Vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ THỊ NGỌC
VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRONG VIỆCTHỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG DÂN
TỘC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2010

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRONG VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY………………………….………………………………………50
2.1. Thực trạng của giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta
hiện nay………………………………………………………………………………… 50
2.2. Một số giải pháp phát huy vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện bình
đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay 82
KẾT LUẬN………………………………………………………………………… …92
DANH MỤC TAIF LIỆU THAM KHẢO…………………………………………….94 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Giáo dục và đào tạo luôn là vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân
tộc. Giáo dục và đào tạo đã góp phần to lớn trong việc tạo ra những con người có tài
năng, trí tuệ, là nguồn lực quyết định đến thịnh suy của một đất nước. Sự lạc hậu và
kém phát triển của một dân tộc, một quốc gia có nguyên nhân trực tiếp từ giáo dục và
đào tạo. Đặc biệt là trong thời đại khoa học và công nghệ hiện nay, khi hàm lượng
chất xám chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các sản phẩm lao động, thì dân tộc nào,
quốc gia nào coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài sẽ tận dụng được cơ hội, điều kiện để vươn lên kịp với đà tiến
chung của thế giới.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Dân tộc Kinh là dân tộc đa số, chiếm tới
86,2%, còn lại là các dân tộc thiểu số, chỉ chiếm 13,8% dân số cả nước. Phần lớn, các
dân tộc thiểu số cư trú tập trung ở các vùng miền núi, nơi có điều kiện sinh sống còn
gặp nhiều khó khăn; đồng thời đây cũng là nơi có vị trí chiến lược quan trọng về kinh
tế, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái, sự thông thương với nước ngoài…, kẻ
thù hay tìm cách lợi dụng để phá hoại cách mạng nước ta ở những nơi này.
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây
dựng, tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của

2.1. Nhóm nghiên cứu về giáo dục và đào tạo.
2.1.1. Các văn kiện của Đảng cộng sản và pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục –
đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 đã
nêu rõ thực trạng giáo dục và đào tạo; định hướng chiến lược phát triển giáo dục và
đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nhiệm vụ và mục tiêu phát triển
giáo dục và đào tạo từ nay đến năm 2000; những giải pháp chủ yếu; tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục. Về giáo dục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số,
trong Nghị quyết nêu rõ: “Đối với miền núi, vùng sâu, vùng khó khăn, xoá “điểm
trắng” về giáo dục ở ấp, bản. Mở thêm các trường dân tộc nội trú và các trường bán
trú ở cụm xã, các huyện, tạo nguồn cho các trường chuyên nghiệp và đại học để đào
tạo cán bộ cho các dân tộc, trước hết là giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ lãnh đạo và
quản lý” [19, tr. 35 ].

3
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp
hành trung ương khoá IX có Báo cáo kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung
ương 2 khoá VIII và phương hướng phát triển giáo dục từ nay đến năm 2005 và đến
năm 2010. Phần kiểm điểm, đánh giá, nguyên nhân tập trung vào 5 nội dung lớn: quy
mô giáo dục; chất lượng giáo dục; quản lý giáo dục; phát triển giáo dục vùng dân tộc
và các vùng khó khăn; giải quyết các điều kiện phát triển. Báo cáo đã nêu ra các chỉ
tiêu cụ thể đối với các cấp, bậc học, nhiệm vụ, giải pháp phát triển giáo dục… Liên
quan tới giáo dục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số có chính sách ưu tiên phát triển các
cơ sở giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số. Củng cố và tăng cường hệ thống trường
nội trú, bán trú cho học sinh dân tộc thiểu số… Thực hiện tốt chính sách cử tuyển, đào
tạo theo địa chỉ đối với các vùng này.
- Chính phủ, số: 201/2001/QĐ-TTg, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010”, ngày 28/12/2001, đã

Nam; hệ thống giáo dục quốc dân: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục
nghề nghiệp, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên.
- Tác giả Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hoa (Chủ biên) (2008), Giáo dục và đào tạo
– chìa khoá của sự phát triển, Nxb Tài chính, làm rõ về vai trò của giáo dục và đào
tạo trong tư duy và thực tiễn phát triển hiện đại; những thành tựu và yếu kém của hệ
thống giáo dục; nguyên nhân của những yếu kém trong giáo dục và đào tạo; phát huy
tác dụng của giáo dục và đào tạo trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội.
2.2. Nhóm nghiên cứu về vấn đề dân tộc (có đề cập đến bình đẳng dân tộc) ở
nước ta.
2.2.1. Các văn kiện của Đảng Cộng sản và pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, khẳng định: Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược. Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp
hành Trung ương khoá IX về công tác dân tộc phân tích rõ những thành tựu đã đạt
được, những mặt thiếu sót, yếu kém trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc, đưa
ra quan điểm chỉ đạo phát triển nguồn cán bộ trong tình hình hiện nay. Dựa trên
những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân
tộc, Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với nguyên tắc cơ bản là:

5
“bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển”.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X , đã có sự điều chỉnh về nguyên tắc trong chính sách dân tộc của nước ta phù hợp
với đặc điểm tình hình mới là: các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định số
34/2006/QĐ-TTg, ngày 08 tháng 02 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, từ đó đưa ra những cơ sở lý luận và thực
tiễn cho việc xây dựng chính sách dân tộc của Đảng, nội dung và những phương
hướng, giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn nữa chính sách dân tộc.
- Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Bộ Khoa học và Công nghệ (2006),
Đề tài độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu giải pháp đảm bảo bình đẳng và tăng cường
hợp tác giữa các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội tại các vùng đa dân tộc ở
miền núi”, chủ nhiệm đề tài GS,TS. Hoàng Chí Bảo. Đề tài đưa ra giải pháp: đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao cho các vùng dân tộc thiểu số và miền núi từ hệ thống
các trường DTNT, các trường đào tạo nghề, các trường đại học, cao đẳng.
- Tô Văn Vỹ (2009), Phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số cơ sở quan trọng
để thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc, Tạp chí Mặt trận Tổ quốc số 59. Trong bài
viết, tác giả đã nêu khái quát những thành tựu và hạn chế của giáo dục và đào tạo
vùng dân tộc thiểu số, tìm ra nguyên nhân của những thiếu sót, hạn chế, từ đó nêu ra
những vấn đề cần quan tâm trong sự nghiệp giáo dục của vùng. Bài viết đề cập đến
mối quan hệ giữa phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số với việc thực hiện bình
đẳng dân tộc ở nước ta.
Các công trình nghiên cứu trên đây đều trực tiếp (hay gián tiếp) có liên quan đến
giáo dục và đào tạo, bình đẳng dân tộc và mối quan hệ giữa hai vấn đến này ở nước ta,
song vẫn còn thiếu những công trình lý luận phân tích một cách toàn diện, có hệ thống
mối quan hệ giữa giáo dục và đào tạo với việc thực hiện bình đẳng dân tộc theo góc
độ duy vật biện chứng để từ đó đưa ra những giải pháp tối ưu nhằm phát huy tốt vai
trò của giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận về giáo dục và đào tạo, về bình đẳng dân tộc và mối quan hệ
giữa hai vấn đề này, luận văn phân tích vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc thực
hiện bình đẳng dân tộc, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phát huy tốt hơn vai trò

7
quan trọng này của giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay.


8
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
Ý nghĩa lý luận:
Luận văn góp phần làm luận cứ khoa học cho đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước về những vấn đề liên quan đến đề tài.
Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập, nghiên
cứu những vấn đề liên quan đến đề tài.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương, 4 tiết.
Chương 1: Nhận thức chung về giáo dục và đào tạo, về bình đẳng dân tộc và
mối quan hệ giữa hai vấn đề này ở nước ta hiện nay.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp phát huy vai trò của giáo dục và đào tạo
trong việc thực hiện bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay.
ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đến
nay, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã
hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” [5, tr. 1].
Mục tiêu của giáo dục và đào tạo nước ta hiện nay là đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp,

10
trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng
nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc.
Để đạt được mục tiêu và đảm bảo tính chất của nền giáo dục Việt Nam, yêu cầu
đối với nội dung giáo dục và đào tạo nước ta là: “đi đôi với truyền thụ kiến thức, đào
tạo nghề nghiệp, nâng cao năng lực tư duy sáng tạo, cần đặc biệt quan tâm bồi dưỡng
phẩm chất, đạo đức cho học sinh, sinh viên; khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong
nhà trường. Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin; giảng
dạy tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường học; coi trọng giáo dục về lịch sử, văn hiến
Việt Nam; giới thiệu tinh hoa văn hoá nhân loại cho thế hệ trẻ. Giáo dục, đào tạo phải
theo hướng cân đối giữa “dạy người”, dạy chữ, dạy nghề, trong đó “dạy người” là mục
tiêu cao nhất. Giáo dục cho học sinh, sinh viên lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có
bản lĩnh vững vàng. Có tư duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi, có chí học tập, rèn
luyện để lập thân, lập nghiệp, vững vàng tiếp bước các thế hệ đi trước, góp phần đưa đất
nước đến hưng thịnh, phú cường” [19, tr.10-11]. Yêu cầu về nội dung giáo dục phải
đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư
tưởng và ý thức công dân; kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hoá dân
tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm, sinh lý lứa
tuổi của người học.
Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo
dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường
phải kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Chúng ta cần ra sức phấn đấu xây

người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm đối với người có bằng
tốt nghiệp trung học phổ thông.
+ Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp,
từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, cao đẳng.
- Giáo dục đại học gồm có:
+ Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tuỳ theo
ngành nghề đào tạo đối với người có bằng trung học phổ thông hoặc có bằng tốt
nghiệp trung cấp; từ một năm ruỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp
trung cấp cùng chuyên ngành.
+ Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm học tuỳ theo
ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng
tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối với người có bằng tốt

12
nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người
có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành.
+ Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối với người
có bằng tốt nghiệp đại học.
+ Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với người có
bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm đối với người có bằng thạc sĩ.
Giáo dục thường xuyên có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu thay đổi công nghệ trong sản xuất và đời
sống, xây dựng xã hội học tập. Giáo dục thường xuyên vừa là phương thức học tập,
mặt khác do nhu cầu phát triển đã trở thành một bộ phận quan trọng bên cạnh giáo
dục chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tại Mục 5, Chương 2, Luật Giáo
dục (2005) nêu rõ: giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên
tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ
học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm viêc làm, tự
tạo lập việc làm và thích nghi với đời sống xã hội. Giáo dục thường xuyên bao gồm
nhiều chương trình đào tạo: chương tình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết

các cấp bậc học tiếp tục được phát triển. Do số lượng giáo viên ở các cấp, bậc học đều
tăng lên, dẫn đến tỷ lệ giáo viên trên lớp cũng có những chuyển biến đáng kể trong cả
nước. Đại bộ phận nhà giáo tận tuỵ với nghề, có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần
trách nhiệm cao, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ. Phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có trình độ đào tạo từ cao đẳng trở lên,
có trình độ lý luận chính trị, tin học và ngoại ngữ.
Trong những năm qua, giáo dục nhận được sự quan tâm và ưu tiên từ Trung
ương đến địa phương. Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục đã tăng đáng kể ngay
từ khi có Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII).
Cùng với việc kiện toàn trong hệ thống giáo dục quốc dân, mạng lưới trường
lớp, các cấp bậc học, đội ngũ nhà giáo…, thì những vấn đề quan trọng khác của nền
giáo dục và đào tạo nước ta hiện nay như: ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo đối
với vùng dân tộc thiểu số, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, chủ trương xã
hội hoá giáo dục… cũng đã có những bước chuyển biến đáng kể, đáp ứng phần lớn
nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân, góp phần quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Mặc dù vậy, so với đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ mới, nhất là từ khi chúng
ta bước vào quá trình hội nhập quốc tế, nền giáo dục Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều

14
hạn chế, bất cập. Giáo dục và đào tạo phải đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu học tập của
nhân dân, tạo cơ hội cho mọi tầng lớp nhân dân có thể tham gia học tập ở các trình độ.
Giáo dục Việt Nam là một nền giáo dục cho mọi người và là một nền giáo dục thực sự
có chất lượng.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ
trương, chính sách phát triển giáo dục và đào tạo. Đại hội VII đã khẳng định phát triển
giáo dục (cùng khoa học, công nghệ) là quốc sách hàng đầu. Đến Nghị quyết Trung
ương 2 (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục- đào tạo trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000, thì vai trò quan trọng
của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển của đất nước ngày càng được khẳng định

b. Tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển ở nước ta hiện nay.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã quyết định đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ
văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo. Điều đó chứng tỏ, tầm quan trọng
đặc biệt của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển toàn diện ở nước ta hiện nay. Trong
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về định
huớng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 đã nêu rõ: “Giáo dục – đào tạo đã góp phần nâng cao dân
trí, đào tạo đội ngũ lao động có trình độ học vấn tiểu học, trung học và đội ngũ cán bộ
đông đảo phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Trong
nông nghiệp, công nghiệp và một số ngành khác, đội ngũ cán bộ và công nhân nước ta có
khả năng nắm bắt và ứng dụng nhanh chóng một số công nghệ mới” [19, tr. 21]. Điều này
càng khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển ở nước ta
hiện nay.
Thứ nhất, giáo dục và đào tạo góp phần nâng cao dân trí.
Dân trí là trình độ học vấn, trình độ hiểu biết về khoa học - kỹ thuật; tư tưởng-
chính trị, đạo đức và lối sống của nhân dân gắn với những điều kiện lịch sử cụ thể về
kinh tế, văn hoá, chính trị - xã hội của dân tộc và quốc tế.
Trình độ học vấn là sự hiểu biết của nhân dân đối với những kiến thức phổ thông
về tự nhiên và xã hội. Trình độ hiểu biết khoa học - kỹ thuật là trình độ chuyên môn,
khả năng thực hành về một lĩnh vực chuyên môn nào đó. Lập trường tư tưởng – chính
trị đúng, vững vàng, kiên định sẽ giúp con người có lý tưởng, có hoài bão, có sự định
hướng trong tương lai; đạo đức nhất là đạo đức cách mạng sẽ giúp con người tự điều

16
chỉnh hành vi, hoạt động phù hợp với sự phát triển đi lên của xã hội; lối sống giản dị,
văn minh, hiện đại sẽ dần loại bỏ những tập quán, thói quen, hủ tục lạc hậu.
Nâng cao dân trí là nâng cao trình độ hiểu biết của nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ
Chí Minh thì, nâng cao dân trí, trước hết là phải làm cho người dân “biết đọc, biết

tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách. Giáo dục phổ thông
với mục tiêu giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình
thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao
động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học
có sứ mệnh to lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước. Trình độ học vấn, trình độ hiểu biết khoa học - kỹ thuật, lập
trường tư tưởng – chính trị, đạo đức và lối sống - những nhân tố quan trọng của trình
độ dân trí được nâng cao chủ yếu là thông qua hệ thống giáo dục này.
Trong thời đại ngày nay, một quốc gia được coi là giàu mạnh khi quốc gia đó
có nền kinh tế mạnh, có trình độ văn hoá, khoa học và công nghệ tiên tiến, chính trị ổn
định, và một tiêu chí đặc biệt quan trọng là quốc gia đó phải có một trình độ dân trí
cao. Một quốc gia có trình độ dân trí cao bao giờ cũng là một quốc gia có một nền
giáo dục phát triển mạnh mẽ, thoả mãn nhu cầu học tập của nhân dân.
Để trở thành một quốc gia có trình độ dân trí cao, thì giáo dục xã hội được thực
hiện bằng nhiều con đường, cách thức khác nhau, trong đó, con đường quan trọng
nhất là tổ chức dạy học trong nhà trường nhằm giúp học sinh, sinh viên nắm vững tri
thức khoa học và kinh nghiệm xã hội, hình thành phương pháp tư duy năng động và
sáng tạo và kỹ năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống. Như vậy giáo dục trực tiếp bồi
dưỡng trình độ học vấn, góp phần nâng cao trình độ hiểu biết khoa học - kỹ thuật, lập
trường tư tưởng – chính trị, đạo đức và lối sống lành mạnh cho mỗi cá nhân, đó là con
đường nâng cao dân trí xã hội.
Thứ hai, giáo dục và đào tạo góp phần cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng nhu
cầu phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.
Nguồn nhân lực của một quốc gia hay một vùng, một khu vực, một địa phương
là tổng hợp những tiềm năng lao động của con người có được trong một thời điểm xác
định, tiềm năng đó bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực (đạo đức, lối sống, nhân
cách…) của bộ phận dân số có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội. Đây là
tài nguyên quan trọng nhất, cơ bản nhất của quốc gia, là yếu tố quyết định của lực

Như vậy, trong quan niệm của Đảng và Nhà nước, phát triển mạnh giáo dục và
đào tạo là yếu tố không thể thiếu để phát huy nguồn lực con người trong công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, là yếu tố tham gia một cách trực tiếp và đóng vai trò quyết định

19
trong chiến lược phát triển con người ở nước ta hiện nay.
Sở dĩ giáo dục và đào tạo được coi là “then chốt” để phát triển nguồn nhân lực
là vì trong các yếu tố cấu thành nên chất lượng lao động, thì hầu hết các yếu tố đều có
chịu sự tác động của giáo dục và đào tạo. Muốn có năng lực chuyên môn, trình độ tay
nghề hay khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động tốt…đòi hỏi người lao động
phải được đào tạo một cách bài bản, khoa học ngay từ dưới mái trường. Muốn có một
thể lực tốt, ngoài chế độ ăn uống, thì công tác giáo dục thể chất đóng vai trò quan
trọng. Giáo dục thể chất không những giúp cho con người có thể lực tốt mà nó còn có
tác dụng bổ trợ rất nhiều cho các kỹ năng, kỹ xảo trong các hoạt động sản xuất của
con người được nhanh nhẹn hơn, hoạt bát hơn.
Giáo dục và đào tạo là con đường không thể thiếu để nâng cao trình độ văn
hoá, trình độ học vấn, trình độ khoa học - kỹ thuật, xử lý công nghệ, tổ chức quản lý
và năng lực thực tiễn của người lao động. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, với nền
khoa học tiên tiến và quá trình hội nhập quốc tế, nhu cầu lao động xã hội rất đa dạng,
càng đòi hỏi người lao động phải được đào tạo qua hệ thống nhà trường, có kiến thức
sâu rộng, có nghiệp vụ, có phương pháp tư duy năng động…
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp giáo dục mà chúng ta
xây dựng hiện nay có nhiệm vụ đào tạo ra các thế hệ công dân trung thành với sự
nghiệp cách mạng của dân tộc, có đầy đủ tài năng, phẩm chất và bản lĩnh để vượt qua
mọi thách thức, đưa nước phát triển hoà nhịp chung với các nước trong khu vực và quốc
tế. Giáo dục phổ thông có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền tảng nhân cách và
định hướng nghề nghiệp để đào tạo công nhân kỹ thuật. Các trường dạy nghề, trường
trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học đang tham gia vào quá trình đào tạo công
nhân, nhân viên kĩ thuật lành nghề, chuyên gia giỏi cho các lĩnh vực kinh tế, văn hoá,
khoa học, công nghệ và quản lí nhà nước, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, mạnh về

Từ những mầm mống tư chất về trí tuệ hay thể lực, với một phương pháp tiên
tiến, nền giáo dục hiện đại có thể sớm phát hiện để bồi dưỡng làm phát triển hết tài
năng của con người.
Mỗi quốc gia hiện nay đều quan tâm tới việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài,
đồng thời có chính sách trọng dụng nhân tài. Nhân tài được đào tạo, bồi dưỡng, được
tạo mọi điều kiện tốt nhất để làm việc, họ sẽ có những cống hiến hết sức to lớn, đem
lại vẻ vang cho đất nước.
Việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài phải dựa trên việc thực hiện phổ cập giáo
dục một cách rộng rãi, qua đó mà sàng lọc, lựa chọn, phát hiện nhân tài từ cơ sở, ở

21
mọi địa phương, mọi vùng dân cư. Mặt khác phải có sự đầu tư thích đáng, nhằm đảm
bảo cơ sở, điều kiện vật chất, kỹ thuật, tài chính nhất định, để hiện thực hoá các chủ
trương, biện pháp nhằm thực hiện tốt nhất tư tưởng chiến lược về đào tạo, bồi dưỡng
nhân tài.
Hiện nay, ở nước ta đã tổ chức nhiều trung tâm giáo dục chất lượng cao với hệ
thống trường chuyên (dạy các môn văn hoá cơ bản), các trường năng khiếu đã tiến
hành tuyển chọn những học sinh có năng khiếu để đào tạo, bồi dưỡng bằng những
phương pháp sư phạm thích hợp.
Bên cạnh đó, việc đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề bậc cao, kỹ sư, cử
nhân tài năng (nhất là cho các ngành mũi nhọn như bưu chính viễn thông, dầu khí…)
đang dần được chú trọng. Những trung tâm giáo dục và đào tạo lớn của cả nước như:
Đại học quốc gia, trường đại học Sư phạm, trường đại học Bách Khoa… là nơi đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài trên nền tảng sáng tạo, nghiên
cứu khoa học và phát triển công nghệ đỉnh cao, là nơi hội tụ những nhân tài khoa học
xuất sắc, sinh viên tài năng hàng đầu của cả nước.
Nhiều đề án gửi người đi học nước ngoài bằng ngân sách nhà nước bắt đầu từ
năm 2000 đã được Chính phủ phê duyệt. Đây là hình thức đào tạo, bồi dưỡng nhân tài
mang tính ưu việt nhằm bồi dưỡng nhân tài, phát triển tiềm năng trí tuệ của con người,
đó là tiềm năng của mọi tiềm năng, tài sản vô giá của cả dân tộc và thời đại.

- Có chung một phương thức sinh hoạt vật chất kinh tế.
- Có chung một ngôn ngữ.
- Có chung những nét tâm lý biểu hiện trong bản sắc văn hoá.
Trên thế giới hiện nay có những quốc gia nhiều dân tộc, gọi là quốc gia đa dân
tộc, những cũng có quốc gia chỉ có một dân tộc, gọi là quốc gia dân tộc. Vì thế mà
khái niệm dân tộc được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Khái niệm dân tộc hiểu
theo nghĩa rộng tương ứng với quốc gia, đất nước. Với khái niệm này, đặc trưng lãnh
thổ rất được chú trọng. Khái niệm dân tộc hiểu theo nghĩa hẹp chỉ những tộc người,
những thành phần dân tộc trong quốc gia đa dân tộc. Với khái niệm này, đặc trưng
tâm lý dân tộc và các yếu tố về ý thức dân tộc là nổi bật. Trong các quốc gia đa dân
tộc, thường có dân tộc trội lên về mặt dân số được gọi là: dân tộc đa số; còn các dân
tộc còn lại là: dân tộc thiểu số.
Trong phạm vi của luận văn, nghiên cứu và sử dụng khái niệm dân tộc là theo
nghĩa hẹp: chỉ những tộc người, thành phần dân tộc trong quốc gia đa dân tộc.

Trích đoạn Nhận thức chung về bỡnh đẳng dõn tộc Giáo dục và đào tạo vừa là nội dung, vừa là giải pháp góp phần thực hiên bình đẳng dân tộc ở n-ớc ta. Thực hiện bỡnh đẳng dõn tộc gúp phần tạo động lực cho sự phỏt triển giỏo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay. Đa dạng hoỏ cỏc hỡnh thức tổ chức dạy học, đổi mới nội dung chương trỡnh sỏch giỏo khoa và phương phỏp dạy học cho phự hợp Tiếp tục cú những chế độ chớnh sỏch đặc thự đối với người học, nhất là con em đồng bào cỏc dõn tộc.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status