ĐỀ THI THAM KHẢO SỐ 23
BÀI THI MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian phát đề)
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Tôi đang đọc một cuốn sách của người bạn thân Richard Carlson, người vừa mất cách
đây không lâu. Cuốn sách có tựa là Don 't Get Scrooged (Đừng bần tiện) và tôi đọc xong
chương “Chấp nhận: giải pháp tối thượng”. Nó khiến tôi dừng lại và suy nghĩ.
Richard viết: “Chấp nhận nghe có vẻ thụ động, nhưng khi bạn cố gắng chấp nhận, bạn
nhận ra nó hoàn toàn không có nghĩa là không làm gì hết. Đôi khi chấp nhận còn đòi hỏi nhiều
nỗ lực hơn cả than phiền, đối đầu, hoặc ngồi im bất động như bạn vẫn thường làm. Một khi
bạn trải nghiệm sự tự do mà việc chấp nhận mang lại nó trở thành bản chất thứ hai của
bạn.”
Chấp nhận. Tìm kiếm phúc lành đang giấu mình giữa những nghịch cảnh. Thoải mái
trong bất cứ hoàn cảnh nào bạn đang lâm vào. Bám vào câu châm ngôn ngàn xưa rằng cuộc
đời không cho bạn những gì bạn muốn nhưng sẽ gửi đến bạn những gì bạn cần. Tất cả chúng
ta đều có những ngày vất vả, những giai đoạn khắc nghiệt, lúc này hay lúc khác. Đó là vì bạn
và tôi đều đang học trường đời. Thử thách, xung đột, mâu thuẫn, bất an, tất cả đều là phương
tiện để ta trưởng thành. Ngày sẽ sáng lên, và mùa sẽ luôn thay đổi. Khi chấp nhận “điều phải
đến” thì lúc cay đắng sẽ qua nhanh và ngày tươi sáng sẽ dài hơn. Và đó luôn là lời chúc dành
cho bạn.
(Đời ngắn đừng ngủ dài, Robin Sharma, NXB Trẻ, 2014, tr 38)
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2. Anh/ chị hiểu như thế nào là những phương tiện để ta trưởng thành theo quan niệm
của tác giả?
Câu 3. Dựa vào đoạn trích, anh/chị hãy cho biết thế nào là “chấp nhận”?
Câu 4. Lời khuyên “câu châm ngôn ngàn xưa rằng cuộc đời không cho bạn những gì bạn
muốn nhưng sẽ gửi đến bạn những gì bạn cần.” có ý nghĩa thế nào với anh/chị ?
LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trich
Câu
Nội dung
Điểm
ĐỌC HIỂU
3,0
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: nghị luận
1.
0,5
“Phương tiện để trưởng thành” theo tác giả là: “Thử thách,
2.
0,5
xung đột, mâu thuẫn, bất an”.
“Chấp nhận” nghĩa là không phải không làm gì hết, không
phải ngồi im bất động mà phải biết đối đầu. Chấp nhận là
10
3.
biết tìm kiếm những điều phúc lành, những cơ hội hiếm hoi
trong nghịch cảnh. Chấp nhận là thoải mái đón nhận mọi
điều xảy đến trong bất kỳ hoàn cảnh nào…
“Câu châm ngôn ngàn xưa rằng cuộc đời không cho bạn
những gì bạn muốn nhưng sẽ gửi đến những gì bạn cần” có
ý nghĩa rằng không phải những gì bạn muốn sẽ là điều tốt
nhất. Nhưng những gì bạn không thể không có mới thực sự
là cần thiết. Cuộc đời “sẽ gửi đến những gì bạn cần” đó 1,0
4.
chính là những cơ hội. Khi cơ hội đến,bạn hãy nắm bắt và
thực hiện nó. Cơ hội là một hoàn cảnh hay một điều kiện
thuận lợi mà bạn cảm nhận được. Nó sẽ được “gửi” đến
một cách tự nhiên, nếu bạn “nhận” được và nắm bắt cơ hội
phát huy được sức mạnh tiềm ẩn trong con người.
Khi chấp nhận những điều trái ý như một thực tế tất
nhiên phải có, chúng ta sẽ thấy dễ chịu hơn nhiều trong
việc đối mặt và vượt qua, hoặc thậm chí chỉ là để chịu
đựng trong một khoảng thời gian.
Thất bại cho ta thấy những hạn chế của bản thân mình.
Chấp nhận thất bại chính là thừa nhận trách nhiệm, những
gì mình đã làm sai. Thất bại để trưởng thành hơn. Chính
những lần thất bại giúp ta có kinh nghiệm quý giá để tránh
những va vấp về sau. Mỗi lần đứng dậy sau những thất bại
là mỗi lần chúng ta khôn ngoan hơn. Chấp nhận thực tế, tin
vào chính mình để luôn được vui vẻ, hạnh phúc và có động
lực để phấn đấu.
Tuy nhiên trong cuộc sống không phải ai cũng có thể học
được cách chấp nhận. Một số người trở nên yếu đuối, hèn
nhát trước những thử thách. Một số khác thì không tin vào
khả năng của mình, luôn ỷ lại vào người khác, sợ thất bại.
d) Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ
0,25
sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
e) Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả,
0,25
dùng từ, đặt câu.
Cảm nhận về những nỗi niềm băn khoăn trăn trở
5,0
của người ở lại trong đoạn thơ Việt Bắc.
a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận về một đoạn thơ
Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được
0,25
vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận
́
ổ, nhưng sẵn
lòng căm thù giặc sâu sắc.
* 4 dòng thơ giữa:
+ Những câu hỏi gợi cảm giác cô đơn lòng người ở lại
khi chia tay.
+ Vẫn tiếp tục là những câu hỏi tu từ gợi nhớ, người
Việt Bắc hỏi người cán bộ về tình cảm thủy chung sắt son
với Việt Bắc.
* 4 dòng thơ cuối:
+ Câu hỏi thứ nhất, người Việt Bắc hỏi người cán bộ
khi về xuôi rồi còn nhớ tới”núi non” ở Việt Bắc không? Có
nhớ thời kháng Nhật, lúc Việt Minh còn hoạt động ở Việt
Bắc hay không? Câu thơ có liệt kê hình ảnh và sự kiện để
nhắc người cán bộ về xuôi rằng: Việt Bắc là nơi có mặt
trận Việt Minh lãnh đạo cuộc cách mạng đánh Pháp đuổi
Nhật. Việt Bắc là căn cứ quan trọng của cách mạng giải
phóng dân tộc thời kì trước 1945.
+ Câu hỏi thứ hai, người Việt Bắc hỏi người cán bộ
“Mình đi, mình có nhớ mình” hay không, có nhớ cây đa Tân
Trào, mái đình Hồng Thái hay không? Cách hỏi ở câu lục có
thể hiểu từ “mình ” thứ nhất và thứ hai là chỉ người cán bộ
về xuôi, từ “mình” thứ ba chỉ người Việt Bắc. Giữa người
Việt Bắc và cán bộ như đã có sự gắn bó mật thiết, hòa
nhập, tuy hai nhưng đã thành một. Trong câu hỏi, người
Việt Bắc còn kể tên hai địa danh Tân Trào và Hồng Thái,
hai địa danh gắn bó với hai sự kiện quan trọng trước Cách
mạng tháng Tám để khẳng định: Việt Bắc chính là cái nôi
0,75
của cách mạng, là cội nguồn cách mạng.