Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế thu nhập cá nhân ở thành phố Cần Thơ - Pdf 65

Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI
TUÂN THỦ THUẾ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ
THU NHẬP CÁ NHÂN Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Nguyễn Quốc Nghi *
TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu
nhập của người nộp thuế thu thập cá nhân (TNCN) ở TP. Cần Thơ. Dữ liệu nghiên cứu được thu
thập từ 224 người có thu nhập chịu thuế theo phương pháp chọn mẫu hạn ngạch (quota). Ứng dụng
phương pháp phân tích cấu trúc tuyến tính SEM, nghiên cứu đã chỉ ra 3 nhân tố tác động tích cực đến
hành vi tuân thủ thuế TNCN của người nộp thuế ở TP. Cần Thơ, đó là kiến thức thuế, tính công bằng
thuế và hệ thống thuế. Cuối cùng, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nâng cao hành vi tuân thủ
thuế TNCN của người nộp thuế.
Từ khóa: Người dân, tính tuân thủ thuế, thu nhập cá nhân, TP. Cần Thơ

FACTORS AFFECTING THE TAX COMPLIANCE BEHAVIOR
OF INDIVIDUAL TAXPAYERS IN CANTHO CITY
ABSTRACT
The study was conducted to determine the factors affecting the tax compliance behavior of
individual taxpayers in Cantho City. The research data were collected from 224 taxable income
earners by quota method. The Structural Equation Modeling (SEM) was used in the study, the
research results showed that there are 3 factors that positively influence the tax compliance behavior
of taxpayers in Can Tho City, namely tax knowledge, tax justice and the tax system. Finally, the study
proposed some recommendations for enhancing the tax compliance behavior of taxpayers.
Key words: taxpayer, tax compliance, individual income tax, CanTho City
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là một sắc
thuế trực thu, ra đời tương đối sớm ở các nước
phát triển và đang áp dụng rộng rãi ở hầu hết các
quốc gia trên thế giới. Tỷ trọng thu ngân sách

tại địa phương. Tuy nhiên, vấn đề thất thu thuế
vẫn chưa được giải quyết triệt để, nguồn thu
thuế hàng năm vẫn chưa đảm bảo kế hoạch ngân
sách. Đặc biệt là tình trạng chưa giám sát được
các hoạt động thu thuế một cách chặt chẽ, chỉ
chờ việc tự giác khấu trừ thuế của các tổ chức
chi trả thu nhập cũng như tự kê khai của cá
nhân. Xuất phát từ vấn đề tự kê khai thuế, đã có
nhiều nghiên cứu phân tích nguyên nhân chính
là do hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế
(Alm và Sanchez, 1995; Richardson và Sawyer,
2001). Từ thực tiễn trên, nghiên cứu này được
thực hiện nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng
đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của người nộp
thuế, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm
nâng cao hành vi tuân thủ thuế TNCN của người
nộp thuế ở thành phố Cần Thơ.

đợi các hành động thông báo tiếp theo từ cơ
quan thuế (Singh, 2003). Theo Richardson và
Sawyer (2001) thì sự tuân thủ về thuế là yếu
tố quan trọng trong việc xác định các đặc tính
hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế, từ đó
có thể phát triển chính sách thuế để tăng mức
độ tuân thủ. Sự tuân thủ thuế được xem là mối
quan tâm của các quốc gia trên thế giới (Alm
và Sanchez, 1995; Frey và Weck-Hanneman,
1984). Sự không tuân thủ không chỉ gây nguy
hiểm cho các dự án, mà còn với các nhóm xã
hội, sự không tuân thủ cũng có thể đóng góp

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý thuyết
Thuế TNCN được xem là một công cụ phân
phối đảm bảo công bằng xã hội. Đây là loại
thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập nhận
được của từng cá nhân. Thông qua đánh thuế
TNCN, Nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập
của những người có thu nhập cao, nhờ đó san
bằng tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa
các cá nhân trong xã hội. Tuân thủ thuế điển
hình có nghĩa là kê khai đúng thu nhập tính
thuế, làm đúng nghĩa vụ pháp lý (sự chính xác),
kê khai thu nhập đúng hạn và thanh toán số
tiền khi tới hạn (tích chất kịp thời) (Franzoni,
1999). Định nghĩa khác về tính tuân thủ thuế
là hành động của một người khi điền vào mẫu
đơn thuế thu nhập, công khai tất cả các khoản
thu nhập chịu thuế một cách chính xác, và
nộp tiền cho tất cả các khoản thuế cần thanh
toán trong giai đoạn quy định mà không phải

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của

45


Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật

(1985) và Palil (2010) chỉ ra rằng, mức quy định
thuế suất càng cao sẽ làm giảm hành vi tuân thủ

của Wenzel, M. (2001) cho rằng người nộp
thuế sẽ tuân thủ luật thuế khi họ đã xác định
và nghĩ rằng họ được đối xử một cách công
bằng và tôn trọng của cơ quan thuế. Mặc dù
những mối quan hệ giữa nhận thức về tính công
bằng và hành vi đóng thuế khá phức tạp, tuy
nhiên luôn tồn tại mối quan hệ tích cực giữa
nhận thức về tính công bằng và tính tuân thủ
của người nộp thuế (Erich et al., 2006). Trên cơ
sở đó, nghiên cứu đề xuất giả thuyết như sau:
H2: Nhận thức về công bằng thuế có tác động
tích cực đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của
người nộp thuế.
Song song đó, nhiều nhà nghiên cứu đã
chính minh các yếu tố thuộc về cơ quan thuế
có tác động nhất định đến hành vi tuân thủ thuế
của người dân. Theo Clotfelter (1983), Slemrod

Trên cơ sở đó mô hình nghiên cứu được
đề xuất như sau:

Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất
46


Tác động của các yếu tố Văn hóa...

Bảng 1: Diễn giải các biến của mô hình nghiên cứu
Khái
niệm

cá nhân càng cao.
thuế
Người nộp thuế thu nhập cá nhân sẽ nhận lại được những
lợi ích từ nhà nước thông qua chính sách phúc lợi và an
sinh xã hội.
Quy trình thủ tục hành chính thuế và các tính toán về thuế
thu nhập cá nhân càng đơn giản thì người nộp thuế càng
tuân thủ thuế.
Các hình thức khuyến khích tuân thủ của cơ quan thuế sẽ
tăng cường sự tuân thủ thuế của người nộp thuế.
Hệ
Các biện pháp tăng cường quản lý thuế của cơ quan thuế
thống
(thanh tra, kiểm tra, xử phạt) sẽ nâng cao mức tuân thủ
thuế
thuế thu nhập cá nhân.
Hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế có tác động
đến sự tuân thủ thuế thu nhập cá nhân.
Mức xử phạt hợp lý và công bằng làm tăng mức tuân thủ
thuế thu nhập cá nhân.
Người nộp thuế thu nhập cá nhân không cố tình tránh thuế
Tuân
thủ
thuế

Cơ quan quản lý thuế buộc người nộp thuế thu nhập cá
nhân phải trả một khoản phạt khi họ trì hoãn việc nộp thuế.
Người nộp thuế thu nhập cá nhân có nghĩa vụ cung cấp đầy
đủ và chính xác thông tin về thu nhập của mình
Người nộp thuế thu nhập cá nhân phải tuân thủ theo đúng

1-5

CBT1
CBT2
CBT3

Likert
1-5
Likert
1-5
Likert
1-5

CBT4

Likert
1-5

HTT1

Likert 1-5

HTT2

Likert
1-5

HTT3

Likert

and Mustapha,
(2011); Palil,
(2010); Houston
và Tran (2001).

Gerbing (1988);
Kinsey et al,
1991;
Falkinger, 1988;
Chung, 2002;
Wenzel (2001);
McEwen và
Maiman, (1986).

Palil (2010);
Jackson và Milliron (1986);
Friedland (1982);
Đào Mộng Long
(2014); Đặng Thị
Bạch Văn (2014).

Singh (2003);
Richardson và
Sawyer (2001);
Madi và Amrizah,
2003 Mohamad et
al., (2007); Lewis
(1982), Palil và
Mustapha (2011).


các đối tượng nộp thuế TNCN có học vấn khá
cao, đa số có trình độ đại học và sau đại học, chỉ
có 16,07% đối tượng nộp thuế có trình độ cao
đẳng và trung cấp. Về cơ cấu nghề nghiệp của
đối tượng nộp thuế TNCN, công chức viên chức
chiếm 28,57%, nhân viên văn phòng chiếm
39,73% và lãnh đạo doanh nghiệp chiếm 31,7%.

2.4. Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu
hạn ngạch (quota) để thu thập dữ liệu. Phương
pháp phân tích cấu trúc tuyến tính (SEM) đòi
hỏi cỡ mẫu lớn vì nó dựa vào lý thuyết phân
phối mẫu (Raykov & Widaman, 1995). Để có
độ tin cậy trong kiểm định độ thích hợp của mô
hình SEM, kích thước mẫu từ 100 đến 200 là
đạt yêu cầu (Hoyle, 1995). Theo Hoelter (1983)
cho rằng, cỡ mẫu giới hạn trong cấu trúc tuyến
tính là 200. Thực tế, nghiên cứu đã thu được 224
quan sát bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp,
đối tượng khảo sát là người nộp thuế đang làm
việc tại các doanh nghiệp, đơn vị hành chính sự
nghiệp trên địa bàn TP. Cần Thơ. Như vậy, cỡ
mẫu đáp ứng yêu cầu kích thước mẫu, đảm bảo
độ tin cậy để kiểm định mô hình.

3.2. Các nhân tố ảnh hưởng hành vi tuân thủ
thuế TNCN
Kiểm tra độ tin cậy thang đo
Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha được sử

5
4

Hệ số tương quan biếntổng nhỏ nhất
0,487
0,701
0,652
0,474

Hệ số Cronbach’s
Alpha
0,840
0,884
0,914
0,772

Nguồn: Số liệu điều tra, 2017
48


Tác động của các yếu tố Văn hóa...

Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Sau bước kiểm định độ tin cậy các thang
đo, nghiên cứu tiến hành phân tích nhân tố khám
phá (EFA) nhằm kiểm định độ hội tụ và mức độ
phân biệt của các thang đo. Kết quả phân tích
được đảm bảo như sau: (1) Độ tin cậy của các
biến quan sát với Factor loading > 0,5; (2) Kiểm
định tính thích hợp của mô hình khi 0,5 < KMO

0,821

KTT5

0,823

F2

CBT1

0,729

CBT2

0,810

CBT3

0,878

CBT4

0,857

F3

HTT1

0,731


TTT4

0,796
Nguồn: Số liệu khảo sát, 2017

Phân tích nhân tố khẳng định (CFA)
Sau bước phân tích EFA, nghiên cứu tiến
hành phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để
kiểm định giá trị hội tụ, giá trị phân biệt, tính
đơn hướng và độ tin cậy của thang đo. Kết quả
kiểm định cho thấy, mô hình phù hợp với thông
tin thị trường với các chỉ số thỏa điều kiện như:
P-value = 0,000 với 129 bậc tự do và Chi-square

theo bậc tự do CMIN/df = 1,671 < 2 (Carmines
và McIver, 1981). Bên cạnh đó, chỉ số TLI =
0,961, CFI = 0,967 đều lớn hơn 0,9 (Bentler
& Bonett, 1980) và RMSEA = 0,055 ≤ 0,08
(Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang,
2008). Điều này chứng tỏ mô hình phù hợp với
dữ liệu thị trường. Các trọng số chuẩn hóa của
thang đo đều > 0,5 và các trọng số chưa chuẩn
49


Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật

một thang đo hơi thấp (< 0,5) nhưng phương sai
trích vẫn có thể chấp nhận giá trị từ 0,4 trở lên
với đảm bảo độ tin cậy tổng hợp phải lớn hơn


0,54

0,840

Tính công bằng thuế

0,89

0,66

0,884

Hệ thống thuế

0,92

0,77

0,914

Hành vi tuân thủ thuế

0,78

0,48

0,772

Nguồn: Số liệu khảo sát, 2017

ước lượng
chuẩn hóa

Giá trị
P-value

TTT

KTT

0,438

0,120

3,631

0,322

***

TTT

CBT

0,285

0,066

4,305


mang lại.

Dựa vào kết quả ở bảng 5 cho thấy, các nhân
tố độc lập đều có mối quan hệ tuyến tính với
hành vi tuân thủ thuế TNCN. Cả 3 nhân tố độc
lập đều có giá trị P-value < 5% và tương quan
thuận với hành vi tuân thủ thuế TNCN nên các
giả thuyết được chấp nhận. Các nhân tố kiến
thức thuế, tính công bằng và hệ thống thuế tác
động tích cực đến hành vi tuân thủ thuế TNCN.
Điều này có nghĩa là, nếu người nộp thuế hiểu
rõ, nắm vững các qui định về thuế TNCN thì
hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế càng
cao. Bên cạnh đó, nếu người nộp thuế nhận thức
được sự công bằng giữa các cá nhân nộp thuế và
lợi ích xã hội từ việc tuân thủ thuế thì hành vi
tuân thủ thuế TNCN sẽ càng tăng. Song song đó,
nghiên cứu còn chỉ ra rằng, nếu các qui trình, hồ
sơ, thủ tục đơn giản, công tác tuyên truyền, giám
sát hợp lý thì hành vi tuân thủ thuế TNCN của
người nộp thuế sẽ càng cao.

Thứ hai, tăng cường tính kỷ luật hợp lý: Bổ
sung thẩm quyền điều tra thuế cho cơ quan thuế.
Hiện nay cơ quan thuế Việt Nam không có chức
năng điều tra, khởi tố tội trốn thuế như các nước
đang áp dụng. Điều này đã hạn chế việc ngăn
chặn kịp thời các trường hợp cố ý trốn thuế với
số lượng lớn hay có hành vi chiếm đoạt tiền thuế
thông qua việc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp.

Thứ nhất, tạo niềm tin về tính minh bạch
và công bằng: Mấu chốt của vấn đề là phải tăng
niềm tin cho người nộp thuế về tính công bằng
51


Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật

Social Measurement: Current Issues, Beverly Hills, CA: Sage.
6. Chung, K. K., 2002. Does Fairness Matter
in Tax Reporting Behavior? Journal of Economic Psychology, 23(6): 771-785.
7. Clotfelter, C. T., 1983. Tax evasion and tax
rates: An analysis of individual returns. The
review of economics and statistics, 65(3):
363-373.
8. Cowell, Frank A., 1990a. Cheating the Government: The Economics of Evasion. Cambridge, MA, MIT Press, 267p.
9. Đặng Thị Bạch Vân, 2014. Xoay quanh vấn
đề người nộp thuế và tuân thủ thuế. Tạp chí
Phát triển và Hội nhập, 16(26): 59-63.
10. Erich, K., Apolonia, N., and Alexander,
W., 2006. Shared subjective views, intent
to cooperate and tax compliance: Similarities between Australian taxpayer and tax
officers. Journal of Economic Psychology,
27(4):502-517.
11. Eriksen K and Fallan L., 1996. Tax knowledge and attitudes towardstaxation: A report
on a quasi experiment. Journal of Economic
Psychology, 17(3): 387–402.
12. Falkinger, J., 1988. Tax evasion and equity:
a theoretical analysis. Public Finance, 43(3):
388- 395.

cản trở quá trình thực hiện và cả công tác kiểm
tra thuế. Đơn giản hóa luật thuế cho cả người
nộp thuế lẫn cơ quan thuế sẽ giúp giảm bớt chi
phí phát sinh trong quá trình thực thi và tuân
thủ luật thuế, đồng thời phải đảm bảo tính công
bằng cho mọi đối tượng nộp thuế, không có sự
bao che cho bất kỳ đối tượng nào.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alm, J. and I. Sanchez, 1995. Economic and
Noneconomic Factors in Tax Compliance.
KYKLOS, 48(1): 3-19.
2. Alm, J., Jackson, B. R., and Mckee, M.,
1993. Fiscal exchange, collective decision
institutions, and tax compliance. Journal
of Economic Behavior and Organization,
22(3):285-303.
3. Andreoni, J., Erard, B. and Feinstein, J.,
1998. Tax compliance. Journal of Economic
Literature, 36(2): 818-860.
4. Bentler, P. M, and Bonett, D. G., 1980. Significance tests and goodness of fit in the
analysic of covariance structures. Psychological Bulletin, 88: 588-606.
5. Carmines, E.G., and Mclver, J.P., 1981. Analyzing Models with Unobserved Variables.
In G.W. Bohrnstedt and E.F. Borgatta (Eds),

52


Tác động của các yếu tố Văn hóa...

17. Friedland, N., 1982. A note on tax evasion as

27. Michael G. Allingham and Agnar Sandmo,
1972. Income tax evasion: a theoretical
analysis. Journal of Public Economics, 1(34): 323-338.

28. Mohamad AA, Mustafa H, Asri M, 2007.
The effects of knowledge on tax compliance behaviors among Malaysian taxpayers.
Proceedings of International Conference on
Business and Information, Tokyo, Japan, 1113.
29. Mohd, P. R., 2002. Taxpayer’s knowledge:
A descriptive evidence on demographic factors in Malaysia. Jurnal Akuntansi & Keuangan, 7(1): 11-21.
30. Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai
Trang, 2008. Nghiên cứu khoa học Marketing - Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính
SEM. NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí
Minh.
31. Nunnally, J, 1978. Psycometric Theory. New
York, McGraw-Hill.
32. Palil, M. R., and Mustapha, A. F., 2011. Factors affecting tax compliance behaviour in
self assessment system. African journal of
business management, 5(33): 12864-12872.
33. Peterson, R., 1994. A Meta-Analysis of
Cronbach’s Coefficient Alpha. Journal of
Consumer Research, 21(2):381-391.
34. Richardson, M., and Sawyer, A. J., 2001. A
taxonomy of the tax compliance literature:
further findings, problems and prospects.
Australian Tax Forum 16(2): 285.
35. Singh, V., 2003. Malaysian Tax Administration. 6th ed. Kuala Lumpur: Longman.
36. Slater, S., 1995. Issues in Conducting Marketing Strategy Research. Journal of Strategic Marketing, 3(4): 257-270.
37. Slemrod, J., Blumenthal, M., and Christian,
C., 2001. Taxpayer response to an increased


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status