết
nhanh chóng, kịp thời. Do vậy, Nhà nước luôn khuyến khích các chủ thể trong quan hệ
hợp động sử dụng các biện pháp tự giải quyết với nhau, chỉ khi không giải quyết được
thì có thể nhờ chuyên gia có kinh nghiệm giải quyết hoặc thông qua trọng tài thương
mại.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các bên tham gia quan hệ thương mại, đầu tư
và hợp tác vừa cạnh tranh với nhau nhằm mục đích thu lợi nhuận tối đa cho mình, các
tranh chấp xảy ra là một điều không thể tránh khỏi. Trong điều kiện đó, việc giải quyết
các tranh chấp phải bảo đảm: giải quyết nhanh, thuận lợi, hạn chế mức tối đa sự gián
đoạn của quá trình thực hiện hợp đồng, đảm bảo dân chủ trong quá trình giải quyết
tranh chấp, bảo vệ uy tín của các bên trên thương trường, bảo đảm yếu tố bí mật trong
kinh doanh, đạt hiệu quả thi hành cao nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích hợp
pháp của các bên.
Trước yêu cầu đó, mục tiêu đặt ra là tạo ra nhiều phương thức giải quyết tranh
chấp khác nhau để các nhà kinh doanh có thể thực hiện quyền tự do của mình. Đồng
thời, bảo đảm các phương thức đó được xây dựng theo hướng từng bước phù hợp với
thông lệ, tập quán quốc tế.
Thể chế kinh tế thị trường cho phép các chủ thể kinh doanh có quyền tự do kinh
doanh trong khuôn khổ pháp luật không cấm. Xuất phát từ quyền tự do kinh doanh,
các chủ thể tự do thỏa thuận và đưa ra các nguyên tắc xử sự, các chủ thể có những lựa
chọn khác nhau cho hành vi của mình trên cơ sở các quy phạm pháp luật mang tính
tùy nghi, các chủ thể có những hành vi và thỏa thuận mà pháp luật không dự liệu
những vẫn không bị xem là trái pháp luật. Đứng trước góc độ Nhà nước thì Nhà nước
được quyền chủ động đưa các tranh chấp đó ra xét xử. Tuy nhiên, quyền tự do thỏa
thuận của các chủ thể kinh doanh phù hợp với pháp luật là một quyền trong quyền tự
do kinh doanh được pháp luật bảo hộ. Vì vậy, các chủ thể kinh doanh có quyền lựa

để giải quyết tranh chấp.
Theo điều 29, BLTTDS sửa đổi bổ sung năm 2011 thì Tòa án có thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại với nhau và
đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ; phân phối;
đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; vận
chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; vận
chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu,
trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai
thác;
25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status