ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN QUANG SÁNG
TỔ CHƢ́C PHỐI HỢP CÁC LƢ̣C LƢỢNG TRONG
GIÁO DỤC LUẬT GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ CHO HỌC SINH
Ở TRƢỜNG THPT THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG,
TỈNH HẢI DƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2016
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN QUANG SÁNG
TỔ CHƢ́C PHỐI HỢP CÁC LƢ̣C LƢỢNG TRONG
GIÁO DỤC LUẬT GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ CHO HỌC SINH
Ở TRƢỜNG THPT THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG,
TỈNH HẢI DƢƠNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
nguyên, đặc biệt là GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt,
giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển
khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài "Tổ chức phối hợp các lực lượng trong
giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho học sinh THPT ở thành phố Hải
dương, tỉnh Hải Dương"
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo - Các nhà khoa học đã trực tiếp
giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành Quản lý giáo dục
cho bản thân tác giả trong nhưng năm tháng qua.
Xin gởi tới cảm ơn tới Sở GD&ĐT Hải Dương, các trường THPT thành
phố Hải Dương, các cơ quan lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi giúp tác giả thu thập số liệu cũng như những tài liệu nghiên cứu cần thiết
liên quan tới đề tài tốt nghiệp.
Xin ghi nhận công sức và những đóng góp quý báu và nhiệt tình của các
bạn học viên lớp QLGDK22A, đã đóng góp ý kiến và giúp đỡ tác giả. Có thể
khẳng định sự thành công của luận văn này, trước hết thuộc về công lao của tập
thể, của nhà trường, cơ quan và xã hội. Đặc biệt là quan tâm động viên khuyến
khích cũng như sự thông cảm sâu sắc của gia đình. Nhân đây tác giả xin được
bày tỏ lòng biết ơn sâu đậm.
Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn các đơn vị và cá nhân đã hết
lòng giúp đỡ. Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình của quý Thầy
Cô, các nhà khoa học, đọc giả và các bạn đồng nghiệp về nội dung Luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – iiĐHTN
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................ i
ĐHTN
1.3.4. Một số đặc điểm tâm lý học sinh trung học phổ thông hiện nay ............ 26
1.4. Cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo
dục luật giao thông đường bộ ở trường trung học phổ thông ................. 30
Kết luận chương 1 .......................................................................................... 32
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC PHỐI HỢP CÁC LỰC LƢỢNG
TRONG GIÁO DỤC LUẬT GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ CHO HỌC SINH
TẠI CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HẢI
DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG ........................................................................ 34
2.1. Thực trạng công tác tổ chức giáo dục pháp luật ở trường THPT .............. 34
2.2. Đánh giá chung về công tác tổ chức giáo dục pháp luật, và cụ thể với
tổ chức giáo dục Luật giao thông đường bộ trong trường học ................. 37
2.3. Thực trạng triển khai các biện pháp tổ chức GDPL, Luật, Luật giao
thông đường bộ cho học sinh trường THPT ở TP. Hải Dương ................ 44
Kết luận chương 2 .......................................................................................... 49
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC PHỐI HỢP CÁC LỰC LƢỢNG
TRONG GIÁO DỤC LUẬT GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ CHO HỌC SINH
CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ HẢI
DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG ........................................................................ 50
3.1. Các nguyên tắc xây dựng các biện pháp ................................................... 50
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu ........................................................ 50
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn ........................................................ 50
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả ........................................................ 50
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi ........................................................... 50
ATGT
:
An toàn giao thông
BCĐ
:
Ban chỉ đạo
CSVC
:
Cơ sở vật chất
GD-ĐT
:
Giáo dục - Đào tạo
GDLGTĐB
:
Giáo dục luật giao thông đường bộ
KT - XH
:
Kinh tế - Xã hội
LGT
:
Luật giao thông
LGTĐB
:
Luâ ̣t giao thông đư ờng bộ
QLGD
:
Quản lý giáo dục
TNCSHCM
:
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
lý các trường THPT thành phố Hải Dương) .................................. 46
Bảng 2.7: Những yêu cầu đối với giáo viên, tuyên truyền viên để tuyên
truyền tốt Luật giao thông đường bộ ............................................. 47
Bảng 3.1: Kết quả tính % các ý kiến về các biện pháp giáo dục pháp luật,
GDLGTĐB ................................................................................... 83
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – vĐHTN
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục (GD) phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo dựng
mặt bằng dân trí, đáp ứng yêu cầu phát triển chất lượng nguồn nhân lực chất
lượng cao và kinh tế - xã hội (KT - XH) của một quốc gia. Trong thời đại ngày
nay, với tốc độ phát triển rấ t nhanh c ủa khoa học kỹ thuật và công nghệ, việc
nhanh chóng hòa nhập vào cộng đồng khu vực và thế giới, đòi hỏi giáo du ̣c phổ
thông phải có những bước tiến mới mạnh mẽ, giúp học sinh(HS) phát triển toàn
diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng sống cơ bản, hình
thành nhân cách toàn vẹn con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chuẩn bị cho
các em tiếp tục học lên các bậc học cao hơn hoặc đi vào cuộc sống lao động
sáng tạo, tham gia xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.
Điều 2 Luật Giáo dục (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 đã ghi rõ: “Mục tiêu
giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri
thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp,…; hình thành và bồi dưỡng nhân
cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2011- 2020) của nước ta, nêu rõ; “
pháp luật giao thông đường bộ cho học sinh trường trung học phổ thông và
thực trạng tổ chức phối hợp các lực lượng trong việc giáo dục Luật giao thông
đường bộ cho học sinh các trường trung học phổ thông ở thành phố Hải Dương,
tỉnh Hải Dương để đề xuất các biện pháp quản lý HĐGDLGTĐB cho học sinh
trường THPT ở TP. Hải Dương một cách phù hợp, có tính khả thi, góp phần
nâng cao nhận thức cho học sinh am hiểu pháp luật, có ý thức và trách nhiệm
với bản thân, xã hội khi tham gia giao thông.
3. Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Tổ chức phối hợp giáo dục Luật giao thông đường bộ cho
học sinh ở các trường THPT thành phố Hải Dương.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục pháp luật, giáo dục LGTĐB
cho học sinh THPT thành phố Hải Dương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 2ĐHTN
4. Giả thuyết khoa học
Vấn đề ATGT là một vấn đề mang tính quốc gia và cấp thiết. Do đó,
giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh các trường THPT cần được tổ
chức phối hợp các lực lượng. Tuy nhiên, trong những năm qua, công tác phối
hợp các lực lượng giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh các trường
phổ thông trên địa bàn thành phố Hải Dương còn nhiều bất cập. Nếu có những
biện pháp phù hợp với thực tiễn thì có thể nâng cao hiệu quả HĐGD Luật giao
thông đường bộ; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trường
THPT trên địa bàn thành phố Hải Dương.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt mục đích trên, đề tài tập trung thực hiện các
nhiệm vụ sau:
5.1. Xác lập cơ sở lý luận về tổ chức phối hợp các lực lươ ̣ng trong viê ̣c
giáo dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh các trường trung học phổ thông.
phương pháp thống kê trong toán học để xử lý và phân tích các số liệu thu thập
được từ bảng hỏi.
7.3.2. Phương pháp đàm thoại: điều tra việc thực hiện luật giao thông với
mọi đối tượng tham gia giao thông.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có
3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo
dục Luật giao thông đường bộ cho học sinh trường trung học phổ thông.
Chương 2. Thực trạng tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục
Luật giao thông đường bộ cho học sinh tại các trường trung học phổ thông
thành phố Hải Dương tỉnh Hải Dương.
Chương 3. Biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng trong giáo dục Luật
giao thông đường bộ cho học sinh các trường trung học phổ thông tại thành phố
Hải Dương tỉnh Hải Dương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 4ĐHTN
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC PHỐI HỢP CÁC LỰC LƢỢNG
TRONG GIÁO DỤC LUẬT GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ CHO HỌC
SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu lớn trong nước đề cập đến
vấn đề GDPL nói chung và GDPL trong nhà trường nói riêng như đề tài: Ý thức
pháp luật và GDPL ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Đình Lộc (1977); Về tâm lý
Nam; đánh giá thực trạng hiểu biết pháp luật và thái độ hiểu biết pháp luật của
nhân dân hiện nay; các hành vi vi phạm pháp luật; các hành vi tuân thủ pháp
luật, chính sách pháp luật và hệ thống pháp luật - cơ sở của việc xây dựng ý
thức và lối sống theo pháp luật; hoạt động áp dụng pháp luật, các tuân thủ pháp
lý, cơ chế bảo vệ quyền con người và vấn đề xây dựng lối sống theo pháp luật.
Tác giả Trần Văn Thu và Bùi Thị Hòe trong công trình “Giáo dục văn
hóa truyền thống mang bản sắc dân tộc cho sinh viên và học sinh, chuyên
nghiệp”, đã lý giải vì sao phải giáo dục văn hóa truyền thống mang bản sắc dân
tộc cho sinh viên - học sinh truyên nghiệp, nội dung giáo dục và giáo dục nền
văn hóa truyền thống cho học sinh-sinh viên như thế nào.
Luận văn thạc sĩ: “Thực trạng và một số biện pháp ngăn ngừa giáo dục
trẻ em huyện Long Thành-tỉnh Đồng Nai” của tác giả Lê Minh Hoàng đã trình
bày thực trạng trẻ em phạm pháp ở Long Thành và một số biện pháp ngăn ngừa
trẻ em phạm pháp.
Hay trong Luận văn thạc sĩ: “Một số biện pháp giáo dục phòng chống tệ
nạn ma túy trong trường THCS ở Quận 11, TP. Hồ Chí Minh” đã nêu bật cơ sở
lý luận và thực trạng giáo dục chống ma túy trong các trường THCS ở Quận
11, TP. Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp giáo dục phòng chống tệ nạn
ma túy trong học đường.
Như vậy, ở trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu một số lĩnh
vực nội dung và phương thức GDPL, song chưa có công trình nào tập trung đi
sâu tìm hiểu một cách có hệ thống về các biện pháp tổ chức GDPL cho học
sinh ở trường THPT trong điều kiện hiện nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 6ĐHTN
Nghiên cứu tổng quan vấn đề từ việc khảo sát các đề tài liên quan ở
trong nước đã cho phép tôi nhận xét:
đào tạo nhân cách, nhưng kết quả đào tạo đạt được của giáo dục công dân trong
nhà trường về vấn đề này ít rõ ràng.
Tại nhiều nước đã rất chú trọng đưa chương trình GDCD, GDPL vào
trường học bằng nhiều nội dung và hình thức phong phú, phù hợp với môi
trường giáo dục của từng quốc gia. Có thể dẫn chứng:
Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học ở Macao: Đây là chương trình
giáo dục đạo đức nhằm tạo ra thế hệ trung thực mới Hội đồng chống tham
nhũng ở Macao khuyến khích những người trẻ nhận biết được tầm quan trọng
của tính chính trực qua hoạt động trò chơi và thảo luận. Đặc biệt giáo dục của
nước họ, họ đưa thanh niên vào sân chơi được gọi là thiên đường của chính
trực hình thức của một buổi học năng động sáng tạo. Mục đích của chương
trình để truyền đạt những thông điệp:
- Tính lương thiện và chính trực là giá trị xã hội quan trọng mà nó lên
được quý trọng;
- Chống tham nhũng không nên được tha thứ và nó có hại cho mọi người
trong xã hội. Từ đó nhận biết được tham nhũng là hành động xấu và chống
tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng của công dân.
Đưa nội dung những bài học anh hùng chống tham nhũng vào chương
trình giáo dục ở Italia:
- Nhà trường ở nước Italia đưa chương trình anh hùng chống tham nhũng
vào giáo dục với đề tài: Anh hùng ngày nay...Nhà trường đã đưa chương trình
giáo dục đạo đức của tổ chức minh bạch thế giới(TI) và Italia nhằm khuyến
khích sự phản ánh cho học sinh về trách nhiệm cá nhân, và tự do suy nghĩ để
nhấn mạnh khả năng tư duy, xem xét hành vi cá nhân phù hợp đạo lý và pháp
luật quốc gia. Chương trình thực hiện thông qua hội thảo, cứ mỗi tháng 2 lần
hội thảo với sự tham gia 151 trường học. Với các cá nhân diễn thuyết uy tín
đến từ các chính khách, nhà báo, quan tòa, nhà thầu, vận động viên, những
hiệu quả nhất.
1.2. Những luận điểm khác nhau về GDPL
Qua nghiên cứu các nguồn tài liệu trong nước về quan niệm giáo dục
pháp luật và cụ thể là giáo dục luật giao thông đường bộ chưa có một cách hiểu
hay quan điểm nhất quán lên đã gây ra khó khăn trong nhận thức cũng như việc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – 9ĐHTN
triển khai chương trình, hình thức, biện pháp giáo dục pháp luật nói chung và
giáo dục Luật giao thông đường bộ nói riêng.
Từ các tài liệu, có thể nêu lên các quan điểm sau đây:
Quan điểm thứ nhất: Giáo dục pháp luật không phải là một bộ phận
độc lập trong hệ thống giáo dục phổ thông. Nó là một nội dung, một bộ phận
giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức. Và cụ thể hơn giáo dục Luật
giao thông đường bộ cho học sinh không phải là không phải là môn khoa học,
mà là một nhánh nhỏ trong giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức. Một khi giáo
dục chính trị, tư tưởng và giáo dục đạo đức được tiến hành tốt thì ý thức tôn
trọng pháp luật của mọi người sẽ được nâng lên, ý thức về Luật giao thông
đường bộ được nâng cao. Sự hình thành ý thức pháp luật của mỗi người được
xem như là một hệ quả hiển nhiên của việc giáo dục chính trị hay giáo dục đạo
đức. Vì vậy, không coi giáo dục pháp luật hay cụ thể hơn là giáo dục Luật giao
thông đường bộ là một hoạt động độc lập của quá trình giáo dục mà phải coi là
một nhánh, một góc của vấn đề giáo dục pháp luật.
Quan điểm thứ hai: Đã đồng nhất GDPL, cụ thể là GDLGTĐB với
tuyên truyền phổ biến giải thích luật, kỹ năng tham gia giao thông đường bộ,
đó là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách, các phương tiện thông tin đại
chúng và cả bộ máy tuyên truyền. Quan điểm này tách rời nhiệm vụ giáo dục,
tuyên truyền pháp luật giữa các cơ quan chức năng. Chức năng tuyên truyền và
vui chơi, trong lao động có học tập, sinh hoạt tập thể có vui chơi, hoặc có tác
dụng đối với xã hội. Trong các loại hình đó, hoạt động học tập và lao động sản
xuất ra của cải vật chất là hai loại hoạt động cơ bản nhất trong việc giáo dục
con người.
Hoạt động có tính hai mặt, mặt ý định trả lời câu hỏi: hoạt động để đạt cái
gì? Mặt thực hiện trả lời câu hỏi: hoạt động như thế nào? Theo cách nào? Đó
là: động cơ - mục đích và phương tiện - cách thức, đó là những yếu tố cơ bản
để một hành động thực sự được tiến hành.
Nghiên cứu hoạt động giáo dục và dạy học căn cứ vào những lý thuyết
tâm lí học như lí thuyết hoạt động, lý thuyết phát triển, lí thuyết kiến tạo…
Những căn cứ lý thuyết đã xác định con đường cơ bản để tiến hành giáo dục,
được áp dụng nhiều trong dạy học, tuy nhiên những quan điểm tích cực cũng
đã được áp dụng tổ chức thực hành giáo dục có hiệu quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –11
ĐHTN
Kết quả mong muốn của giáo dục là nhân cách con người. Ngạn ngữ có
câu: “Có thể dắt con ngựa đến máng nước nhưng không thể bắt nó uống”. Như
vậy, mặc dù có sự trông đợi khách quan nhưng kết quả lại phụ thuộc vào sự
chủ quan tiếp nhận của trẻ em. Trong giáo dục con người, chưa thể khẳng định
rằng những biểu hiện hành vi của cá nhân đã phản ánh đầy đủ những phẩm chất
mang bản chất nhân cách.
Các khái niệm về quá trình giáo dục, về hoạt động giáo dục dù ở nghĩa
rộng hay hẹp đều có một quan điểm chung là quá trình định hướng mục tiêu.
Suy cho cùng, giáo dục là một định hướng được xác định bởi các tiêu chuẩn
của thời đại, được xã hội thừa nhận không những trong tính lịch sử mà là tính
lâu bền, bởi tính tất yếu của xu hướng văn minh.
thái độ, kĩ năng, kĩ xảo, thói quen đối xử trong các quan hệ chính trị, đạo đức,
luật pháp, thẩm mĩ thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội xã hội chủ nghĩa”.
Tiếp cận khái niệm giáo dục (nghĩa hẹp) theo quan điểm hoạt động, điều
đó có ý nghĩa là cần quan tâm đến các yếu tố sau đây:
- Ý đồ (mục tiêu và mục đích) của hoạt động:
- Phạm vi môi trường hoặc phạm vi tình huống;
- Có tổ chức, nội dung và cách thức thực hiện, có đánh giá;
- Có 3 yếu tố không thể thiếu đó là: Giáo viên, học sinh và môi trường.
Theo lí thuyết hoạt động, hoạt động của con người gồm đối tượng, mục
đích hoạt động, nội dung hoạt động, phương thức và thao tác, kết quả hoạt
động. Trong hoạt động giáo dục, đối tượng là tri thức văn hóa của nhân loại,
phương pháp nhận thức sáng tạo, kinh nghiệm xã hội và cách ứng xử xã hội;
mục đích hoạt động nhằm giáo dục con người, hoàn thiện nhân cách, đem lại
niềm vui và hạnh phúc cho con người; nội dung giáo dục là các tình huống cụ
thể, các giá trị văn hóa vật chất tinh thần, các chuẩn mực đạo đức và hành vi
đạo đức, pháp luật, thái độ và niềm tin đạo đức pháp luật; phương thức giáo
dục là khuyến khích tự giáo dục và tổ chức hoạt động, các thao tác chuẩn mực;
kết quả giáo dục đọng lại ở niềm tin, thói quen, hành vi, lối sống đạo đức, nhân
cách của con người được nâng lên.
Hoạt động giáo dục có những đặc điểm sau đây: Quá trình giáo dục chịu
tác động của nhiều nhân tố; là quá trình có mục đích, có tính định hướng giá
trị xã hội; quá trình giáo dục đòi hỏi thời gian dài, giáo dục là suốt đời; quá
trình giáo dục diễn ra rất phức tạp và mâu thuẫn; giáo dục theo từng cá nhân,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –13
ĐHTN
từng tình huống, diễn ra trong hoạt động sống của con người; quá trình giáo
nhận tính hợp pháp hay không hợp pháp của các hành vi cá nhân hay tổ chức xã
hội. Ý thức xã hội là sản phẩm của giáo dục, nội dung gồm:
- Ý thức về nghĩa vụ công dân tham gia xây dựng hiến pháp và các bộ luật;
- Ý thức về nghĩa vụ công dân cùng mọi người tham gia đấu tranh để
thực hiện pháp luật công bằng, công khai dân chủ, phấn đấu cho nhà nước
pháp quyền;
- Ý thức về nghĩa vụ công dân trong việc thực hiện nghiêm chỉnh luật
pháp của nhà nước;
- Ý thức về quyền lợi của công dân được nhà nước bảo hộ về pháp luật
Giáo dục pháp luật là một trong những bộ phận cấu thành của chương
trình giáo dục, có mục tiêu, phương hướng nội dung và phương pháp tác động
luôn gắn liền với những nhiệm vụ chính trị của Đảng trong các giai đoạn lịch
sử nhất định.
Mục tiêu của giáo dục pháp luật, về nghĩa vụ và quyền lợi của công
dân… biết sống và hành động đúng những quy định của pháp luật, có ý thức
tuyên truyền giúp đỡ mọi người xung quanh thực hiện đúng pháp luật.
Nội dung GDPL cho học sinh gồm: quyền được nuôi dưỡng, giáo dục,
được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự; quyền được học tập,
vui chơi, lao động, tham gia các hoạt động xã hội; nghĩa vụ vâng lời dạy bảo
của cha mẹ, thầy cô giáo, và kính trọng mọi người, học tập và phấn đấu vươn
lên trở thành công dân có ích cho Tổ quốc; nghĩa vụ tuân theo các quy định của
pháp luật.
GDLGTĐB là giáo dục một Luật cụ thể, mà người giáo dục phải có mục
tiêu, có phương hướng và phương pháp tác động luôn gắn liền với những nhiệm
vụ chính trị của Đảng trong các giai đoạn lịch sử nhất định. Nhưng GDLGTĐB là
giáo dục các khái niệm về đường bộ, về phương tiện, về cách tham gia giao thông,
các đúng sai khi tham gia giao thông, sai lầm khi sử dụng phương tiện dẫn đến
động có tổ chức với cấu trúc đồng bộ của nó bao gồm chủ thể, khách thể, đối
tượng, nguyên tắc, mục đích và cách thức triển khai trong điều kiện hoàn cảnh
cụ thể. GDPL là một hoạt động giáo dục vừa có tính chất khoa học (với tư cách
là một nội dung khoa học), vừa có tính chất xã hội - nhân văn (với tư cách là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –16
ĐHTN