ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------o0o----------
NGUYỄN VÕ HOÀNG MAI
VAI TRÕ CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
LU N ÁN TI N S CHỦ NGH A DUY V T BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGH A DUY V T LỊCH SỬ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------o0o----------
NGUYỄN VÕ HOÀNG MAI
VAI TRÕ CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62.22.03.02
LU N ÁN TI N S CHỦ NGH A DUY V T BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGH A DUY V T LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
Nghiên cứu sinh
NGUYỄN VÕ HOÀNG MAI
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 01
PHẦN NỘI DUNG .............................................................................................. 16
Chƣơng 1. LÝ LU N CHUNG VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO, VỀ CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ VAI TRÕ CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM ...... 16
1.1. LÝ LU N CHUNG VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VÀ VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA .......................................................................................... 16
1.1.1. Lý luận về giáo dục và đào tạo .................................................................... 16
1.1.2. Lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ................................................... 30
1.2. VAI TRÕ CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM ........................................................................ 41
1.2.1. Giáo dục và đào tạo góp phần đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tạo cơ sở
và nguồn lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa .................................... 42
1.2.2. Giáo dục và đào tạo góp phần phát triển khoa học và công nghệ, tạo động
lực thúc đẩy quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng
kỹ thuật và công nghệ tiên tiến ............................................................................. .56
1.2.3. Giáo dục và đào tạo góp phần phát triển văn hóa – xã hội, đảm bảo tiến
bộ, công bằng xã hội là nền tảng xã hội vững chắc cho quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ................................................................................................ ..61
Kết luận chƣơng 1 ............................................................................................... 70
Chƣơng 2. NHỮNG Y U TỐ TÁC ĐỘNG Đ N PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay .............................................................................................................. 111
2.2.3. Vai trò của giáo dục và đào tạo đối với đổi mới cách thức tổ chức, quản lý
kinh tế - xã hội, phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay ............................................................................................... 119
2.2.4. Vai trò của giáo dục và đào tạo đối với đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội,
điều kiện của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay ............................................................................................................... 127
Kết luận chƣơng 2 ............................................................................................. 134
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY ............ 136
3.1. PHƢƠNG HƢỚNG CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA GIÁO DỤC VÀ
ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY .......................................................................... ..136
3.1.1. Phát triển giáo dục và đào tạo thực sự trở thành một trong những nền tảng và
động lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh .. 138
3.1.2. Phát huy vai trò giáo dục và đào tạo đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
Thành phố Hồ Chí Minh ..................................................................................... 143
3.1.3. Phát huy vai trò giáo dục và đào tạo đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trên cơ sở đặc điểm, tiềm năng, vị thế của Thành phố Hồ Chí Minh .........148
3.2. GIẢI PHÁP CHỦ Y U NHẰM PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH HIỆN NAY ........................................................................................ ..151
3.2.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của giáo dục và đào tạo đối với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh ............................................ 151
và đào tạo còn là phương thức để giữ gìn, phổ biến, giao lưu, phát triển văn hóa,
khoa học, tạo ra nguồn nhân lực cho việc tái sản xuất ra sức lao động. Bởi bản chất
của giáo dục chính là sự truyền thụ, lĩnh hội và phát triển những tri thức và kinh
nghiệm lịch sử - xã hội mà loài người đã sáng tạo nên, qua các thế hệ tiếp nối nhau
trong lịch sử. Chính vì vậy, từ xưa đến nay, mọi quốc gia, dân tộc trong quá trình
phát triển, đều rất đề cao vai trò quan trọng của giáo dục; và ngày nay, người ta
không chỉ coi giáo dục và đào tạo là hoạt động xã hội đặc biệt, là bộ phận của kiến
trúc thượng tầng mà còn là yếu tố giữ vị trí nền tảng và vai trò động lực quyết định
sự phát triển của kinh tế - xã hội; đầu tư giáo dục và đào tạo là đầu tư cho tương lai.
Với sự hiểu biết sâu sắc về vấn đề con người và về vai trò của giáo dục đối
với việc đào tạo con người, phát triển của xã hội; bằng sự đúc kết kinh nghiệm
thực tiễn cách mạng phong phú và sinh động, Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ vai trò
quan trọng đặc biệt của giáo dục đối với sự phát triển và tiến bộ của một quốc gia,
dân tộc rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4,
2011, tr. 7); và Người đã chỉ ra mục tiêu, sứ mệnh của giáo dục là: “Học để làm
việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ
quốc và nhân loại.” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 6, 2011, tr. 208). Thấm nhuần tư
tưởng đó, trong suốt quá trình cách mạng cũng như trong công cuộc đổi mới toàn
diện đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã luôn quan tâm đến phát triển giáo
2
dục và đào tạo, và khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là
nhân tố quyết định để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc; là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2013, tr.
1). Bởi theo quan điểm của Đảng:
“Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng
nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng
với phát triển khoa học là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào
Hồ Chí Minh, 2015, tr. 16 - 17). Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống
trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp nghề, khu công nghệ cao phát triển, đã
đào tạo ra nguồn nhân lực với chất lượng ngày càng cao, có kiến thức, có trình độ
chuyên môn kỹ thuật, có tay nghề, có kinh nghiệm tổ chức, quản lý sản xuất và
khả năng tự hoàn thiện mình trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, phục vụ cho
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố. Đánh giá về vai trò và
những đóng góp của giáo dục và đào tạo đối với sự nghiệp xây dựng và phát
triển Thành phố, Nghị quyết của Đảng bộ Thành phố nhận định:
“Chất lượng dạy và học được nâng lên, chương trình nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực thực hiện khá tốt. Gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển
văn hóa, xây dựng và phát triển con người, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội” (Ðảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, 2015, tr. 14 - 15).
Tuy nhiên, công tác giáo dục và đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
cũng còn nhiều bất cập, chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa; do nội dung, phương pháp và công tác tổ chức, quản lý giáo dục còn hạn
chế, chưa thực sự đóng vai trò là cơ sở động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội nói
chung, cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng; số lượng, chất lượng và cơ cấu
nguồn nhân lực do giáo dục và đào tạo nên còn nhiều bất cập; tỉ lệ lao động có trình
độ chuyên môn cao, tay nghề giỏi còn ít. Ngành nghề đào tạo chưa thật sự gắn kết
với nhu cầu thị trường lao động. Một bộ phận lao động trẻ được đào tạo chính quy
chưa có việc làm hoặc làm những việc trái với ngành, nghề, lĩnh vực đào tạo. Tình
trạng vừa thừa, vừa thiếu nhân lực ở một số ngành, lĩnh vực, tổ chức khá phổ biến.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhất là đào tạo sau đại học chưa chú trọng đúng
mức các lĩnh vực, ngành mà địa phương, đơn vị đang cần. Một bộ phận cán bộ, công
chức học những chuyên ngành không phù hợp với vị trí việc làm, yêu cầu nhiệm vụ,
có xu hướng chạy theo bằng cấp; tuy đạt chuẩn trình độ nhưng năng lực hạn chế,
chưa đáp ứng yêu cầu công việc. Một số cơ sở liên kết đào tạo sau đại học tại tỉnh
chưa chú trọng đầu vào, chất lượng đào tạo thấp… đã và đang tác động chưa thực sự
mạnh mẽ, sâu rộng và hiệu quả đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành
phố hiện nay. Những hạn chế trên đã được Đảng bộ Thành phố nhận định: “Chất
Phạm Văn Đồng, Về vấn đề giáo dục - đào tạo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1999. Công trình đã trình bày lịch sử giáo dục thế giới và của dân tộc; những
suy nghĩ về giáo dục phổ thông, bao gồm giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề; một
số vấn đề cần quan tâm về giáo dục đại học ở nước ta hiện nay. Những ý kiến,
những trăn trở suy nghĩ, những lời nhắn nhủ thế hệ trẻ, những giải pháp đề ra trong
cuốn sách này là những đóng góp quý báu của tác giả cho giáo dục và đào tạo của
đất nước ta hiện nay.
5
Lê Văn Giạng, Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001. Công trình đã phác thảo có tính chất tổng quan
về các vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục, trên cơ sở trình bày những nét
lớn, có tính chất đại cương nhưng tương đối toàn diện về các bộ phận của khoa học
giáo dục; về các yếu tố cơ bản của công tác giáo dục như: mục tiêu, phương pháp
giáo dục, cơ sở vật chất - kỹ thuật của công tác giáo dục; về quá trình giáo dục;
một số xu thế lớn của giáo dục trên thế giới cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI;
đồng thời qua thực tiễn giáo dục Việt Nam, nhất là từ năm 1945 đến nay, tác giả
nêu ra vai trò của giáo dục Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục và
đào tạo trong những năm đầu XXI.
Phạm Minh Hạc, Về giáo dục, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Nội
dung của cuốn sách là tập hợp các bài nói và bài viết tập trung đề cập những vấn
đề cơ bản của giáo dục nước ta; quan điểm các nhà mácxít về sự nghiệp giáo dục;
khoa học giáo dục và kinh nghiệm phát triển giáo dục; quan điểm chỉ đạo phát
triển giáo dục; vai trò của giáo dục đối với phát triển kinh tế, xã hội, chính trị và
một số vấn đề đặt ra đối với ngành giáo dục nước ta khi bước vào thế kỷ XXI…
Phạm Bá Lãm, Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI: Chiến
lược phát triển, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2003. Nội dung của cuốn sách trình bày
trong 6 phần với các mục: Tình hình giáo dục nước ta hiện nay; Bối cảnh và thời
cơ, thách thức đối với giáo dục nước ta trong vài thập kỷ tới; Các quan điểm chỉ
của Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng cục Dạy nghề, Viện nghiên cứu phát triển
phương Đông, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012. Cuốn sách tập hợp
bài viết, bài nói của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các cơ quan Đảng và
Nhà nước, các cơ quan trung ương và địa phương, của các nhà quản lý, các nhà
khoa học nhằm góp phần vào sự thành công của công cuộc đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo Việt Nam.
Như vậy, có thể nói các công trình trên đây đã phản ánh bức tranh tương đối
đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn về vấn đề giáo dục và đào tạo với sự phát triển
kinh tế - xã hội nói chung và phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nói riêng.
Nhóm các công trình nghiên cứu về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Về chủ đề này, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nổi bật của các
tác giả như: Suy nghĩ về công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta: một số vấn đề lý
luận và thực tiễn của Ngô Đình Giao (chủ biên, 1996), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội. Tác giả đã trình bày quan niệm, mục tiêu, nhiệm vụ và điều kiện về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đồng thời tác giả đi phân tích thành tựu và phương
hướng phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Tiếp cận ở góc độ triết học khi nghiên cứu về công nghiệp hóa, hiện đại
7
hóa, tác giả Nguyễn Thế Nghĩa có công trình Triết học với sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997. Trong công
trình này, tác giả đã phân tích giá trị thế giới quan và phương pháp luận của
triết học trong việc nhận thức và hoạch định chiến lược, chính sách và phương
pháp thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đồng thời, tác giả phân tích vai
trò của nguồn nhân lực đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đánh giá thực
trạng nguồn nhân lực Việt Nam và đề xuất các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng và
sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
công nghiệp muộn; phân tích mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xác định việc thực
hiện đồng bộ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là khâu đột phá để
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ đó làm rõ cơ sở khoa học của mô hình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của con
người Việt Nam, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Nghiên cứu về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, còn có rất nhiều công
trình như: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và các nước trong khu vực của
Phạm Khiêm Ích - Nguyễn Đình Phan làm chủ biên, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 1994;
Đẩy tới một bước sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh của Đ Mười, Tạp chí Cộng sản, số
8/1994; Công nghiệp hóa Việt Nam trong thời đại châu Á - Thái Bình Dương của
Trần Văn Thọ, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1997; Con đường công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam của Ban tư tưởng văn hóa Trung
ương, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Những quan niệm khác nhau về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc điểm, nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam của Nguyễn Thanh, Nguyễn Văn Hà, Vũ Anh Tuấn, Nxb. Thống kê, chi
nhánh thành phố Hồ Chí Minh, 2004. Các công trình nói trên tiếp cận dưới góc độ
triết học, các tác giả đã làm khá rõ những đặc điểm cơ bản của quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam; mục tiêu, nội dung, con đường và phương pháp thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được các tác giả phân tích khá kỹ.
Nhóm những công trình nghiên cứu về vai trò của giáo dục và đào tạo đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như đối với công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam nói chung, ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Về chủ đề này có các công trình của các tác giả: Phạm Minh Hạc (chủ biên),
Phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2001. Nội dung cơ bản của cuốn sách là phân tích cơ sở khoa
học của chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam giai đoạn 1996 - 2000,
đồng thời nêu lên một số định hướng chiến lược và một số giải pháp nhằm xây
dựng, phát triển con người Việt Nam về mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ…. Đặc biệt,
nhân lực của đất nước.
Tạ Ngọc Tấn (Chủ biên), Phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực,
nhân tài, Một số kinh nghiệm của thế giới, 2012, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Cuốn sách đã phân tích khá sâu sắc những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực, nhân
tài và phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài của một số nước trên
thế giới, rút ra những kinh nghiệm bổ ích cho Việt Nam trong việc đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục nước ta.
10
Cao Thu Hằng, Chính sách xã hội hóa giáo dục và y tế ở Việt Nam hiện nay Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016. Công
trình đã phân tích cơ sở lý luận về chính sách xã hội hóa giáo dục và y tế, đánh giá
thực trạng việc thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục và y tế ở Việt Nam, từ đó
đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xã hội hóa giáo
dục và y tế ở Việt Nam. Ngoài ta còn có các bài đăng trên các tạp chí như: Nguồn
nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước công bố trên Tạp chí
Triết học, số 3- 1994 của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn; Trí tuệ - Nguồn lực vô
tận của sự nghiệp phát triển xã hội công bố trên Tạp chí Triết học, số 1-1993 của
tác giả Phạm Ngọc Trầm; Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất
công bố trên Tạp chí Triết học, số 1 - 1993 của tác giả Nguyễn Đình Hòa; Nguồn
tài nguyên con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
công bố trên Tạp chí Thông tin lý luận, số 11 - 1994 của tác giả Nguyễn Quan Du;
Giáo dục - đào tạo - nền tảng của chiến lược con người công bố trên Tạp chí
Cộng sản, số 3 - 1993 của tác giả Phạm Tất Dong; Phát triển giáo dục - đào tạo là
điều kiện bảo đảm công nghiệp hóa, hiện đại hóa công bố trên Tạp chí Đại học và
Giáo dục chuyên nghiệp, số 4-1995 của tác giả Lưu Đình Mạc; Nguồn nhân lực động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước công bố trên Tạp chí
Triết học, số 1 - 1996 của Nguyễn Thế Nghĩa.
Tóm lại, qua tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã cho thấy, vấn đề về
giáo dục và đào tạo, vai trò của nó đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đã có khá nhiều công trình đề cập đến. Song việc nghiên cứu đó vẫn là thực sự
thành, phát triển trung tâm thương mại, trung tâm công nghiệp, trung tâm văn
hóa, trung tâm chính trị và trung tâm giáo dục và đào tạo của Sài Gòn - Thành
phố Hồ Chí Minh. Những kết quả nghiên cứu trong công trình là tài liệu quan
trọng để tác giả kế thừa làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong luận
án. Công trình Đất Gia Định - Bến Nghé xưa và người Sài Gòn của Nam Sơn,
Nxb. Trẻ, 2015. Tác giả đã đưa ra cái nhìn toàn diện về vùng đất Nam Bộ với tên
gọi Gia Định, qua đó giúp cho người đọc hiểu hơn về lịch sử, con người Sài Gòn
- Bến nghé xưa, nòng cốt là Gia Định trong quá trình hình thành và phát triển để
trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, kỹ thuật, giao lưu quốc tế. Và công trình
300 năm Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1998, đã tóm tắt lịch sử 300 năm khai phá, xây dựng và những thành tựu phát
triển của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh từ khi hình thành cho đến năm 1996,
trong đó có thành tựu về phát triển giáo dục và đánh giá vai trò của giáo dục đối
với quá trình hình thành, phát triển của Thành phố.
Công trình Thành phố Hồ Chí Minh - 35 năm xây dựng và phát triển của
Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp Thành phố
12
Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2012. Bằng sự kế thừa của các công trình nghiên cứu,
tổng kết tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và đào tạo ở Thành
phố do nhiều tổ chức khoa học, các tập thể và cá nhân đã thực hiện từ trước tới
nay, đồng thời bổ sung những tư liệu mới, công trình đã giới thiệu một bức tranh
tổng thể một chặng đường phấn đấu liên tục của Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân
Thành phố trong 35 năm, từ 30/4/1975 đến 30/4/2010. Trải qua những thuận lợi và
khó khăn, cơ hội và thách thức, Đảng bộ và nhân dân Thành phố đã đạt được
những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội, đặc biệt là sự tổng kết, đánh giá về những kết quả đạt được trong
sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Thành phố Hồ Chí Minh.
Đáng chú ý trong các công trình nghiên cứu về các thành tựu đạt được của
vừa khái quát, vừa sâu sắc những thành tựu, hạn chế trong lĩnh vực giáo dục và
đào tạo của Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó chỉ ra nguyên nhân và đề ra những
phương hướng, giải pháp nhằm phát triển giáo dục và đào tạo phục vụ quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng với các văn kiện trên, Thủ tướng Chính phủ (năm 2013) đã ban hành:
Quyết định số 2631/QĐ-TTg ngày 31/8/2013, “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2025”, trong đó đã đề ra mục tiêu, phương hướng phát triển cụ thể kinh tế - xã hội
cũng như giáo dục và đào tạo đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 và Thành ủy,
UBND đã ban hành những kế hoạch triển khai để phát triển kinh tế - xã hội Thành
phố Hồ Chí Minh hướng đến xây dựng Thành phố văn minh, hiện đại. Đây là
những văn kiện chính thống, giúp tìm hiểu một cách cơ bản, hệ thống và sâu sắc về
tình hình phát triển, đổi mới giáo dục và đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, hàng năm Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh đều xuất bản các
Niên giám thống kê, trong đó có cung cấp số liệu thông kê cơ bản phản ánh thành
tựu phát triển giáo dục và đào tạo, giúp chung ta có thể thấy được vai trò của giáo
dục và đào tạo trong tổng thể sự phát triển kinh tế - xã hội Thành phố.
Các công trình nêu trên đều có đề cập và phân tích đến vấn đề giáo dục và
đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh, ở nhiều góc độ khác nhau, qua việc nêu lên
những thành tựu, chỉ ra những hạn chế và đề xuất những giải pháp phát triển giáo
dục và đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên các công trình đó chưa thực
sự đi sâu phân tích chỉ ra vai trò của giáo dục và đào tạo với quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời cũng chưa có sự phân tích,
đánh giá thực trạng và đề ra những phương hướng, giải pháp nhằm phát huy hiệu
quả vai trò của giáo dục và đào tạo đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, như là một đề tài chuyên sâu.
Trên cơ sở kế thừa thành quả những công trình nghiên cứu của các học giả đi
trước, tác giả luận án cố gắng đi sâu vào nghiên cứu về vấn đề phát triển giáo dục và
dục và đào tạo, về vai trò của giáo dục và đào tạo với quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên
cứu, như phương pháp lịch sử và logic, đối chiếu và so sánh, phân tích và tổng
15
hợp, quy nạp và diễn dịch, phương pháp thống kê từ các nguồn tài liệu tham khảo
để phục vụ trong việc nghiên cứu và trình bày luận án.
6. Đóng góp mới của luận án
Một là, luận án đã góp phần làm rõ những vấn đề lý luận chung về vai trò của
giáo dục và đào tạo đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ đó phân
tích thực trạng vai trò của giáo dục và đào tạo đối với quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Hai là, luận án đã đề xuất, luận giải một số phương hướng và giải pháp nhằm
phát huy hơn nữa vai trò của giáo dục và đào tạo đối với quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
7. Ý nghĩ kho học v ý nghĩ thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần làm rõ lý luận chung về vai trò của
giáo dục và đào tạo với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực trạng vai trò
của giáo dục và đào tạo đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện hóa ở Thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay.
Về ý nghĩa thực tiễn: Những đánh giá về thực trạng vai trò của giáo dục và
đào tạo với quá trình công nghiệp hóa, hiện hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh và
những phương hướng, giải pháp mà luận án đưa ra sẽ góp phần giúp Đảng bộ,
chính quyền và các sở, ban ngành chức năng của Thành phố Hồ Chí Minh tham
khảo trong hoạch định cơ chế, chính sách và giải pháp để phát huy vai trò của giáo
dục và đào tạo với quá trình công nghiệp hóa, hiện hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các ngành: Khoa học quản lý giáo
dục, Khoa học chính trị, Triết học xã hội… ở các viện, các trường cao đẳng, đại
loại. Việc nghiên cứu và nhận thức đúng đắn chức năng, nội dung và đặc điểm của
giáo dục và đào tạo có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong việc hoạch định
chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội m i quốc gia, m i dân tộc.
Giáo dục, đào tạo phát sinh, phát triển gắn liền quá trình lao động của con
người. Trong quá trình lao động con người nhận thức thế giới xung quanh, dần dần
tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lao động sản xuất, từ đó nảy
sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết và cả cách ứng xử trong cuộc sống cho
nhau. Đó chính là sự giáo dục. Thuật ngữ “giáo dục”, “đào tạo” xuất hiện khá sớm
trong lịch sử phát triển lịch sử tư tưởng của nhân loại. Ở phương Đông, trong quan
niệm truyền thống của Trung Quốc: “Giáo” 教 nghĩa là dạy d , truyền thụ, là sự
17
rèn luyện về tinh thần nhằm phát triển tri thức và rèn luyện tình cảm đạo đức.
“Dục” 育 nghĩa là nuôi nấng, chăm sóc về mặt thể chất cho trưởng thành. Ở
phương Tây, danh từ “education” có gốc từ tiếng Latinh “educare” có nghĩa là
“làm bộc lộ ra”. Có thể hiểu: “Giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ra những
khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục nhằm đưa con người từ không biết đến
biết, từ xấu đến tốt, từ thấp kém đến tốt đẹp” (Từ điển Giáo dục học, 2001, tr. 324).
Với cách hiểu như trên, có thể quan niệm giáo dục là một quá trình xã hội được tổ
chức một cách có ý thức, có kế hoạch hướng vào việc truyền đạt và tiếp thu những
kinh nghiệm xã hội vào việc xây dựng và phát triển những nhân cách.
Ngày nay giáo dục được hiểu với nghĩa rộng hơn. Theo Tài liệu Bách khoa
thư giáo dục (The Educations encyclopedia) của ba học giả Mỹ E.W.Smit,
S.W.Krouse và M.M.Atkinson, 1969, USA: Giáo dục là toàn thể những cố gắng có
ý thức để giúp tạo hóa trong sự phát triển các năng lực thể chất, tinh thần và đạo
đức của con người, hướng về sự hoàn thiện, hạnh phúc và sứ mạng xã hội của con
người; Từ điển tiếng Việt quan niệm: “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một
cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó,
làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu
phát triển của con người trong xã hội đương đại. Giáo dục diễn ra thường xuyên,
liên tục ở nhiều môi trường hoạt động của con người (trong gia đình, nơi làm việc,
trong nhà trường, trong quan hệ xã hội...), trong đó môi trường nhà trường có vai
trò quyết định.
Nói cách khác, giáo dục đã trở thành một hệ thống được tổ chức rộng khắp
mọi quốc gia, được tiến hành trên cơ sở khoa học vững chắc và đã trở thành quốc
sách hàng đầu, được thể hiện trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các
quốc gia.
Từ những sự phân tích, trình bày về nguồn gốc, các quan điểm khác nhau về
giáo dục, tác giả quan niệm: Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là quá
trình truyền đạt, lĩnh hội tri thức và kinh nghiệm lịch sử - xã hội mà loài người
sáng tạo nên qua các thế hệ tiếp nối nhau trong lịch sử, thông qua việc gảng dạy,
đào tạo hay nghiên cứu, nhằm bồi dưỡng và phát triển trí tuệ, phẩm chất và năng
lực của con người.
Tóm lại, “giáo dục là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người. Giáo
dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt
không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển
của xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức
lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội
phát triển.... Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục tiêu, nhiệm
vụ, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai đoạn