SVTH: Nguyễn Văn Hiếu GVHD:TS. Nguyễn Trung Trực1LỜI MỞ ĐẦU Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại là một trong những hoạt
động truyền thống và quan trọng, hoạt động này ngoài việc mang lại lợi nhuận
từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, các chi phí hoạt
động…. thì cũng là một trong những nhân tố góp phần để thu hút khách hàng
sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động này cũng chứa đựng rất
nhiều rủi ro, có thể gây tổn thất lớn cho ngân hàng nếu xảy ra việc khách hàng
không trả nợ cho ngân hàng. Chỉ cần một khách hàng mất khả năng trả nợ thì
bao nhiêu công sức, lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị xóa bỏ một cách nhanh
chóng, nếu đây là khoản vay lớn thì nó còn có thể ảnh hưởng xấu đến tình hình
tài chính và danh tiếng của ngân hàng.
Các ngân hàng thương mại Việt Nam đang trong quá trình phát triển mạnh
về cả số lượng và quy mô hoạt động, sức cạnh tranh trên thị trường tài chính
Việt Nam giữa các ngân hàng ngày càng mạnh mẽ tạo ra áp lực rất lớn cho các
ngân hàng thương mại trong quá trình kinh doanh. Trong áp lực cạnh tranh
ấy Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB ) đã và đang có những bước
chuyển mình để có thể cạnh tranh và tồn tại trong môi trường ngày càng khắc
nghiệt ấy. Trong bước phát triển của mình ACB luôn coi quản lý rủi ro là một
công tác cực kỳ quan trọng và quản lý rủi ro tín dụng là một thành phần cần
được lưu ý nhất vì hoạt động tín dụng hàm chứa rất nhiều rủi ro, có thể gây ra
tổn thất lớn cho Ngân hàng về tài chính và uy tín. Chính vì vậy, việc xây dựng
một hệ thống quản lý tín dụng hiệu quả cho ngân hàng thương mại là một công
Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín
dụng đối với khách hàng (ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước) thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức Tín
dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục
đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả
cả gốc và lãi.”
Căn cứ theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng số 07/1997/QHX đã
được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp
thứ hai thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 10 năm 1998 thì “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín
dụng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng”
Căn cứ theo Điều 49 của Luật này về “Cấp tín dụng” thì Tổ chức tín dụng
được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết
khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính
và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
1.1.2 Bản chất
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản
trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:
SVTH: Nguyễn Văn Hiếu GVHD:TS. Nguyễn Trung Trực3
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là
cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản
cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng
4
chia thành các loại sau:
+ Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản
thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.
+ Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho
tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào
khác.
- Dựa vào phương thức cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các
loại sau:
+ Cho vay theo món vay: là loại cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách
hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp
đồng tín dụng.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại cho vay mà tổ chức tín dụng và
khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong
một khoảng thời gian nhất định.
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà tổ chức tín
dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số
tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng.
- Dựa vào xuất xứ tín dụng, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại
sau:
+ Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu,
đồng thời người đi vay trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng.
+ Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua
lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh
toán như là: Chiết khấu thương mại; bao thanh toán.
1.2 Rủi ro tín dụng
mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét
duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là
rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân
tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu
quả để ra quyết định cho vay.
+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản
trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình
thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và
hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và
kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục (Porfolio rish): là một hình thức của rủi ro tín
dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục
SVTH: Nguyễn Văn Hiếu GVHD:TS. Nguyễn Trung Trực6
cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại
(Intrinsic rish) và rủi ro tập trung (Concentration rish).
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính
riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách
hàng vay vốn.
+ Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá
nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt
động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng
địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
- Sự lơi lỏng trong quá trình giám sát trong và sau khi cho vay nên không phát
hiện kịp thời hiện tượng sử dụng vốn sai mục đích.
- Quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi đó là vật đảm bảo
chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay.
- Chạy theo số lượng (hoặc theo kế hoạch) mà sao lãng việc coi trọng chất lượng
khoản vay, quá lạc quan và tin tưởng vào sự thành công của phương án kinh
doanh của khách hàng.
- Ngân hàng thiếu một bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý
hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề, sản phẩm
địa phương khác nhau để phân tán rủi ro, các dự báo cần thiết trong từng thời kỳ.
- Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng ngân hàng chưa đủ
tầm và vấn đề quản lý sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa đáng.
- Ngân hàng không giải quyết hợp lý quan hệ giữa nguồn vốn huy động và
nguồn vốn sử dụng, cụ thể là: dự trữ vốn quá ít so với nhu cầu bảo đảm thanh
toán, từ đó dẫn đến mất khả năng thanh toán nếu khách hàng có nhu cầu rút vốn
nhiều; hoặc dự trữ vốn quá nhiều, gây ứ đọng vốn, lãng phí trong sử dụng vốn;
hoặc lấy vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn quá mức quy định.
- Cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng chưa thực sự lành mạnh, việc chạy theo
quy mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện trong cho vay, thiếu quan tâm đến
chất lượng khoản vay.
1.2.3.2 Nguyên nhân thuộc về phía khách hàng
- Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay.
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh
doanh cụ thể, khả thi. Số lượng doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý
lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên, những vụ việc
phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh
hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác.
- Năng lực quản lý kinh doanh kém, đầu tư nhiều lĩnh vực vượt quá khả năng
quản lý. Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh
- Sự thay đổi của môi trường tự nhiên như: thiên tai, dịch bệnh, bão lụt gây
tổn thất cho khách hàng vay vốn kinh doanh.
- Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới.
Bởi vì nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông
nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và
nguyên liệu), dầu thô, may gia công,… vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và
giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu.
- Sự tấn công của hàng nhập lậu. Với hàng trăm km biên giới trên bộ và trên biển
cùng địa hình địa lý phức tạp và tình hình nghèo khó của dân cư vùng biên giới,
SVTH: Nguyễn Văn Hiếu GVHD:TS. Nguyễn Trung Trực9
cuộc chiến đấu với hàng nhập lậu đã kéo dài dai dẳng từ rất nhiều năm qua mà
kết quả là hàng lậu vẫn tràn lan tại các thành phố lớn, làm điêu đứng các
doanh nghiệp trong nước và các ngân hàng đầu tư vốn cho các doanh nghiệp
này.
- Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của cơ
quan pháp luật cấp địa phương trong việc triển khai.
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ,
Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản
dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng.
Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có, song việc triển khai vào hoạt động ngân
hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều bất cập.
- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước. Bên
cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm
bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng; năng lực cán
bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu; nội dung và phương pháp
ro thanh khoản. Và kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài
chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm không những trong thị trường nội
địa mà còn lan rộng ra các nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng
xấu có thể dẫn ngân hàng đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không
có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.
1.2.4.2 Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội
Bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung gian
tài chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức,
các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại. Do đó, thực chất quyền sở hữu
những khoản cho vay là quyền sở hữu của người đã gửi tiền vào ngân hàng. Bởi
vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà
quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng.
Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở
các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân
hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp phải khó khăn.
Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó
khăn. Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ
nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất
nghiệp tăng, xã hội mất ổn định. Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến
nền kinh tế thế giới vì ngày nay, nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào
nền kinh tế khu vực và thế giới. Kinh nghiệm cho ta thấy cuộc khủng hoảng
tài chính Châu Á (1997) và mới đây là cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ
SVTH: Nguyễn Văn Hiếu GVHD:TS. Nguyễn Trung Trực11
(1) Tư cách người vay (Character)
Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, mục đích xin
vay của khách hàng có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân
hàng và phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của khách hàng hay không,
đồng thời xem xét lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ; còn khách
hàng mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như từ: trung tâm
SVTH: Nguyễn Văn Hiếu GVHD:TS. Nguyễn Trung Trực12
phòng ngừa rủi ro, từ ngân hàng bạn, từ các cơ quan thông tin đại chúng,…
(2) Năng lực của người vay (Capacity)
Tùy thuộc vào quy định pháp luật của quốc gia. Đòi hỏi người đi vay phải có
năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
(3) Thu nhập của người đi vay (Cash)
Trước hết, phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ
doanh thu bán hàng hay thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát
hành chứng khoán,…
(4) Bảo đảm tiền vay (Collateral)
Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể
dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.
(5) Các điều kiện (Conditions)
Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ
như cho vay hàng xuất khẩu với điều kiện thâu ngân phải qua ngân hàng, nhằm
thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương theo từng thời kỳ.
(6) Kiểm soát (Control)
Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi của luật pháp có liên quan và
quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu
Aaa Chất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất*
Aa Chất lượng cao*
A Chất lượng trên trung bình*
Baa Chất lượng trung bình*
Ba
Chất lượng trung bình mang yếu tố đầu cơ
B Chất lượng dưới trung bình
Caa Chất lượng kém
Ca Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ
C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu
Moody
AAA Chất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất*
AA Chất lượng cao*
A Chất lượng trên trung bình*
BBB Chất lượng trung bình*
BB
Chất lượng trung bình mang yếu tố đầu cơ
B Chất lượng dưới trung bình
CCC Chất lượng kém
CC Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ
C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu
SVTH: Nguyễn Văn Hiếu GVHD:TS. Nguyễn Trung Trực14
1
Nghề nghiệp của người
vay
- Chuyên gia hay phụ trách kinh doanh
10
SVTH: Nguyễn Văn Hiếu GVHD:TS. Nguyễn Trung Trực15
- Công nhân có kinh nghiệm
8
- Nhân viên văn phòng
7
- Sinh viên
5
- Công nhân không có kinh nghiệm 4
- Công nhân bán thất nghiệp 2
2 Trạng thái nhà ở - Nhà riêng
6
- Nhà thuê hay căn hộ
4
- Nhiều hơn 1 năm
5
-
Từ 1 năm trở xuống
2
SVTH: Nguyễn Văn Hiếu GVHD:TS. Nguyễn Trung Trực16
5
Thời gian sống tại địa chỉ hiện hành - Nhiều hơn 1 năm
2
-
Từ một năm trở xuống
1
6
Điện thoại cố
định
0
Khách hàng có điểm số cao nhất theo mô hình với 8 mục tiêu trên là 43
điểm, thấp nhất là 9 điểm. Giả sử ngân hàng biết mức 28 điểm là ranh giới
giữa khách hàng có tín dụng tốt và khách hàng có tín dụng xấu, từ đó ngân
hàng hình
thành khung chính sách tín dụng theo mô hình điểm số như sau:
SVTH: Nguyễn Văn Hiếu GVHD:TS. Nguyễn Trung Trực17Tổng số điểm của khách hàng
Quyết định tín dụng
Từ 28 điểm trở xuống
Từ chối tín dụng
29 - 30
điểm
Cho vay đến 500 USD
31 - 33
điểm
Ngân hàng thương mại không được vượt quá 5%, nghĩa là trong 100 đồng vốn
ngân hàng bỏ ra cho vay thì nợ quá hạn tối đa chỉ được phép là 5 đồng.
Nợ quá hạn (non performing loan – NPL) là khoản nợ mà một phần
hoặc
toàn bộ nợ gốc và / hoặc lãi đã quá hạn.
Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả
đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ. Để đảm
bảo quản lý chặt chẽ, các khoản nợ quá hạn trong hệ thống ngân
h
àng thương
mại Việt Nam được phân loại theo thời gian và được phân chia theo thời hạn
thành các nhóm sau:
+ Nợ quá hạn dưới 90 ngày – Nợ cần chú ý.
+ Nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày – Nợ dưới tiêu chuẩn.
+ Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày – Nợ nghi ngờ.
+ Nợ quá hạn trên 361 ngày – Nợ có khả năng mất vốn.
SVTH: Nguyễn Văn Hiếu GVHD:TS. Nguyễn Trung Trực18
* Tỷ trọng nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay Nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể
đòi,…) là khoản nợ mang các đặc trưng sau:
+ Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các
cam kết này đã hết hạn.
Tổng dư nợ cho
vay
Hệ số rủi ro tín dụng = x 100%
Tổng tài sản có Hệ số này cho ta thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có, khoản
mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng thời
rủi ro tín dụng cũng rất cao. Thông thường, tổng dư nợ cho vay của ngân hàng
được chia thành 3 nhóm:
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng xấu: là những khoản
cho vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho ngân
hàng. Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của
ngân hàng.
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt: là những khoản cho
vay có mức độ rủi ro thấp nhưng có thể mang lại thu nhập không cao cho ngân
hàng. Đây cũng là những khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ
cho vay của ngân hàng.
- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình: là những khoản
cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập mạng lại cho
ngân hàng là vừa phải. Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng
dư nợ cho vay của ngân hàng.
* Tỷ lệ xóa nợ
Các khoản xóa nợ
ròng
Tỷ lệ xóa nợ = x 100%
quản lý rủi ro; trong đó đặc biệt chú trọng việc xây dựng chính sách khách hàng
vay vốn, sổ tay tín dụng, quy định về đánh giá, xếp hạng khách hàng vay, đánh
giá chất lượng tín dụng và xử lý các khoản nợ xấu.
+ Mở rộng tín dụng trung và dài hạn ở mức thích hợp, đảm bảo cân đối thời
hạn cho vay với thời hạn của nguồn vốn huy động.
+ Thực hiện đúng quy định về giới hạn cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính,
bao thanh toán đối với một khách hàng và các tỷ lệ an toàn hoạt động kinh
doanh.
Đối với các trường hợp chây ỳ nhận nợ và trả nợ vay, các tổ chức tín dụng cần
áp dụng các biện pháp kiên quyết, đúng pháp luật để thu hồi nợ vay, kể cả việc
xử lý tài sản thế chấp, cầm cố và bảo lãnh, khởi kiện lên cơ quan tòa án.
Phân tán rủi ro trong cho vay: không dồn vốn cho vay quá nhiều đối với một
khách hàng hoặc không tập trung cho vay quá nhiều vào một ngành, lĩnh vực
kinh tế có rủi ro cao.
Thực hiện tốt việc thẩm định khách hàng và khả năng trả nợ trước khi quyết
định tín dụng.
Mua bảo hiểm cho các khoản tiền gửi, tiền vay.
SVTH: Nguyễn Văn Hiếu GVHD:TS. Nguyễn Trung Trực21
Phải có chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự phòng để đối phó với
rủi ro.
Trước khi cho một khách hàng vay, ngân hàng phải xem xét các điều kiện cơ bản
như là: Khả năng trả nợ của khách hàng so với mức cho vay; Trị giá tài sản đảm
bảo so với mức cho vay; Giới hạn tổng dư nợ cho vay một khách hàng, một
nhóm khách hàng có liên quan;…
phần Á
Châu
2.1 Giới thiệu khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) được thành lập theo Giấy
phép số 0032/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp ngày 24/4/1993,
và Giấy phép số 533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP.HCM cấp ngày
13/5/1993. Ngày 04/6/1993 ACB chính thức đi vào hoạt động, là một trong
những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam được thành lập
trong bối cảnh đất nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường và trụ sở
chính được đặt tại 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3 TP.HCM.
- Về Quy mô hoạt động:
+ Năm 2006: Vốn chủ sở hữu là 1.630 tỷ đồng; Tổng tài sản là 44.346 tỷ
đồng; Về mạng lưới kênh phân phối, tính đến cuối năm 2006, toàn hệ thống
ACB có 80 chi nhánh và phòng giao dịch với tổng số nhân viên là 2.892, trong
đó 90% số nhân viên có trình độ Đại học và Sau đại học.
+ Năm 2007: Vốn chủ sở hữu là 6.258 tỷ đồng; Tổng tài sản là 85.392 tỷ
đồng; Về mạng lưới kênh phân phối, tính đến cuối năm 2007, toàn hệ thống
ACB có 111 chi nhánh và phòng giao dịch tại những vùng kinh tế phát triển trên
toàn quốc với tổng số nhân viên là 4.600, trong đó 93% số nhân viên có trình độ
Đại học và Sau đại học.
+Năm 2009: Vốn chủ sở hữu là 9.640 tỷ đồng; Tổng tài sản là 167.724 tỷ
đồng; Về mạng lưới kênh phân phối,tính đến cuối năm 2009, toàn hệ thống ACB
có 256 chi nhánh và phòng giao dịch tại nhiều địa phương trong cả nước với
tổng số nhân viên là 6.669.
- Quá trình phát triển và một số sự kiện đáng chú ý:
+ Năm 1996, ACB là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của
Việt Nam phát hành thẻ tín dụng quốc tế ACB-MasterCard.
+ Năm 1997, ACB phát hành thẻ tín dụng quốc tế ACB-Visa. Và cũng
phân đoạn khách hàng, quan tâm đúng mức việc phát triển kinh doanh và quản
lý rủi ro.
+ Năm 2003, ACB xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn ISO 9001:2000 và được công nhận đạt tiêu chuẩn trong các lĩnh vực:
Huy động vốn; Cho vay ngắn hạn và trung - dài hạn; Thanh toán quốc tế; và
cung ứng các nguồn lực tại Hội sở. SVTH: Nguyễn Văn Hiếu GVHD:TS. Nguyễn Trung Trực24
+ Năm 2005, ACB và Ngân hàng Standard Chartered (SCB) ký kết thỏa
thuận hỗ trợ kỹ thuật toàn diện. Và SCB trở thành cổ đông chiến lược của ACB.
ACB triển khai giai đoạn hai của chương trình hiện đại hóa công nghệ ngân
hàng bao gồm các cấu phần: nâng cấp máy chủ, thay thế phần mềm xử lý giao
dịch thẻ ngân hàng bằng một phần mềm mới có khả năng tích hợp với công
nghệ lõi hiện nay và lắp đặt hệ thống máy ATM.
+ Năm 2006, ACB được Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội chấp
thuận cho đăng ký giao dịch tại trung tâm kể từ ngày 31/10/2006 theo
Quyết định số 21/QĐ-TTGDHN ngày 31/10/2006.
+ Năm 2007, ACB mở rộng mạng lưới hoạt động, thành lập mới 31 chi
nhánh và phòng giao dịch, thành lập Công ty cho thuê tài chính ACB, hợp tác
với các đối tác như Open Solutions (OSI) - Thiên Nam, hợp tác với Microsoft
về việc áp dụng công nghệ thông tin vào vận hành và quản lý, hợp tác với Ngân
hàng Standard Chartered về việc phát hành trái phiếu. ACB phát hành 10
triệu cổ phiếu và thu được hơn 1.800 tỷ.
+ Trong năm 2009 ACB vinh dự được nhận giải thưởng “ Ngân hàng tốt
nhất Việt Nam” do nhiều tạp chí có uy tín bình chọn, thành lập mới 50 chi nhánh
- Về kế hoạch phát triển trong tương lai, trong năm 2010 ACB khẳng định việc
ACB sẽ tiếp tục giữ vị thế hàng đầu trong hệ thống ngân hàng thương mại
Việt Nam.
ACB
dự định kết thúc năm
2010 với 3.600
tỷ đồng
lợi
nhuận
trước
thuế của
T
ập
đoàn,
210.000
tỷ đồng tổng tài sản,
170.000
tỷ đồng huy động từ
dân cư và tổ chức kinh
t
ế
,
96.000
tỷ đồng dư nợ cho
va
y
,
trong
khi
gắn với nhu cầu của người dân, xây dựng phong cách phục vụ của nhân viên
theo hướng chuyên nghiệp và áp dụng hệ thống công nghệ hiện đại cho hoạt
động ngân hàng.
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian qua
Sau 17 năm hoạt động, ACB luôn giữ vững sự tăng trưởng mạnh mẽ và
ổn định. Và điều này được thể hiện bằng các chỉ số tài chính qua các năm như
sau: