tiểu luận quản lý rủi ro TD quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần á châu giai đoạn 2015 2018 - Pdf 65

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN
DỤNG
1.1. Rủi ro tín dụng
1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Trong kinh doanh Ngân hàng rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất, thường
xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề có khi dẫn đến phá sản Ngân hàng. Để hiểu rõ rủi
ro tín dụng là gì, trước tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm tín dụng:
Tín dụng được định nghĩa rõ ràng là sự thể hiện cho mối quan hệ vay và cho
vay. Trong đó, người vay có thể là cá nhân hoặc tổ chức, còn người cho vay là ngân
hàng, hoặc tổ chức tài chính tín dụng nào đó. Sản phẩm vay có thể là hàng hóa hoặc
tiền. Tín dụng thể hiện mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng, với
các nhà doanh nghiệp và cá nhân (bên đi vay), trong đó các tổ chức tín dụng chuyển
giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và
bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho tổ chức tín dụng
khi đến hạn thanh toán.
Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các
điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả
nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những
tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương
mại.Giữa bối cảnh cạnh tranh và hội nhập như hiện nay, một trong những vấn đề đặt ra
cho sự tồn tại và phát triển của một Ngân hàng thương mại là khả năng quản trị rủi ro,
đặc biệt là rủi ro tín dụng một cách toàn diện và hệ thống..
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, việc quản lý và phòng ngừa nó rất
khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào... Rủi ro tín dụng nếu không
được phát hiện và sử lý kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác

1


1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được chia thành rủi ro giao

1.1.3. Nguyên nhân rủi ro tín dụng
1.1.3.1. Từ phía ngân hàng:
Thứ nhất: Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ
Sự yếu kém ở đây bao gồm cả về năng lực và phẩm chất đạo đức. Cán bộ Ngân
hàng thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức kinh doanh như: thông đồng với
khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, xâm tiêu khi giải ngân hay thu nợ, đôi khi còn nể
nang trong quan hệ khách hàng. Bố trí cán bộ thiếu đạo đức vào làm công tác thẩm
định cho vay, dẫn đến tình trạng tiêu cực, mà phổ biến nhất là tình trạng cán bộ tín
dụng vay ké hay nhận hối lộ tiền của khách hàng rồi thẩm định sơ sài, nâng giá tài sản

3


thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để cho vay cao, không tuân thủ quy trình
tín dụng.
Thứ hai: Sự thiếu sát sao trong giám sát của các cấp quản lý trong ngân hàng
Việc thẩm định các điều kiện vay vốn trước khi cho vay là rất quan trọng để đi
đến quyết định tín dụng. Tuy nhiên vấn đề giám sát và quản lý khoản vay trong quá
trình giải ngân và sau khi cho vay cũng quan trọng không kém, vì hiện trạng của món
vay luôn thay đổi theo thời gian. Không làm tốt việc kiểm tra sau khi cho vay sẽ không
giúp ngân hàng phát hiện và chủ động giảm thiểu rủi ro tín dụng.Cán bộ tín dụng cần
có sự phê duyệt của lãnh đạo trước khi giải ngân. Vậy nên nếu cấp trên không có sự
kiểm tra, đánh giá xem quyết định của cán bộ đã thực sự chính xác chưa thì nguy cơ rủi
ro tín dụng sẽ là rất cao. Hơn nữa, sau khi giải ngân rồi, cán bộ tín dụng vẫn phải tiếp
tục theo dõi khách hàng để sớm phát hiện ra dấu hiệu của những khoản nợ có vấn đề.
Tuy nhiên, việc theo dõi này đối với nhiều cán bộ chỉ mang tính hình thức. Do vậy, nếu
các cấp quản lý không có sự giám sát đối với cán bộ tín dụng, hoạt động của các cán bộ
tín dụng sẽ không hiệu quả, thậm chí dẫn đến những sai phạm đạo đức trong cho vay
và thu nợ. Ngoài ra, các cơ quan cấp trên không quan tâm đến thực trạng tín dụng của
ngân hàng thì sẽ không có những chỉ đạo kịp thời để ngăn ngừa và xử lý rủi ro xảy ra.

tính toán kỹ hoặc không có khả năng tính toán những bất trắc có thể xảy ra nên khả
năng xảy ra tổn thất với ngân hàng là rất lớn.
Thứ hai, do tình hình tài chính yếu kém, thiếu minh bạch của khách hàng:
Đối với khách hàng vay vốn tiêu dùng, tình trạng nợ nần bên ngoài nhiều nhưng
không khai báo hoặc khai báo nhưng che dấu bớt, không trung thực với ngân hàng khi
vay vốn là một nguy cơ rủi ro đối với ngân hàng. Nhìn chung, về mặt tài chính nếu
5


khách hàng không cung cấp số liệu một cách trung thực, cố tình che giấu thì sẽ rất khó
cho cán bộ ngân hàng trong khâu thẩm định. Thực tế thời gian qua đã cho thấy phần
nhiều trong số rủi ro tín dụng nói chung và tín dụng tiêu dùng nói riêng xuất phát từ
những khách hàng có tình hình tài chính yếu kém, không lành mạnh. Đây cũng là
nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa
cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.
Thứ ba, khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ
vay:
Một số khách hàng vay vốn ngân hàng dưới danh nghĩa tiêu dùng, nhưng khi
nhận vốn về lại sử dụng vào mục đích khác, nguy hiểm nhất là tham gia vào những
hoạt động kinh doanh mạo hiểm, chứa đựng rủi ro cao, kinh doanh những ngành nghề
mà pháp luật cấm, hay sử dụng vốn để trả nợ, cờ bạc, ăn chơi… Kết quả là thất thoát
vốn vay, đời sống người vay không được cải thiện, cộng với khách hàng không thiện
chí và khả năng trả nợ, dẫn đến rủi ro cho phía ngân hàng. Mặc dù trên thực tế đối
tượng KH này là không nhiều, nhưng những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên
quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các khách hàng khác.
Thứ tư, rủi ro liên quan đến tài sản đóng băng nợ vay:
Phát sinh từ việc nhận thế chấp tài sản đang có tranh chấp hoặc tài sản đang bị
kê biên để thi hành án, do phía ngân hàng không nắm được thông tin, bảo hiểm tài sản
hết hạn nhưng không mua bổ sung kịp thời. Việc định giá tài sản đóng băng nợ vay cao
hơn giá trị thực tế của chúng, tình trạng tài sản đóng băng bị giảm giá trị trong thời hạn

trong quy định về thuế, vốn,... cũng như hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng bị tác
động nhiều bởi những văn bản luật về tài sản đảm bảo, dự trữ, trích lập,... Như vậy, các

7


chính sách kinh tế, pháp luật không hoàn chỉnh cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp
về khả năng trả nợ cũng như đe dọa đến sự an toàn của ngân hàng trong cho vay.
1.1.4. Tác động rủi ro tín dụng
Rủi ro trong hoạt động tín dụng có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của ngân
hàng cũng như nó tác động rất mạnh mẽ tới các hoạt động của nền kinh tế. Đó là các
tác động rất xấu đối với ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế, thể hiện ở các khía cạnh
sau:
1.1.4.1. Đối với ngân hàng
Rủi ro làm suy giảm uy tín của ngân hàng: Một ngân hàng có rủi ro lớn là một
ngân hàng hoạt động không có hiệu quả, tình hình đó sẽ được báo chí nêu làm cho dân
chúng thiếu lòng tin và như vậy khó lòng có thể huy động được nguồn vốn dồi dào.
Các ngân hàng vì thế mà lánh xa, không cấp các hạn mức tín dụng, không mở quan hệ
đại lý…
Rủi ro làm cho khả năng thanh toán của ngân hàng giảm sút: Các khoản tín
dụng có rủi ro khiến cho việc hoàn trả gặp khó khăn, trong lúc đó các khoản tiền gửi,
tiền tiết kiệm của của dân cư vẫn phải thanh toán đúng kỳ hạn, trong lúc không huy
động được nguồn vốn dồi dào do mất uy tín, cũng vì thế người rút tiền thấy tình trạng
của Ngân hàng như thế lại rút tiền càng tăng lên, kết quả là Ngân hàng gặp khó khăn
trong khâu thanh toán.
Rủi ro đưa đến kết quả là lợi nhuận suy giảm: Do rủi ro đưa đến nhiều mất mát
thiệt hại về tài chính, thêm vào đó là quá trình mở rộng hoạt động gặp khó khăn bế tắc,
thu nhập kết quả là giảm sút lợi nhuận.
Rủi ro có thể dẫn tới phá sản: Nếu những tác động của rủi ro trên 3 phương diện
nêu trên không được ngăn chặn và cứ phát triển đến một mức độ nào đó sẽ đẩy ngân



Theo Uỷ ban Basel thì quản lý rủi ro tín dụng là việc thiết lập cơ chế nhận
biết, đo lường, quản lý và kiểm soát được các rủi ro hiện tại và rủi ro tiềm ẩn trong hoạt
động tín dụng một cách đầy đủ, nhằm tối đa hoá lợi nhuận được điều chỉnh theo yếu tố
rủi ro bằng cách duy trì mức độ rủi ro tín dụng trong phạm vi chấp nhận được.
Quản lý rủi ro tín dụng là một trong những hoạt động chủ đạo của ngân hàng
thương mại. Quản lý rủi ro tín dụng phải hướng vào việc đảm bảo hiệu quả của hoạt
động tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
ngay cả trong những điều kiện thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro không ngừng
gia tăng.
1.2.2. Quá trình quản lý rủi ro tín dụng
Quy trình quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại được thể hiện
tóm tắt qua sơ đồ như sau:

Nhận biết rủi ro tín dụng: Nhận diện rủi ro tín dụng là quá trình xác định liên tục
và có hệ thống. Bất kỳ khoản vay nào cũng có thể có vấn đề, việc sớm nhận biết vấn đề
và có những biện pháp theo dõi nhanh chóng, chuyên nghiệp giúp các vấn đề, tổn thất
có thể giảm đến mức thấp nhất. Những dấu hiệu cảnh báo sẽ giúp ngân hàng có thể
nhận biết và có giải pháp xử lý sớm các vấn đề một cách hiệu quả. Các dấu hiệu nhận

10


biết phổ biến thường tập trung vào dấu hiệu tài chính và dấu hiệu phi tài chính của
khách hàng vay.
Đo lường rủi ro tín dụng: Đo lường rủi ro tín dụng là việc lượng hóa mức độ các
rủi ro cũng như biết được xác suất xảy ra rủi ro, mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra để
xem xét khả năng chấp nhận nó của ngân hàng. Đây là cơ sở để ngân hàng đưa ra quyết
định cho vay cũng như xây dựng biện pháp ứng phó phù hợp, nhanh chóng với rủi ro

- Quá trình phát triển trong giai đoạn 2015 – 2018
+ Năm 2015, ACB hoàn thành các dự án chiến lược như (i) tái cấu trúc kênh
phân phối, (ii) hình thành trung tâm thanh toán nội địa (giai đoạn 1), (iii) hoàn thiện
phương thức đánh giá hiệu quả hoạt động đơn vị và nhân viên Hội sở; đồng thời cho
khởi tạo và triển khai các dự án ngân hàng giao dịch (transaction banking), ngân hàng
ưu tiên (priority banking), quản lý bán hàng (customer management system),… nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh.
+ Năm 2016, ACB đã hoàn thành theo tiến độ nhiều hạng mục của các dự án
công nghệ hỗ trợ hoạt động kinh doanh, vận hành và quản lý hệ thống, tiêu biểu như
chuyển đổi hệ thống core chứng khoán ACBS; cải thiện các chương trình CLMS,
CRM, ACMS, ELM, PASS để hỗ trợ việc tinh gọn quy trình nghiệp vụ; nâng cấp hệ
thống các máy ATM, website ACB, gia tăng tiện tích, dịch vụ thanh toán cho khách
hàng,…
+ Năm 2017, ACB tiếp tục hoàn thiện các quy trình, chính sách và các hạn mức
quản lý rủi ro nhằm phù hợp với quy định hiện hành của NHNN. Đạt kết quả khả quan
12


về hoạt động vận hành và chất lượng dịch vụ khách hàng. Tăng 20% hiệu suất nhân
viên. Giảm 50% lỗi nghiệp vụ. Mức độ hài long của khách hàng tăng đều qua các năm
và được đánh giá thuộc nhóm các ngân hàng dẫn đầu về chất lượng dịch vụ trên thị
trường.
+ Năm 2018, ACB tăng trưởng bền vững mảng khách hàng các nhân và doanh
nghiệp vừa và nhỏ, kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, và vận hành an toàn. Tín dụng
hai mảng trên tăng trưởng vượt kỳ vọng và có kiểm soát theo đúng định hướng của
ALCO. Huy động tiền gửi thanh toán cải thiện, nâng CASA từ 15.8% lên mức 16.7%.
Hoạt động kinh doanh thẻ cải thiện tích cực so với năm 2017. Phát hành thành công
4,400 tỷ đồng trái phiếu AAA kỳ hạn 3 năm và 10 năm. Xử lý, thu hồi nợ có hiệu quả,
do đó thu nhập từ xử lý nợ đạt gần 4 lần năm 2017


2.1.2.2. Đánh giá chất lượng tài sản
Hình 2.6. Tiền gửi khách hàng, tiền gửi
không kỳ hạn và tỷ lệ CASA

Hình 2.7. Cho vay khách hàng và tăng
trưởng tín dụng

Hình 2.8. Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu

Hình 2.9. Tỷ lệ dự phòng nợ xấu

Huy động tiền gửi khách hàng trong giai đoạn 2015 – 2018 tăng trưởng trung
bình khoảng 11.5%/năm. Tỷ lệ CASA là một tiêu chí quan trọng quyết định chi phí huy
động của một ngân hàng, tính đến cuối năm 2018 thì tỷ lệ CASA của ACB vào khoảng
16.7% ở mức trung bình so với cùng ngành.
Hình 2.10. Tỷ lệ CASA của một số ngân hàng năm 2018

Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của ACB trong giai đoạn 2015 – 2018 tăng trưởng
với tốc độ trung bình khoảng 14.25%. Trong đó, tỷ lệ nợ quá hạn giảm mạnh từ 3.04%
năm 2015 xuống còn 0.89% trong năm 2018 và tỷ lệ nợ xấu giảm từ 1.31% trong năm
14


2015 xuống 0.7% trong năm 2017 nhưng tăng nhẹ lên 0.73% trong năm 2018. Một
điểm đáng chú ý trong chất lượng tài sản của ACB là tỷ lệ dự phòng nợ xấu năm 2018
ở mức 152% cho ngân hàng đang rất thận trong trong các khoản nợ xấu.
Hình 2.11. Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng năm 2018.

2.2. Thực trạng rủi ro tín dụng tại ACB giai đoạn 2015 – 2018
2.2.1. Cơ cấu tín dụng của ACB

về cấp tín dụng đối với từng đối tượng khách hàng, trong đó bao gồm những quy định,
hướng dẫn thẩm định khách hàng. Quy trình thẩm định tại ACB gồm 6 bước:
-

Bước 1: Thẩm định khách hàng vay vốn
Bước 2: Xếp hạng tín dụng khách hàng
Bước 3: Thẩm định phương án đề nghị cấp hạn mức tín dụng của khách hàng
Bước 4: Thẩm định phương án kinh doanh, phương án vay vốn của khách

-

hàng
Bước 5: Thẩm định tài sản đảm bảo
Bước 6: Lập tờ trình thẩm định

Quy trình thẩm định này góp phần hỗ trợ cán bộ tín dụng trong công tác tiếp
cận, thẩm định khách hàng và nhận diện rủi ro tín dụng, giúp các vấn đề, tổn thất có thể
được giảm thiểu đến mức thấp nhất.
2.2.3.2. Về công tác đo lường rủi ro tín dụng
Sau nhiều năm nghiên cứu, triển khai thử nghiệm, năm 2009, ACB đã chính
thức triển khai hệ thống chấm điểm xếp hạng tín dụng nội bộ trên toàn hệ thống để hỗ
trợ cho công tác đo lường và lượng hóa rủi ro tín dụng.
Quy trình chấm điểm tín dụng gồm 6 bước:
-

Bước 1: Xác định ngành nghề kinh doanh
Bước 2: Xác định quy mô doanh nghiệp (ACB quan tâm đến các chỉ tiêu như:
vốn chủ sở hữu, số lượng lao động bình quân, doanh thu thuần, tổng tài sản)
16


sở hạ tầng của nền kinh tế.
Hệ thống quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng của ACB gồm có Ban tín dụng và
Hội đồng tín dụng. Để thực hiện xét duyệt và quyết định cấp các khoản tín dụng, ACB
tổ chức thành 3 cấp: Ban tín dụng tại các chi nhánh, Ban tín dụng Hội sở và cấp cao
nhất là Hội đồng tín dụng. Hội đồng tín dụng gồm 13 thành viên, trong đó có 3 thành
viên Hội đồng quản trị và 10 thành viên ban điều hành.
Ban tín dụng tại các chi nhánh sẽ xem xét cấp tín dụng theo một hạn mức phán
quyết do Hội đồng tín dụng ấn định, tuỳ thuộc vào quy mô và năng lực của từng chi
nhánh. Hồ sơ tín dụng với mức cho vay và bảo lãnh vượt hạn mức phán quyết chi
nhánh được trình cho Ban tín dụng Hội sở; trong trường hợp vẫn vượt hạn mức phán
quyết của Ban tín dụng Hội sở thì hồ sơ sẽ được trình lên Hội đồng tín dụng. Quyết
17


định cấp tín dụng được thực hiện theo nguyên tắc nhất trí 100% của các thành viên xét
duyệt.
Mô hình quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng của ACB đã gần tiệm cận với mô
hình hoạt động ngân hàng chuẩn mực, phù hợp thông lệ quốc tế, tạo dựng một khung
quản lý rủi ro vững chắc, cân bằng giữa lợi nhuận dự kiến và rủi ro có thể chấp nhận
được.
2.2.3.4. Về công tác dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng
ACB đã ban hành đầy đủ các quy định về trích lập dự phòng và xử lý rủi ro tín
dụng trên cơ sở các quy định của Ngân hàng nhà nước. Ngoài ra, mỗi quý một lần, các
chi nhánh của ACB đều thực hiện phân loại nợ và tính toán số tiền phải trích lập dự
phòng rủi ro
2.2.4. Tồn tại trong hoạt động quản trị rủi ro tại ACB
2.2.4.1. Về công tác nhận diện rủi ro tín dụng
Công tác thu thập thông tin để thẩm định khách hàng vẫn tồn tại những hạn chế.
Hệ thống thông tin sử dụng cho việc đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp chưa
đầy đủ, một số thông tin không chính xác, thậm chí có trường hợp doanh nghiệp sửa

của KH (không kiểm soát sau cho vay); Số tiền vay quá lớn so với nhu cầu vốn lưu
động thực sự của KH; KH có nhiều chi nhánh hoặc nhà xưởng ở xa địa bàn của chi
nhánh cho vay; Cho vay đầu tư dự án không phù hợp với khả năng của khách hàng,
dẫn tới việc KH sử dụng nguồn ngắn hạn trả nợ vay trung dài hạn; KH vay tại nhiều
tổ chức tín dụng dẫn đến cạnh tranh quá mức và không kiểm soát được dòng tiền của
người vay; Thời hạn cho vay (nhất là cho vay vốn lưu động) dài hơn mức cần thiết so
với chu kỳ dòng tiền của KH dẫn đến KH sử dụng nguồn tiền nhàn rỗi khi chưa đến
hạn trả nợ NH.
KH không có thiện chí trả nợ vay, cố tình lừa đảo NH: Thiện chí trả nợ vay
của KH là yếu tố liên quan đến tư cách đạo đức của người đi vay, một khi KH không
19


có thiện chí trả nợ thì NH rất khó đòi nợ. KH có chủ đích lừa đảo NH thường xảy ra
đối với doanh nghiệp thành lập nhiều công ty trong cùng một nhóm dẫn đến tiền vay
luân chuyển trong nội bộ các công ty.
Khả năng quản lý kinh doanh kém: Khi các doanh nghiệp vay tiền NH để mở
rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít
doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát
kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp
khi thiếu thông tin thị trường và các đối tác, bạn hàng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kế
hoạch kinh doanh của KH vay, từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay cho ACB.
Hơn nữa, đa số các KH của ACB là các hộ sản xuất kinh doanh theo hình thức gia
đình, việc quản lý kinh doanh chưa thực sự được chú trọng, khi phát sinh các vấn đề
nằm ngoài tầm kiểm soát thường được xử lý một cách không rõ ràng chủ yếu dựa vào
mối quan hệ quen biết mà điều này thường dễ dấn đến rủi ro khi mối quan hệ có
chiều hướng xấu.
Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài
sản, nguồn vốn nhỏ, đòn bẩy cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp
Việt Nam. Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán

CNTT, cụ thể là chương trình CLMS và TCBS chưa đáp ứng được nhu cầu theo dõi
thường xuyên diễn biến của quá trình cấp tín dụng. Thêm vào đó, nhiều khoản tín
dụng được cấp khá vội vàng, chạy theo yêu cầu của KH mà thiếu đi sự phân tích,
thẩm định tín dụng. Việc cấp tín dụng mang tính cảm tính, nặng về tài sản đảm bảo
mà không dựa vào quá trình thu thập thông tin, phân tích và xử lý thiếu thận trọng.
Quá trình giám sát sau cho vay còn tiến hành lỏng lẻo, qua loa, chiếu lệ. Nhiều chi
nhánh tiến hành đầu tư tín dụng ra ngoài địa bàn hoạt động nên việc kiểm tra tình
hình kinh doanh, năng lực tài chính, tính trung thực trong việc sử dụng vốn vay, kiểm
soát dòng tiền của KH không đảm bảo.
Hoạt động kiểm tra nội bộ còn yếu: Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh
tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề
và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên
song song với công việc kinh doanh. Trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra
21


nội bộ của ACB hầu như chỉ tồn tại trên hình thức. Nhận thức được tầm quan trọng
của công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ, hiện nay tại ACB, tuy có chú trọng hơn,
nhưng bộ máy tổ chức chưa thực sự hoàn chỉnh, trình độ nghiệp vụ của nhân viên
chưa đáp ứng được nhu cầu, và cũng một phần do thiếu tính độc lập trong công tác
kiểm tra nội bộ.
Thiếu giám sát và quản lý sau cho vay: Đây cũng là đặc điểm chung của các
NH trong nước, thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định
trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay.
Khi NH cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm
bảo sẽ được hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất
của cán bộ tín dụng nói riêng và c ủa NH nói chung. Việc theo dõi hoạt động của KH
vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa KH và NH
nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên
trong thời gian qua ACB chưa thực hiện tốt công tác này. Điều này một phần do yếu

thường xuyên của NH phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc
nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, với tốc độ tăng trưởng không ngừng của ngành
NH Việt Nam được đánh giá là khá tiềm năng dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng gay
gắt giữa các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập quốc tế cũng
khiến cho các NH trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro
nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các KH có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các NH nước ngoài
thu hút.
Sự tấn công của hàng nhập lậu: Với mức giá rất cạnh tranh hàng nhập lậu
làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và ảnh hưởng nghiêm trọng đến các NH
đầu tư vốn cho các doanh nghiệp này. Các mặt hàng kim khí điện máy, gạch men,
đường cát, vải vóc, quần áo, mỹ phẩm,…là những ví dụ tiêu biểu cho tình hình hàng
lậu ở nước ta.
Thiếu quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý: Cạnh tranh ở nước ta thời
gian qua dẫn đến các ngành nghề phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm
với sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự
bất lực trong vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô của NH. Điều
này dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng
thừa làm ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ hàng hóa trên thị trường và từ đó làm ảnh
hưởng đến hiệu quả của các phương án đầu tư.
23


2.3.2.2. Môi trường pháp lý chưa thuận lợi
Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật: Trong những năm gần đây, Quốc
hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, NHNN và các cơ quan liên quan đã ban
hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động
tín dụng NH. Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có nhưng việc triển khai vào hoạt
động NH thì lại chậm và gặp phải nhiều vướng mắc bất cập. Ví dụ quy định về thủ
tục xử lý tài sản đảm bảo có rất nhiều bất cập: Thủ tục đem tài sản bán đấu giá quá
nhiều nhiêu khê, thời gian khởi kiện kéo dài hàng năm trời, trong khi việc thi hành án

cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là
cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông
tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật.
+ Thông tin cung cấp là chưa đầy đủ, hoàn chỉnh đa số là định lượng chứ chưa

nêu những nhận xét khách quan về thông tin của người vay như tư cách KH,
hay những nguyên nhân của những khoản tín dụng xấu do mối liên kết rất lỏng
lẻo giữa các TCTD và chưa có biện pháp chế tài cho các TCTD khi không
cung cấp hoặc không cung cấp đầy đủ thông tin.
Tóm lại: ACB là một trong những NH hàng đầu trong khối NH TMCP, tình
hình kiểm soát tín dụng thời gian qua khá tốt, và đang chuyển đổi mô hình theo
chuẩn quốc tế. Tuy nhiên hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn những rủi ro đối với bất
kể NH nào và ACB cũng không ngoại lệ.

25


Trích đoạn Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status