BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
------------------
NGUYỄN NGỌC MINH SANG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI
TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TẠI THÀNH PHỐ TÂN AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----------------
NGUYỄN NGỌC MINH SANG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI
TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TẠI THÀNH PHỐ TÂN AN
Chuyên ngành
Mã số
:
:
1.3. Câu hỏi nghiên cứu .............................................................................................. 3
1.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 3
1.5. Mô hình nghiên cứu ............................................................................................. 3
1.6. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................... 7
1.7. Bố cục luận văn .................................................................................................... 7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ
NHÂN TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ TÂN AN......................................... 8
2.1. Tổng quan về Thuế Thu nhập cá nhân ................................................................. 8
2.1.1. Hệ thống thuế .................................................................................................... 8
2.1.2. Thuế Thu nhập cá nhân ..................................................................................... 8
2.1.3. Vai trò................................................................................................................ 9
2.1.4. Một số mặt trái của việc đánh thuế TNCN ....................................................... 9
2.1.5. Hộ kinh doanh cho thuê nhà............................................................................ 11
2.2. Nhận thức về thuế .............................................................................................. 11
2.3. Nhận thức về tính công bằng thuế...................................................................... 12
2.4. Tuân thủ thuế ...................................................................................................... 12
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TÍNH TUÂN THỦ THUẾ TNCN ................................................................ 15
3. 1. Mô hình nghiên cứu giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề nghị ...................... 15
3.1.1. Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế TNCN ... 15
3.1.2. Các giả thuyết nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế
TNCN ........................................................................................................................ 16
3.2.Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................. 17
3.2.1. Nghiên cứu định tính ....................................................................................... 19
3.2.2. Nghiên cứu định lượng ................................................................................... 20
3.3. Xây dựng thang đo ............................................................................................. 22
3.4. Kiểm định các giả thuyết.................................................................................... 24
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
EFA……………………….Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor
Anlalysis)
MST…………………………… Mã số thuế
NNT…………………………… Người nộp thuế
NSNN ......................................... Ngân sách nhà nước
TNCN ......................................... Thu nhập cá nhân
TPTA………………………….Thành phố Tân An
UBND………………………… Ủy ban nhân dân
VPHC………………………… Vi phạm hành chính
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
I. HÌNH VẼ-BIỂU ĐỒ
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu ............................................................................... 18
Hình 4.18 : Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế của người nộp
thuế tại CCT-TP Tân An ........................................................................................... 47
II. BẢNG BIỂU
Bảng 3.3.1 Mã hóa các thang đo nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế TNCN 23
Bảng 4.1 : Thông tin chung về mẫu khảo sát ............................................................ 27
Bảng 4.2: Kết quả thống kê mô tả ............................................................................. 29
Bảng 4.3: Cronbach’s Anpha lần 1 của yếu tố “Kiến thức thuế” ............................. 32
Bảng 4.4: Cronbach’s Anpha lần 2 của yếu tố “Kiến thức thuế” ............................. 35
Bảng 4.5 Cronbach’s Anpha lần 3 của yếu tố “Kiến thức thuế” .............................. 37
Bảng 4.6: Cronbach’s Anpha lần 1 của yếu tố “Nhận thức tính công bằng thuế
TNCN” ...................................................................................................................... 38
Bảng 4.7: Cronbach’s Anpha lần 2 của yếu tố “Nhận thức tính công bằng thuế
TNCN” ...................................................................................................................... 38
Bảng 4.8 Cronbach’s Anpha lần 3 của yếu tố “Nhận thức tính công bằng thuế
TNCN” ...................................................................................................................... 39
Bảng 4.9 Cronbach’s Anpha lần 4 của yếu tố “Nhận thức tính công bằng thuế
thấp trong tổng cơ cấu nguồn thu từ thuế so với các nước khác. Ngày 20/11/2007,
tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hoà Xã Hội chủ Nghĩa Việt Nam Khoá XII
đã thông qua Luật thuế Thu nhập cá nhân. Luật này bắt đầu có hiệu lực từ ngày
01/01/2009 nhằm khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh thuế thu nhập cao.
Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) ra đời nhằm đảm bảo các mục tiêu và quan
điểm: Thứ nhất, đảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp
dân cư, góp phần hạn chế khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong
xã hội. Thứ hai, đảm bảo động viên một cách hợp lý thu nhập dân cư, khuyến khích
mọi cá nhân ra sức lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính
đáng. Thứ ba, việc ban hành và áp dụng thuế Thu nhập cá nhân có tính đến những
bước đi phù hợp với tình hình nước ta và thông lệ quốc tế; kế thừa có chọn lọc
những quy định trong chính sách hiện hành. Thứ tư, góp phần cải cách cơ cấu
nguồn thu ngân sách, đảm bảo tính cân đối, ổn định lâu dài. Theo lý thuyết kinh tế
học về thuế thì ba nguyên tắc chính thiết kế một sắc thuế là: tính công bằng, tính
hiệu quả, tính khả thi về mặt quản lý, (Quốc hội, 2007). Trong hệ thống thuế, thuế
Thu nhập cá nhân liên quan trực tiếp đến con người thực hiện. Đây vừa là đối tượng
thực thi nghĩa vụ thuế, vừa là chủ thể của xã hội. Vì vậy tương tác giữa cơ quan
quản lý thuế với hàng triệu người nộp thuế phải bình đẳng, khách quan và tôn trọng
lẫn nhau, vừa tránh làm thiệt hại đến người nộp thuế có trách nhiệm vừa kiểm soát
nghiêm ngặt những nguy cơ dẫn đến hành vi không tuân thủ Luật thuế Thu nhập cá
2
nhân (Cục Thuế Tỉnh Long An, 2012). Từ năm 2012, Chi cục Thuế thành phố Tân
An đã chuyển từ quản lý thuế Thu nhập cá nhân từ hộ khoán sang hộ kê khai đối với
hộ kinh doanh cho thuê nhà. Với mong muốn tìm hiểu kỹ hơn về các nhân tố ảnh
hưởng tính tuân thuế Thu nhập cá nhân đối với hộ kinh doanh cho thuê nhà nên em
chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế Thu nhập cá
nhân tại thành phố Tân An” làm đề tài nghiên cứu của mình. Đề tài này nghiên
- Sự hiểu biết về thuế, nhận thức thuế và tính tuân thủ thuế TNCN của các hộ
kinh doanh tại khu vực thành phố Tân An như thế nào ?
- Chi cục Thuế thành phố Tân An cần có các giải pháp gì để nâng cao tính
tuân thủ thuế Thu nhập cá nhân đối với hộ kinh doanh cho thuê nhà tại thành phố
Tân An trong thời gian tới ?
1.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thuế Thu nhập
cá nhân đối với hộ kinh doanh cho thuê nhà khi chuyển từ hộ khoán sang hộ kê khai
dưới sự quản lý của Chi cục Thuế thành phố Tân An.
Phạm vi thu thập dữ liệu: Luận văn chỉ nghiên cứu sự cảm nhận và chấp
hành về nghĩa vụ nộp thuế đối với đối tượng người nộp thuế TNCN là hộ kinh
doanh cho thuê nhà trên địa bàn thành phố Tân An.
- Phạm vi nghiên cứu
Đối với đối tượng cho thuê nhà có chịu thuế TNCN hiện nay Cục Thuế tỉnh
Long An phân cấp cho các Chi cục Thuế quản lý thu, do đó tác giả không thể
nghiên cứu Thuế TNCN đối với hộ kinh doanh cho thuê nhà trên địa bàn toàn tỉnh
được. Thành phố Tân An là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa… của tỉnh. Trong
những năm gần đây, số lượng cá nhân chịu thuế TNCN từ việc cho các Doanh
nghiệp, tổ chức tín dụng, cá nhân thuê nhà đã tăng lên rất nhanh, đến năm 2015
thành phố Tân An có 8.231 người chịu thuế, nên tác giả chọn địa bàn thành phố Tân
An để nghiên cứu cho đề tài của mình.
1.5. Mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu "Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá
nhân tại Thành phố Tân An" dựa trên mô hình lý thuyết và đánh giá các nhân tố
ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế thu nhập trên cơ sở gợi ý hai nhân tố ảnh hưởng
trong tài liệu nghiên cứu được thực hiện bởi Trường Đại học Makerere, với đề tài
4
5
thức tích cực về hệ thống thuế nộp thuế về hệ thống thuế, hiểu biết thuế càng nhiều
thì nhận thức về sự công bằng thuế sẽ được cải thiện.
Theo như Harris và Associates (1988), có một nhóm người nộp thuế nhưng
việc kê khai thuế của họ bị tác động chủ yếu do nhận thức về sự công bằng của hệ
thống thuế.
Chung (2002) đã giải thích thêm rằng tầm quan trọng về sự tác động của trao
đổi lợi ích hai bên trong việc kê khai thu nhập, điều này sẽ phụ thuộc vào mức độ
những NNT nhận thức về tính công bằng, từ đó ảnh hưởng đến những quyết định kê
khai của họ. Họ khằng định rằng do việc tăng trình độ hiểu biết tài chính nói chung,
hiểu biết thuế nói riêng mà tính tuân thủ được cải thiện bởi lúc này nhận thức tích
cực về hệ thống thuế. Tuy nhiên, hiểu biết về trốn thuế tăng lên cũng chính là cơ hội
cho những phần tử xấu, sẽ tác động ngược chiều đến tính tuân thủ thuế vì nó hổ trợ
cho việc không tuân thủ những quy định về Thuế ((Jackson & Milliron, 1986).
(Richardson & Sawyer, 2001). Ngoài ra, Eriksen và Fallan (1996) đã khẳng định
rằng có một tác động rất lớn của hiểu biết thuế lên nhận thức về tính công bằng của
những NNT.
6
Ý tưởng thực hiện được trình bày như sơ đồ dưới đây:
Hiểu biết thuế:
- Chi tiết
- Tổng quát
Nhận thức về thuế
tính công bằng
thuế
của biến, và xây dựng thang đo.
Thu thập và xử lý số liệu:
- Khảo sát;
- Làm sạch dữ liệu;
- Mã hóa, nhập dữ liệu.
Phân tích số liệu và diễn giải
- Thống kê mô tả;
- Phân tích nhân tố khám phá;
- Phân tích hồi quy;
- Phân tích khác.
Kiến nghị từ kết quả nghiên cứu
Báo cáo nghiên cứu
Điều chỉnh giả thuyết
Kiểm định giả thuyết
7
Hiểu biết thuế - Chi tiết -Tổng quát
Tính tuân thủ - Không Cư trú -Nợ thuế -Thu nhập tính thuế -Thời gian nộp
Nhận thức về tính công bằng Thuế - Công bằng chung - Trao đổi lợi ích
với nhà nước -Những điều khoản đặc biệt -Cấu trúc thuế suất -Tính tư lợi
(Dựa trên bài đánh giá nghiên cứu bởi các nhà nghiên cứu Chung (2002), Erisksen
và Fallan (1996), Harris và Associates (1988); Jackson và Milliron (1986))
1.6. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành thông qua hai phương pháp:
Hệ thống thuế ở Việt Nam là một hệ thống thuế gồm khoảng 8 loại thuế và
khoảng hơn 100 loại phí và lệ phí được quản lý tập trung. Mọi nguồn thu từ thuế và
lệ phí ở Việt Nam đều do Quốc hội Việt Nam hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt
ra bằng luật và pháp lệnh, và được thu bởi Tổng cục Thuế Việt Nam thông qua các
cơ quan thu của nó là các Cục thuế, Chi cục thuế, Phòng thuế, Đội thuế và Tổng cục
Hải quan Việt Nam thông qua các cơ quan của nó là Cục hải quan, Chi cục hải
quan, và các cán bộ chuyên môn được ủy quyền khác ở khắp các địa phương trong
cả nước. Đối với các phí và lệ phí, các cơ quan thu thuộc các bộ, ngành, chính
quyền địa phương có liên quan được ủy quyền thu.
2.1.2. Thuế Thu nhập cá nhân
Định nghĩa
Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) là loại thuế trực thu, thu vào thu nhập của
cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là loại thuế được áp dụng từ rất
lâu và phổ biến ở nhiều quốc gia nhằm mục tiêu tập trung thu nhập cho Ngân sách
nhà nước (NSNN) và thực hiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Thông
qua điều tiết một phần thu nhập vào NSNN, những cá nhân có thu nhập cao đã đóng
góp nhiều hơn những người có thu nhập thấp vào việc trang trải những nhu cầu chi
tiêu của nhà nước, nhu cầu chi tiêu chung của xã hội; các khoản đóng góp này mang
lại cho người nghèo những tiện ích phúc lợi mà bản thân họ không lo liệu được.
Đặc điểm
Nhìn chung thuế TNCN bao hàm một số đặc điểm sau:
- Là một loại thuế trực thu nên thuế TNCN luôn tạo cảm giác gánh nặng về
thuế đối với người chịu thuế. Người chịu thuế khó có thể chuyển gánh nặng về thuế
9
cho người khác. Đây là loại thuế liên quan trực tiếp đến lợi ích của người chịu thuế,
do đó rất nhạy cảm và dễ bị phản ứng.
- Do thực hiện vai trò điều tiết công bằng thu nhập giữa các tầng lớp dân cư,
10
nội dung khó hiểu, nhất là trong việc xác định khoản thu nhập chịu thuế và các
khoản chiết trừ gia cảnh.
- Thứ hai: mặc dù thuế TNCN được xem là công cụ để điều tiết thu nhập, tạo
ra sự công bằng trong xã hội nhưng vẫn có những lo ngại cho rằng trong quá trình
xây dựng đạo luật thuế này đòi hỏi phải có nhiều cuộc tranh cãi về mặt chính trị mà
trong các cuộc tranh luận đó, những người giàu có trong xã hội thường giành được
những đặc quyền đặc biệt và do vậy sẽ làm giảm tính hiệu quả về tính công bằng
của việc thu thuế thu nhập và làm tăng các khoản chi phí về lòng tin khi tiến hành
thu thuế TNCN. Hơn thế nữa, trong việc thu thuế TNCN, người ta thường dựa vào
thu nhập của đối tượng và đặc tính của đối tượng (ví dụ như người độc thân và
người có gia đình) để xem xét sự công bằng. Tuy nhiên, điều này sẽ phải đối mặt
với một khó khăn rất lớn trong việc xác định sự công bằng giữa những người làm
việc trong các hoạt động kinh tế chính thức và những người làm việc trong các hoạt
động kinh tế phi chính thức. Ví dụ, một người thanh niên độc thân làm cho công ty
nhà nước có thể sẽ phải chịu thuế (do thu nhập của anh được thể hiện trên bảng
lương) còn một người thanh niên độc thân làm việc trong thị trường phi chính thức
như giúp việc gia đình, tự môi giới nhà đất... có thể không bị đánh thuế do cán bộ
thuế không biết được thu nhập của anh ta. Sự công bằng không tồn tại trong trường
hợp này. Trong nền kinh tế phổ biến các hoạt động kinh tế phi chính thức, tình trạng
này vi phạm đến nguyên tắc công bằng theo chiều ngang. Xét đến nguyên tắc công
bằng theo chiều dọc, sự vi phạm nguyên tắc công bằng có thể trầm trọng hơn nếu bộ
máy quản lý và thu thuế có năng lực kém. Khi hệ thống đó không kiểm soát được
thu nhập thực tế của công dân thì những người thu nhập cao sẽ có cơ hội thuê
những chuyên gia tư vấn để sắp xếp lại các báo cáo tài chính của mình để trốn thuế.
Điều này là khó xảy ra hơn đối với những người thu nhập thấp thuộc diện đóng
thuế. Do vậy, hệ thống quản lý và thu thuế yếu kém sẽ hạn chế tính ưu việt của thuế
TNCN trong việc xác định sự công bằng theo chiều dọc.
- Thứ ba: việc thu thuế TNCN có thể làm tăng NSNN nhưng cũng có thể tạo
sự là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực, phù hợp
với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN:“Đóng thuế là nghĩa vụ của mọi
công dân, ai có thu nhập người đó phải đóng thuế”. Thuế suất thuế thu nhập cá nhân
12
của mọi công dân đều như nhau, không phân biệt người thu nhập nhiều hay thu
nhập ít.
Chi cục thuế cũng đã đưa ra nhiều giải pháp để làm tăng tính tuân thủ thuế và
trình độ nhận thức thông qua những chương trình giáo dục chuyên sâu cho người
nộp thuế, ví dụ sự chủ động lấy thông tin. Nhiều chương trình, bài giảng đa dạng
mang tính thích nghi, thực tế như những hội nghị chuyên đề, hội thảo, khóa tập
huấn thuế, các buổi trao đổi trên radio trực tiếp và các trang web thuế của tỉnh.
2.3. Nhận thức về tính công bằng thuế
Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ
phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà
nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng
nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội
do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật.
Đất nước ta hiện nay không ít người trên giấy tờ thì mức thu nhập cá nhân là
thấp, nhưng thực tế lại rất cao, Nhà nước không kiểm soát được. Thuế suất thuế thu
nhập cá nhân tính bằng %, có thể từ 0,5 đến 1% theo mức tổng thu nhập quốc dân
hằng năm. Kiểm soát việc thu nhập cá nhân giữa tổ chức với cá nhân; cá nhân với
cá nhân như: Trả lương, trả thưởng, trả các khoản thu nhập khác bằng hệ thống tài
khoản mở tại các chi nhánh ngân hàng. Nhà nước quy định mức tối đa mỗi lần thu
và nộp tiền mặt vào tài khoản ngân hàng của mọi công dân khi có giao dịch bằng
tiền mặt. Tuyên truyền, hướng dẫn, giáo dục cho toàn dân biết sử dụng tài khoản cá
nhân mở tại ngân hàng gần nhất cho mình. “Hôm nay có sức lao động, có thu nhập
cá nhân thì phải đóng thuế, để ngày mai không còn sức lao động, không có thu nhập
hiện kỹ thuật thảo luận tay đôi với một số cá nhân nộp thuế đã và đang kê khai thuế
tại Đội kê khai kế toán thuế và tin học trên cơ sở các gợi ý hai nhân tố ảnh hưởng
đến tính tuân thủ thuế trong tài liệu nghiên cứu nước ngoài, được thực hiện bởi
Trường Đại học Makerere, với đề tài Tax Knowledge, Perceived Tax fairness and
Tax Compliance tại Uganda năm 2008 và các nhân tố có được từ thảo luận nhóm.
Từ đó, xác định lại các nhân tố ảnh hưởng và chọn ra các biến quan sát được nhiều
cá nhân nộp thuế hiểu, quan tâm và cho là quan trọng nhất.
Tuy nhiên, do việc nộp tất cả các loại thuế nói chung và thuế thu nhập cá
nhân nói riêng có nhiều điểm khác biệt, cũng như đối tượng nộp thuế khảo sát là hộ
kinh doanh cho thuê nhà vậy nên việc áp dụng cứng nhắc thang đo theo mô hình
nghiên cứu trước đây là thực sự chưa phù hợp. Trên cơ sở đó, giai đoạn nghiên cứu
là cần thiết để điều chỉnh thang đo, xây dựng bảng phỏng vấn chính thức phù hợp
với việc nộp thuế thu nhập cá nhân của những hộ kinh doanh cho thuê nhà trên địa
bàn thành phố Tân An.
Theo đề tài nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế thu
nhập cá nhân của trường Đại học Makerere thì ban đầu có thể rút ra hai yếu tố ảnh
hưởng đến tính tuân thủ Thuế TNCN, đó là: hiểu biết thuế và nhận thức về công
bằng của người nộp thuế. Hiểu biết thuế được đo lường liên quan đến khả năng
người nộp thuế tính toán thu nhập và tài sản phải nộp theo nghĩa vụ của luật thuế
với nhiều người khác nhau trong nhiều tình huống khác nhau. Hiểu biết thuế rõ ràng
16
kết hợp thông tin về những quy định thuế và những hiểu biết tài chính để có thể tính
toán ra những kết quả mang tính kinh tế có lợi nhất cho người nộp thuế. Những câu
hỏi được lập ra trong những điều khoản rõ ràng để giải quyết những vấn đề hiểu
biết thuế cụ thể, bên cạnh đó cũng có những câu hỏi khảo sát chuẩn chỉ mang tính
"lý thuyết" cũng được sử dụng để đánh giá hiểu biết thuế nói chung (Jonas, 2003).
Nhận thức về tính công bằng thuế được đo lường dựa vào nghiên cứu của