vốn nhân lực: vai trò của giáo dục và y tế đối với phát triển và thực trạng - Pdf 14

Danh sách thành viên trong nhóm (đề tài số 10):
Vũ Bảo Anh
Trần Mai Anh
Nguyễn Linh Chi
Nguyễn Thị Thu Hà
Nguyễn Thanh Huyền
Nguyễn Thị Diệu Linh (nhóm trưởng)
Nông Hoàng Hạnh Linh
Nguyễn Thị Thùy Linh
Lê Khánh Ly
Nguyễn Quỳnh Mai
Nguyễn Hồng Nhung
Dương Thị Quỳnh
Nguyễn Thúy Quỳnh
… Thanh
Đoàn Ngọc Trâm
Cao Huyền Vũ
Nguyễn Thị Xuân Yến
1
LỜI NÓI ĐẦU
Xuất phát từ thực tế tình hình của đất nước trước và sau đổi mới cũng như
nắm bắt được xu hướng đầu tư, phát triển của các nước trên thế giới, từ đại hội
Đảng lần thứ VI đến nay, Đảng ta đã nhận thức ngày càng đầy đủ hơn vai trò của
con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt mới đây trong Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XI,
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phát chiến lược, là yếu
tố quyết định đẩy mạnh phát triển …” Càng khẳng định được rằng vốn nhân lực là
yếu tố quyết định cho sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa
đất nước.
Khi đề cập tới nguồn lực con người, người ta thường nói tới mặt số lượng và

Cao Huyền Vũ 1
Nguyễn Thị Xuân Yến 1
LỜI NÓI ĐẦU 2
MỤC LỤC 3
I.Vai trò của giáo dục đối với việc phát triển vốn nhân lực 5
1.Các khái niệm cơ bản 5
a.Khái niệm vốn nhân lực 5
b.Khái niệm giáo dục 6
3
2.Vai trò của giáo dục đối với việc phát triển vốn nhân lực 7
a.Giáo dục đối với việc phát triển trí lực 7
b.Giáo dục đối với việc phát triển tâm lực 8
c.Giáo dục đối với việc phát triển thể lực 9
d.Giáo dục đối với việc tích luỹ tri thức qua các thế hệ 10
II.Thực trạng và tác động của giáo dục đối với sự phát triển vốn nhân lực Việt Nam trong khoảng thời
gian gần đây 11
1.Tình hình giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI 11
a.Tác động của giáo dục đến Trí Lực 17
b.Tác động của giáo dục đến Tâm Lực 20
c.Tác động của giáo dục đến Thể Lực 22
d.Tác động của giáo dục đến việc tích lũy tri thức cho tương lai 26
III.Giải pháp phát triển giáo dục để khắc phục những thiếu xót còn tồn tại trong thời gian vừa qua 30
KÊT LUẬN 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
4
I. Vai trò của giáo dục đối với việc phát triển vốn nhân lực
Trong nền kinh tế thị trường, nguồn vốn nhân lực, vốn tài nguyên, vốn sản
xuất và vốn khoa học – công nghệ chính là những nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Ngày nay, cùng với quá trình toàn cầu hoá kinh tế, sự bùng nổ dân
số, khan hiếm tài nguyên và sự ra đời của nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực trở

hơn bởi chủ thể được nhắc tới trong đó không chỉ là những người lao động trực
tiếp như xét trên khía cạnh kinh tế học mà còn một chủ thể khác nữa đó là những
người lao động gián tiếp. Với bài này chúng tôi sẽ phân tích dựa trên tổng hợp của
cả hai định nghĩa trên tức là với một phạm trù lớn hơn về khái niệm người lao động
là những người trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất để tạo nên
nhũng hiểu quả kinh tế - xã hội cho đất nước.
b. Khái niệm giáo dục
Hầu hết các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày "Giáo dục là
hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh
nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người”. Định nghĩa trên nhấn mạnh đến
sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng
chưa thấy nói đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó.
Theo John Dewey - nhà triết học và giáo dục học bậc nhất của Mỹ đầu thế kỷ
XX, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải có những kiến thức, kinh nghiệm của con người
mới vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã
hội. Giáo dục là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội. Hơn nữa, J.
6
Dewey cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại
chính trong quá trình truyền dạy ấy.
Theo từ vựng học, từ “giáo dục” trong tiếng Anh là "education". Đây là một
từ gốc Latin ghép bởi hai từ: "Ex" và "Ducere". Có nghĩa là dẫn ("Ducere") con
người vượt ra khỏi ("Ex") hiện tại của họ mà vươn tới những gì thiện hảo, tốt lành
hơn, hạnh phúc hơn.Trong định nghĩa này, sự hoàn thiện của mỗi cá nhân mới là
mục tiêu sâu xa của giáo dục, người giáo dục (thế hệ trước) có nghĩa vụ phải dẫn
hướng, phải chuyển lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau
triển nở hơn, hạnh phúc hơn.
Tóm lại, từ những cách hiểu và khái niệm về giáo dục trên, có thể hiểu rằng
giáo dục là hành động giúp phát triển một tập hợp những tri thức và giá trị tinh
thần, thể chất, trí tuệ, khoa học… được ví như một yếu tố chính để đạt tới một trình
độ văn hoá mong muốn. Giáo dục cho phép truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Tâm lực được hiểu là những giá trị chuẩn mực đạo đức, phẩm chất tốt đẹp và
sự hoàn thiện nhân cách của con người, được biểu hiện trong thực tiễn lao động
sản xuất và sáng tạo cá nhân. Những giá trị đó gắn liền với năng lực tư duy và hành
động cụ thể của con người, tạo nên chất lượng của nguồn nhân lực. Tâm lực tạo ra
động cơ bên trong của chủ thể, thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của con người.
Nói cách khác, tâm lực góp phần vào việc phát huy vai trò của các yếu tố thể lực
và trí lực của con người với tư cách nguồn nhân lực của xã hội.
8
Ngay từ những bài học đầu tiên khi đến trường, trẻ em được biết đến lòng yêu
nước, tình yêu thương con người, biết sẻ chia, đùm bọc lẫn nhau, cùng giúp đỡ,
đoàn kết vượt qua khó khăn… Giáo dục trau dồi nhân cách, hướng con người tới
lối sống lành mạnh, trong sạch; có ước mơ, khao khát vươn lên trong cuộc sống,
biết cách lắng nghe và đánh giá sự việc theo những chuẩn mực đạo đức nhất định,

Trong thời kì hội nhập, giáo dục còn dạy cho mỗi người dân lòng tự tôn dân
tộc và bản lĩnh chính trị rõ ràng. Chúng ta thấy rằng, một khi đạo đức con người,
đạo đức xã hội bị suy đồi thì mọi cố gắng nỗ lực cho đầu tư phát triển kinh tế sẽ
khó đạt được hiệu quả cao.
c. Giáo dục đối với việc phát triển thể lực
Thể lực là tình trạng sức khoẻ của con người, biểu hiện ở sự phát triển bình
thường, có khả năng lao động. Đây chính là nhân tố nền tảng cho mọi quá trình
phát triển, bởi nếu không nâng cao thể lực, con người khó có thể phát triển được trí
tuệ và khả năng sáng tạo.
Giáo dục giúp con người tiếp cận những kiến thức y tế, biết cách tự chăm sóc,
tự bảo vệ và rèn luyện nâng cao sức khoẻ bản thân. Giáo dục góp phần nâng cao ý
thức người lao động về vệ sinh, an toàn lao động. Đồng thời giáo dục cũng góp
phần chuẩn bị một tương lai tốt hơn cho con em chúng ta như cung cấp cho bà mẹ
kiến thức về dân số - kế hoạch hóa gia đình, về chăm sóc thai nhi, và chế độ dinh
dưỡng cho trẻ em đảm bảo phát triển toàn diện cả về thể lực và trí thông minh của
trẻ em… - nguồn cung cấp nhân lực chính cho xã hội trong tương lai. Có thể thấy

10
nghĩa chống lại thực dân Pháp, đế quốc Mĩ xâm lăng và cả trong công cuộc xây
dựng, phát triển đất nước thời bình, cộng đồng người Việt Nam luôn đoàn kết, sát
cánh bên nhau, tương trợ lẫn nhau vì sự đi lên của đất nước.
Do vậy, có thể khẳng định không một xã hội nào có thể phát triển nếu thiếu
giáo dục. Bởi xã hội muốn phát triển và phát triển ở một trình độ cao thì nhất thiết
phải có sự phát triển, tiến bộ của con người mà đối tượng chính hướng tới là nguồn
nhân lực. Và chỉ trong một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, nguồn nhân lực mới có
thể phát triển một cách toàn diện, là động lực cho những bước tiến xa hơn của xã
hội.
II. Thực trạng và tác động của giáo dục đối với sự phát triển vốn nhân lực Việt
Nam trong khoảng thời gian gần đây
1. Tình hình giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI
Trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế
quốc tế, nguồn vốn nhân lực càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự
thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có vai trò và
nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Có thể thấy là khi nhìn lại lịch sử phát triển giáo
dục ở nước ta không ai có thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà ngành giáo dục
đã đạt được.
Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục được phát triển, đáp ứng tốt
hơn nhu cầu học tập của xã hội. Hiện nay hệ thống giáo dục nước ta đã khá hoàn
chỉnh, thống nhất, bao gồm đủ các cấp học, bậc học và các loại hình nhà trường.
Về cơ bản hầu hết các bản, làng, xã, phường đều có trường lớp tiểu học, trường
trung học cơ sở được xây dựng ở các xã hoặc cụm liên xã, trường trung học phổ
thông được xây ở các huyện, một số huyện có 2 - 3 trường. Điều đó tạo điều kiện
gia tăng rõ rệt về số lượng học sinh, sinh viên khắc phục tình trạng giảm sút trong
11
những năm vừa qua. Năm 2007- 2008 cả nước có gần 23 triệu học sinh, sinh viên
tăng 1.03% so với năm 2000-2001. Việc mở rộng quy mô và đa dạng hóa các loại

Điều kiện đảm bảo phát triển giáo dục được tăng cường hơn. Đã xây dựng
được một đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đông đảo với tổng số trên
một triệu người (khoảng 950.000 giáo viên, giảng viên và trên 90.000 cán bộ quản
lý giáo dục), với trình độ ngày càng được nâng cao. Và kèm theo đó là cơ sở vật
chất, thiết bị dạy học ở các cấp, bậc học, ở mọi vùng miền đã được cải thiện đáng
kể trong 5-6 năm qua, nhất là từ khi thực hiện chủ trương đổi mới chương trình
giáo dục phổ thông và kiên cố hoá trường, lớp học. Một số địa phương, một số
trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đã nỗ lực để từng
bước hiện đại hoá cơ sở vật chất, thiết bị dạy học. Để tạo điều kiện cho việc afny
ngân sách Nhà nước cho giáo dục - đào tạo đã tăng lên cùng với sự tăng trưởng
GDP cao và ổn định. Tỉ trọng chi cho giáo dục - đào tạo trong năm 2001 là 3,2%
và tăng lên 4,7% năm 2007. Tỉ trọng ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục - đào
tạo tăng từ 13% năm 2001 lên 16% năm 2007. Kế hoạch Chiến lược Phát triển giáo
dục giai đoạn 2001-2010 cho thấy Chiến lược của Chính phủ là tăng tỉ lệ phần
trăm ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục lên ít nhất 20% trong năm 2010.
Bên cạnh những thành tựu to lớn, giáo dục nước ta tồn tại nhiều vấn đề rất
đáng quan tâm. Nhìn lại một chặng đường giáo dục, nếu như đặt Việt Nam trong
thế cô lập so sánh với thời kì trước thì rõ ràng giáo dục nước ta đã tiến bộ, song
nếu đặt giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hóa thì không thể nhắm mắt trước sự tụt
hậu ngày càng xa của Việt Nam so với các nước xung quanh và so với yêu cầu
13
phát triển của xã hội. Có thể nói những dấu hiệu không ổn trong hệ thống giáo dục
Việt Nam đã lộ rõ từ lâu và ngày càng đậm nét.
Trước hết là những bất cập trong việc xác định mục tiêu của giáo dục Việt
Nam. Cho đến thời điểm hiện nay, các trường học ở Việt Nam chưa xác định được
mục tiêu cụ thể để đào tạo học sinh, sinh viên. Điều đó thể hiện rõ nét ở hệ thống
các trường đại học của nước ta. Theo giáo sư tiến sĩ Vũ Minh Giang - Phó Giám
đốc Đại học Quốc Gia Hà Nội thì ba mục tiêu chính mà các trường đại học trên thế
giới hướng đến để đào tạo sinh viên là: trang bị kiến thức nghề nghiệp chuyên
môn, hướng dẫn sinh viên ứng dụng chuyên môn đã học vào công việc thực tế,

giáo dục kĩ năng sống dù đã được quan tâm nhưng chưa được nhìn nhận đúng đắn
về vai trò của nó. Theo như UNESCO thì bốn trụ cột của việc học tập bao gồm:
Học để biết, Học để làm việc, Học để cùng chung sống, Học để tự khẳng định
mình. Thực tế, những biểu hiện tiêu cực trong đời sống giới trẻ những năm vừa
qua đã cho thấy định hướng còn tồn tại những thiếu xót của nền giáo dục nước nhà
mặc dù không phải là nguyên nhân trực tiếp nhưng cũng đã gián tiếp gây ra do đã
không ngăn chặn kịp thời để xảy ra tình trạng đó. Thống kê từ năm 2005 đến nay,
tổng số vi phạm pháp luật hình sự trong học sinh, sinh viên khoảng hơn 8.000
trường hợp. Trong đó, có các hành vi như đánh nhau, gây rối trật tự công cộng
(hơn 2.000 trường hợp), gần 900 trường hợp tội phạm ma túy, 83 vụ giết người;
gần 1.400 trường hợp cướp tài sản
15
Thứ ba, chương trình giáo dục của nước ta còn chậm đổi mới chưa đáp ứng
được mục tiêu giáo dục. Còn có những nội dung trong chương trình giáo dục ở các
cấp học và trình độ đào tạo không thiết thực, nặng về lý thuyết nhẹ về thực hành,
chưa gắn với yêu cầu xã hội, chưa phù hợp với nhu cầu và khả năng học tập của
mọi đối tượng học sinh. Việc dùng chung một bộ sách giáo khoa với nội dung và
thời lượng thống nhất trên cả nước bộc lộ nhiều hạn chế. Nôi dung phù hợp với
học sinh ở Hà Nội thì chưa chắc phù hợp với học sinh ở nông thôn, miền núi. Với
tình hình chung của sách giáo khoa như hiện nay, học sinh học hết tiểu học mà
không biết đọc biết viết là điều có thể lí giải. Thống kê kết quả kì thi đại học: hàng
nghìn học sinh bị điểm 0 môn lịch sử, nhiều trường đại học có đến trên 98% (Đại
học Tiền Giang) bài thi sử dưới trung bình, thậm chí có trường hợp con số ấy lên
đến 99% (Đại học Quảng Nam).
Ngoài những bất cập liên quan đến mục tiêu, phương pháp, chương trình, hệ
thống giáo dục còn tồn tại những hạn chế về sự mất cân đối trong cơ cấu giáo dục
và đào tạo.
− Mất cân đối về cơ cấu đào tạo: Năm 1986-1987, số sinh viên là 127.000
lên đến 1.540.201 vào năm 2006-2007 (tăng 11 lần) đối với bậc CĐ - ĐH; so với
120.000 học sinh năm 1986-1987 lên 390.000 năm 2006-2007 (tăng 3 lần) đối với

nước ta đã từng bước nâng cao được dân trí từ việc thanh toán nạn mù chữ (tỷ lệ
biết chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên đạt 90,3% năm 1999 và tăng lên 94% năm
2009), thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và trung học… Vấn đề đào tạo nghề,
17
đào tạo học vấn đại học, sau đại học, đào tạo các tập thể và cá nhân có năng lực
tham gia vào các cuộc thi lớn về trí tuệ như các cuộc thi Olympic Toán học, vật lý,
robocon,… cũng được quan tâm và phát triển.
Khả năng vận dụng những điều kiện vật chất, tinh thần vào hoạt động thực
tiễn nhằm đạt hiệu quả đã được cải thiện rõ rệt. Việc đẩy mạnh phát triển các hoạt
động làm việc nhóm, thuyết trình và làm các bài nghiên cứu sâu về những vấn đề
thực tế đã giúp cho mỗi cá nhân có cơ hội phát huy lý thuyết mà họ được học, áp
dụng nó vào thực tiễn đời sống. Hiện nay, tại rất nhiều trường học (THCS, THPT,
cũng như đại học,…) áp dụng phương pháp học tập lấy học sinh làm trung tâm,
yêu cầu bản thân mỗi học sinh, sinh viên phải dành thời gian tự học, tìm tòi và
nghiên cứu. Học đi đôi với hành, học tập phải gắn liền với thực hành, học tập phải
gắn liền với thực tế, có như vậy lý thuyết mới thực sự phát huy giá trị của nó.
Ngoài những mặt tích cực đã nêu ra, cũng còn tồn tại những tác động tiêu cực
của giáo dục đối với sự phát triển trí lực của vốn lao động.
Tồn tại vấn nạn thừa thầy thiếu thợ. Nảy sinh từ việc mất cân đối trong cơ cấu
giáo dục - đào tạo mà trước tiên có thể nói đến cơ cấu trường, năm 2008 trên cả
nước có 390 trường đại học - cao đẳng trong khi số trường dạy nghề là 315 trường.
Việc các trường đại học ngày càng được dựng nên nhiều đã dẫn đến việc số lượng
học sinh trở thành sinh viên đại học - cao đẳng tăng. Về cơ cấu đào tạo: Số sinh
viên là 1.540.201 vào năm 2006-2007 đối với bậc CĐ - ĐH; so với 390.000 học
sinh đối với hệ dạy nghề. Rõ ràng là số lượng sinh viên quá đông trong khi số
lượng người theo học nghề lại rất thấp (chỉ bằng ¼ số sinh viên theo học CĐ -
ĐH). Sự chênh lệch này đã dẫn đến vốn nhân lực của ta đang thiếu nhiều công
nhân được đào tạo về kỹ thuật, lành nghề, trước hết là trong các ngành trọng điểm
(cơ khí, điện tử - kỹ thuật điện, hóa chất ) và ở các khu công nghiệp lớn, các khu
kinh tế mới. Mặt khác, sự mất cân đối cơ cấu ngành cũng tác động không nhỏ đến

Nam cũng chưa sở hữu hay làm chủ được nhiều sản phẩm công nghệ nguồn, công
nghệ cốt lõi thuộc lĩnh vực công nghệ cao do vậy công nghệ cao hầu như còn vắng
bóng ở hầu hết các ngành kinh tế.
b. Tác động của giáo dục đến Tâm Lực.
Với việc nâng cao điều kiện đảm bảo giáo dục, từ cải thiện cơ sở vật chất đến
chất lượng giáo viên đã tạo ra một môi trường học tập cũng như môi trường để
phát triển tâm lực. Có thể thấy việc giáo dục đạo đức trong nhà trường được nâng
cao và cải thiện, không chỉ dừng lại ở chương trình trong sách giáo khoa mà các
trường học hiện nay còn thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu, các
chương trình ngoại khóa cho học sinh … ( ví dụ như các chương trình biểu diễn
văn nghệ, các khóa học văn thể mỹ , khóa học kĩ năng sống … ). Điều đó đã tác
động rất lớn đến tinh thần, hình thành nên phẩm chất tốt đẹp và góp phần hoàn
thiện nhân cách cho nguồn nhân lực. Cụ thể là từ những khóa học về đạo đức, từ
những chương trình ngoại khóa đến môi trường sống xung quanh đã hướng các thế
hệ học sinh sinh viên đến lòng tự tôn dân tộc, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững
vàng, sống trong sạch lương thiện và có khao khát vươn lên trong cuộc sống.
Các vấn đề về phát triển tâm lực được quan tâm ngay từ khi còn nhỏ, đặc biệt
trú trọng ở lứa tuổi mẫu giáo và tiểu học … Tính riêng trên địa bàn Hà Nội, Tính
đến hết năm học 2010-2011, trên địa bàn TP có 837 trường mầm non và hơn
12.000 nhóm, lớp. Mỗi nhóm, lớp có từ 15 đến 25 học sinh với môi trường thân
thiện, đồ chơi thông minh, truyện kể phát triển tâm hồn … và sự quan tâm giáo dục
của các cô giáo. Sự hình thành những môi trường giáo dục ngay từ khi còn nhỏ đã
giúp các em phát triển về cả thể chất lẫn tâm hồn.
20
Một ví dụ điển hình cho tác động tích cực đến tâm lực của giáo dục đó chính
là sự phát huy tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách trong nhà trường.
Hàng năm, từ các cấp bậc nhỏ đến các trường đại học trong cả nước thường xuyên
tổ chức các chương trình từ thiện, quyên góp để giúp đỡ học sinh nghèo ở vùng sâu
vùng xa, những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh khuyết tật … Chính
trong môi trường giáo dục đó, các em học sinh, sinh viên được học về tình đoàn

một phần nguyên nhân của hàng loạt hiện tượng như: chảy máu chất xám, hiện
tượng bạo lực học đường, hiện tượng biến tấu làm sai lệch tiếng Việt…
c. Tác động của giáo dục đến Thể Lực.
“Sức khỏe là vàng” - từ bao đời nay, đối với mỗi con người, không phân biệt
trình độ học vấn, giới tính, dân tộc, tuổi tác,…thì câu nói trên vẫn luôn đúng. Đối
với những người tham gia lao động, dù là lao động chân tay hay trí óc thì sức khỏe
lại càng đáng quí hơn, bởi trước hết phải có một thể lực tốt mới đủ khả năng để thể
hiện trí lực và tâm lực - hai yếu tố không thể thiếu của nguồn vốn nhân lực. Tự mỗi
người đã có cho mình một thể trạng, tuy nhiên để có được một thể lực tốt, một sức
khỏe dồi dào thì phải cần đến sự đóng góp không nhỏ của giáo dục. Với sự ảnh
hưởng này, nước ta đã và đang xây dựng - cải tiến nền giáo dục và đã có được
những tác động đáng kể đến thể lực của vốn nhân lực:
Giáo dục Việt Nam giúp học sinh, sinh viên tiếp cận những kiến thức, nhận
thức đúng đắn về tầm quan trọng của sức khỏe cũng như cách tự chăm sóc, rèn
luyện, bảo vệ bản thân trước bệnh tật thông qua chương trình học chính thức và
các họat động ngoại khóa. Ngay từ cấp I, bộ môn "Sức khỏe" đã được bộ Giáo dục
và Đào tạo đưa vào chương trình học chính, giúp các em ngay từ bé đã có những
22
kiến thức cơ bản cần biết về sức khỏe và cách chăm sóc sức khỏe, cùng với bộ môn
"thể dục" (xuyên suốt 12 năm học phổ thông và lên đến đại học,cao đẳng) với mục
đích tăng cường ý thức rèn luyện cơ thể cũng như kích thích sự yêu thích đối với
việc tập thể thao, rèn luyện thể lực với việc giảng dạy rất nhiều kĩ năng khác nhau
như: chạy, nhảy cao, nhảy xa, cầu lông, … Lên cấp III và đại học, bộ Giáo dục đã
đưa thêm vào chương trình môn “Giáo dục quốc phòng” với mục đích vừa để tôi
luyện tính kỉ luật vừa rèn luyện sức khỏe cho học sinh, sinh viên. Ngoài chương
trình học chính, học sinh còn đc khuyến khích tham gia rất nhiều các họat động
ngoại khóa, các cuộc thi như "hội khỏe Phù Đổng","bé vui bé khỏe". các họat động
giao lưu thi đấu thể thao (bóng đá, bóng rổ, cầu lông, ) giữa các trường, các tỉnh
và thành phố, Nhờ có các họat động này mà học sinh tìm được niềm vui trong
việc tập luyện thể thao, rèn luyện sức khỏe.

dục Việt Nam vẫn tồn tại những hạn chế:
Về chất lượng giảng dạy, tuy “sức khỏe” và “thể dục” là hai bộ môn trong
chương trình học, nhưng tầm quan trọng của chúng còn chưa được đánh giá đúng
tầm (thể hiện ở việc đa số phụ huynh chỉ quan tâm tới việc cho con em mình học
toán, văn, ngoại ngữ, lí,… chứ không khuyến khích đốc thúc con em học hai môn
kia). Nguyên nhân một phần là do chưa nhấn mạnh được tầm quan trọng của
những kiến thức sức khỏe - thể chất, chưa có phương cách truyền đạt hiệu quả, bài
giảng gây hứng thú do đó chưa thu hút đc niềm yêu thích của học sinh, để học sinh
tự giác tìm hiểu, rèn luyện thêm.
Còn tồn tại sự khác biệt tương đối lớn giữa các vùng. Tại các vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội thấp, những vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa,… điều kiện
24
giáo dục vẫn còn gặp nhiều khó khăn mà nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện
kinh tế còn yếu, nên ngân sách cũng như nhân lực cho giảng dạy và trình độ quản
lý đều ở mức thấp.
Vẫn tồn tại những thiếu xót về thiệt bị giảng dạy và cơ sở vật chất. Thiết bị
giảng dạy và học còn thiếu nhiều, tại nhiều trường đã cũ nát và đôi khi còn không
thể tiếp tục sử dụng được. Do đó, học sinh không được tiếp cận một cách đầy đủ
nhất tới các kiến thức của môn học, chất lượng giảng dạy cũng như tiếp thu bài có
thể bị giảm sút, không tạo được đam mê tìm hiểu, rèn luyện ở học sinh (ví dụ như
học sức khỏe không có tranh ảnh, mô hình minh họa; học thể dục với các dụng cụ
đã cũ, không đảm bảo tính an toàn cho học sinh;…). Cơ sở vật chất tại nhiều
trường học xuống cấp trầm trọng nhưng không có kinh phí để nâng cấp, sửa chữa:
vệ sinh môi trường không được đảm bảo (nhà vệ sinh hôi thối bẩn thỉu là vấn nạn
xảy ra ở rất nhiều trường kể cả một số trường ở các thành phố lớn; nhà bếp không
đáp ứng được tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng học ẩm thấp là môi
trường kích thích các loại vi khuẩn gây bệnh sinh nở và phát triển;…); công tác y
tế tại nhiều trường không được đầu tư, đảm bảo hoặc thậm chí là không có: những
dụng cụ y tế còn ít, lạc hậu, đôi khi là cả không đảm bảo vệ sinh do đó không đáp
ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của giáo viên và học sinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status