ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
*** Trần Hoài Thu
Vai trò của giáo dục và đào tạo trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Tuyên Quang-thực trạng và giải pháp
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà nội – 2006
MỤC LỤC
Mở đầu……………………………………………………………… 2
Chương 1. Vai trò của giáo dục – đào tạo và yêu cầu phát triển giáo
dục - đào tạo ở tỉnh Tuyên Quang…………………………………………8
1.1. Giáo dục và đào tạo – nhân tố quan trọng để thúc đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…………………………………8
1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Tuyên Quang……………… 14
1.3. Đẩy mạnh giáo dục và đào tạo ở Tuyên Quang là đòi hỏi khách
quan của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước……………… 21
Chương 2. Thực trạng giáo dục và đào tạo ở tỉnh Tuyên Quang 30
2.1. Những thành tựu đã đạt được…………………………………….30
2.2. Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế của ngành giáo
dục và đào tạo tỉnh Tuyên Quang……………………………………………40
Chương 3. Một số giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của
giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp công nghiệp hoá. hiện đại hoá ở tỉnh
Tuyên Quang……………………………………………………………… 55
3.1. Nâng cao nhận thức trong nhân dân về vai trò của giáo dục và đào
tạo………………………………………………………………………… 55
3.2. Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo……………………….58
3.3. Phát triển đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng
và phân bố hợp lý giữa các vùng…………………………………………….61
3.4. Đổi mới công tác quản lý giáo dục và đào tạo………………… 63
3.5. Tạo việc làm cho người học sau khi được đào tạo……………….65
Kết luận………………………………………………………………69
Danh mục tài liệu tham khảo……………………………………….71
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
nước.
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần có sự quan tâm, đầu tư ở nhiều
mặt như: chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người,
phát triển giáo dục và đào tạo… Trong những nhân tố đó, giáo dục và đào tạo
đóng vai trò trực tiếp và quyết định nhất trong việc nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, hình thành nên những con người lao động phát triển đầy đủ
năng lực, trí tuệ, có vốn kiến thức khoa học hiện đại.
Nhận thức được vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo, Đảng và
Nhà nước ta đã đặt vấn đề phải đưa giáo dục và đào tạo trở thành quốc sách
hàng đầu. “Giáo dục – đào tạo phải có nhiệm vụ đào tạo ra nguồn nhân lực có
hàm lượng chất xám cao, đào tạo đội ngũ “công nhân khoa học” có khả năng
vận dụng tri thức và sản xuất ra tri thức như F. Ăngghen đã dự báo, nhằm
từng bước đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế lấy sản xuất ra tri thức làm
hoạt động chủ yếu.
Thực hiện chủ trương “xã hội hóa giáo dục”, Đảng và Nhà nước ta đã
lãnh đạo các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân ta hăng hái thi đua vì sự
nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo. Đặc biệt Đảng và Nhà nước ta rất quan
tâm đến sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo của các tỉnh niền núi còn gặp
nhiều khó khăn về kinh tế - trong đó có tỉnh Tuyên Quang - đặc biệt coi trọng
mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và đội ngũ cán bộ, đáp ứng các
yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương và của cả nước, nhằm rút
ngắn khoảng cách chênh lệch giữa miền ngược và miền xuôi, giữa đồng bằng
và miền núi, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa
xã hội.
4
Mặc dù là một tỉnh miền núi còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, lại có
nhiều thành phần dân tộc sinh sống, nhưng với sự lãnh đạo của Đảng ủy, các
ban ngành đoàn thể, đặc biệt trong đó có ngành giáo dục, cùng với sự quyết
các cuốn sách viết về đề tài nay như: “Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai
vấn đề và giải pháp” của Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Đắc Hưng; “Giáo dục
Việt Nam thế kỷ XXI” của Đoàn Văn Khoái… Ngoài ra, có rất nhiều bài viết
đăng trên các tạp chí quan trọng như: Tạp chí Giáo dục thời đại; Tạp chí Cộng
sản; Tạp chí Nghiên cứu lý luận… Song để đi sâu nghiên cứu tình hình giáo
dục và đào tạo và vai trò của nó ở từng địa phương vẫn còn bỏ ngỏ, đặc biệt
với những tỉnh miền núi như tỉnh Tuyên Quang thì vẫn chưa có đề tài nào đi
sâu tìm hiểu một cách có hệ thống, mặc dù đã có rất nhiều bài báo đăng trên
báo của địa phương, nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc phản ánh được một mảng
hay một khía cạnh nào đó mà chưa đi sâu khái quát được tình hình giáo dục
và đào tạo cũng như vai trò của nó trong sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa
- hiện đại hóa của tỉnh Tuyên Quang.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
- Làm rõ vai trò của giáo dục và đào tạo đối với sự nghiệp công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước nói chung và yêu cầu phát triển giáo dục và đào
tạo ở Tuyên Quang
- Khái quát được những thực trạng và hạn chế của quá trình phát triển
giáo dục và đào tạo làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển hơn
nữa vai trò của giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của tỉnh Tuyên Quang.
* Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích làm rõ quan điểm của Đảng và nhận thức của địa phương về
vai trò của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nước nói chung và ở tỉnh Tuyên Quang nói riêng.
6
- Đánh giá đúng thực trạng giáo dục và đào tạo của tỉnh Tuyên Quang
trong những năm qua.
đất nước nói chung và đối với Tuyên Quang nói riêng .Trên cơ sở đó đề xuất
một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của giáo dục và đào tạo trong
sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Tuyên Quang.
Kết quả của luận văn có thể làm cơ sở để Đảng bộ và ngành giáo dục
Tuyên Quang hoạch định chủ chương tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục và
đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Ở mức độ nhất định, kết quả của đề tài cũng có thể làm tài liệu tham
khảo phục vụ cho công tác giảng dạy và những vấn đề liên quan đến giáo dục
và đào tạo của tỉnh Tuyên Quang.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Luận văn gồm 3 chương, 10 tiết. 8
Chương 1
VAI TRÕ CỦA GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO VÀ YÊU CẦU PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở TỈNH TUYÊN QUANG
1.1. Giáo dục và đào tạo - nhân tố quan trọng để thúc đẩy nhanh
mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, bởi Người coi nạn dốt cũng là một
thứ giặc, đây là thứ giặc nội xâm nên rất nguy hiểm, đó là kẻ thù của dân tộc
ta. Do đó tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là xây dựng một nền
giáo dục phục vụ sự nghiệp nâng cao dân trí trên cơ sở nhận thức sâu sắc tính
chất nham hiểm và khắc phục hậu quả tai hại lâu dài của chính sách ngu dân
mà chủ nghĩa thực dân để lại, để làm cho dân tộc Việt Nam trở nên một dân
tộc dũng cảm, yêu nước, yêu dân tộc, một dân tộc xứng đáng với nước Việt
Nam độc lập.
Trong tình hình đó, nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập ra đời
phải là một nền giáo dục nhân dân, một nền giáo dục phục vụ nâng cao dân
trí, để làm cho cả dân tộc thành một dân tộc thông thái, một dân tộc văn minh.
Với tinh thần đó, quy mô giáo dục được mở rộng hơn cho toàn thể nhân dân.
Nền giáo dục đó được coi là nền giáo dục mới, một sản phẩm vô giá của cuộc
Cách mạng tháng Tám.
Tiếp tục kế thừa những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo
dục, từ những năm 70 của thế kỷ XX đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra
nhiều chủ trương, chính sách để phát triển giáo dục và đào tạo. Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VII đã khẳng định: phát triển giáo dục và khoa học công
nghệ là quốc sách hàng đầu; Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương
khóa VII đã có nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo;
Đến hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Đảng ta đã
khẳng định một lần nữa vai trò của giáo dục và đào tạo là: muốn tiến hành
10
công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục và đào
tạo.
Bước vào thế kỷ XXI với một thách thức lớn của thời đại đó là cuộc
cách mạng khoa học công nghệ đang bùng nổ mạnh mẽ với những tiến bộ kỳ
diệu của khoa học, công nghệ và bối cảnh giao lưu quốc tế hóa đời sống kinh
tế thế giới, đã mở ra những cơ hội thuận lợi cho tất cả các nước nhất là các
động vào giới tự nhiên. Tư liệu lao động phản ánh trình độ phát triển của sản
xuất xã hội, nó là cơ sở quyết định sự phát triển của sản xuất, là thước đo khả
năng trinh phục tự nhiên của con người.
Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất, giữ vai trò quyết định trong lực
lượng sản xuất lại chính là con người. Về điều này Ph. Ăngghen đã từng nhấn
mạnh: Muốn nâng nền sản xuất lên thì một mình tư liệu lao động, dù là tư liệu
cơ giới hay bất kỳ tư liệu nào khác, cũng không đủ mà còn cần có những con
người có năng lực tương xứng sử dụng những tư liệu đó. Sở dĩ như vậy là vì,
thứ nhất, nếu không có con người trí lực thì dù tư liệu lao động có sức mạnh
đến đâu và đối tượng lao động có phong phú, hiện đại như thế nào đi chăng
nữa thì cũng không có tác dụng và quá trình sản xuất sẽ không được thực
hiện. Thứ hai, trừ đối tượng lao động có sẵn trong tự nhiên, còn lại tất cả
những yếu tố khác trong lực lượng sản xuất từ công cụ lao động, phương tiện
vận chuyển… đều do con người tạo ra. Thứ ba, mọi sự biến đổi và phát triển
của lực lượng sản xuất xét đến cùng đều do con người tạo nên… Tất cả những
yếu tố đó đã làm cho lực lượng sản xuất không ngừng vận động biến đổi và
phát triển.
- Dưới góc độ công nghệ, con người cũng là thành tố giữ vai trò chi
phối, quyết định đến kết cấu, sự vận hành và hiệu quả của công nghệ. Bởi để
có một sản phẩm đảm bảo chất lượng, được thị trường chấp nhận, thì việc có
thiết bị máy móc tốt chưa đủ, mà còn phải có những con người có tay nghề
phù hợp, nắm được bí quyết công nghệ, có bộ máy quản lý năng động, đủ sức
12
tổ chức sản xuất có hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của thị trường… Điều
này đòi hỏi phải có được quan điểm toàn diện, đồng bộ trong việc đánh giá
vai trò của của từng yếu tố, đồng thời cần đặc biệt quan tâm yếu tố con người
trong xây dựng và phát triển khoa học công nghệ trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
- Nếu xem xét dưới góc độ nguồn lực, trong quan hệ với các nguồn lực
về trí tuệ, sức mạnh của một nước đồng nghĩa với sức mạnh của trí tuệ , nó là
tài nguyên của mọi tài nguyên, do vậy đã có quan điểm khẳng định: “Đi trước
một bước về giáo dục và đào tạo, coi đó là chìa khóa của sự tăng trưởng, là
điều kiện để bảo đảm cho sự thắng lợi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
[14, tr.96].
Phát huy thành quả đã đạt được, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn,
nhưng ngành giáo dục nước ta vẫn quyết tâm phấn đấu “dù khó khăn đến đâu
cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt” và Đảng ta đã rất nhiều lần khẳng định:
giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là
đầu tư cho phát triển.
Với sự cố gắng đó, trong những năm qua ngành giáo dục và đào tạo
nước ta đã ngăn chặn được sự giảm sút về quy mô và có những bước tăng
trưởng khá. Năm học 1996 - 1997 cả nước có hơn 20 triệu học sinh. Công
cuộc chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học được triển khai trong cả
nước. Năm 1997 có 16 tỉnh, thành phố, trong đó có 3 tỉnh miền núi, 57% số
huyện, 76% số xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ
cập giáo dục tiểu học. Số với năm học 1991 - 1992, trong năm học 1995 -
1996 số học sinh phổ thông tăng 1,25 lần, sinh viên đại học tăng gấp 2,7 lần
[7, tr.20].
Tuy nhiên, để ngành giáo dục nước ta tiếp tục có những thành công
mới và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đạt được kết quả như mục tiêu
mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra, thì cần rất nhiều sự quan tâm của toàn xã hội
14
và sự phấn đấu lỗ lực của bản thân ngành giáo dục, nhằm cung cấp cho xã hội
những con người có tri thức, có năng lực thực sự trong lao động và có khả
năng sáng tạo trong lao động thực tiễn, có thể vươn tới và chiếm lĩnh những
tri thức khoa học của nhân loại.
1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Tuyên Quang
1.2.1. Đặc điểm về vị trí, địa lý
nhưng thuộc các xã vùng sâu, vùng xa, họ sống cũng rất tách biệt với trung
tâm thị trấn, thị xã… Nhìn chung, địa hình phức tạp cộng với việc phân bố
dân cư không đồng đều, nhiều vùng đồng bào dân tộc còn sống theo phương
thức du canh du cư, với đặc điểm này đã ảnh hưởng rất lớn tới công tác phát
triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số
còn lạc hậu, với nhiều tập quán và những hủ tục còn lưu truyền từ nhiều đời
trước đã làm hạn chế suy nghĩ của họ, ví dụ như mê tín dị đoan: ốm đau cúng
bái, tin vào ma quỷ…
Bên cạnh việc đi lại đường xá khó khăn, cùng với tâm lý còn lạc hậu
của người dân nơi đây, thì điều kiện tự nhiên ở Tuyên Quang cũng không kém
phần khắc nghiệt, mùa đông thì giá lạnh, xương muối bao phủ dày đặc; mùa
hè thì nóng nực, thường xuyên bị lũ lụt, nên cuộc sống của người dân nơi đây
còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy để đảm bảo cuộc sống sinh tồn của mình, họ
đã thực hiện những cuộc di dân tự do, rồi đốt rừng làm nương dẫy, đến khi
nơi này không thể khai thác hay trồng cấy được nữa thì họ sẽ di chuyển đến
một nơi khác miễn là nơi đó họ có cái ăn để sống, thực trạng này dẫn đến hiện
tượng hàng năm vào khoảng tháng 7 âm lịch thường xuyên có lũ lụt làm cuốn
trôi cả nhà cửa, trâu, bò, lợn, gà… và cả con người, có năm lũ về bất ngờ
cuốn sạch mọi thứ nó đi qua, thậm chí có khi còn “xóa tên” một bản khoảng
vài chục nóc nhà.
Có thể thấy điều kiện kinh tế - xã hội của người dân nơi đây còn gặp
nhiều khó khăn cả do yếu tố chủ quan lẫn yếu tố khách quan chi phối, do vậy
cuộc sống đã thiếu thốn nay càng trở nên bế tắc. Vậy làm thế nào để giúp
16
người dân thoát khỏi hoàn cảnh đó. Câu trả lời duy nhất lúc này là phải giúp
họ có cái chữ, nhiệm vu đó chỉ có ngành giáo dục và đào tạo mới có thể đảm
nhận được.
Đặc điểm địa lý và dân cư như vậy là một trong những nguyên nhân
dẫn đến những hạn chế mà ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Tuyên Quang còn
lương thực đạt trên 26 vạn tấn, lương thực bình quân là 384kg/người/năm)
[11, tr.3].
Công tác bảo vệ và trồng rừng cũng được chú trọng, thực hiện cơ chế
liên doanh trồng rừng nguyên liệu để nâng cao hiệu quả kinh tế rừng, đồng
thời trồng mới 27.954 ha rừng, độ che phủ của rừng đạt 63%.
Đầu tư, nâng cấp, quản lý và sử dụng có hiệu quả trên 2300 công trình
thủy lợi; chăn nuôi có bước phát triển, đàn lợn tăng 6%, đàn gia cầm tăng
9,9% Nuôi trồng thủy sản bước đầu đạt kết quả. Ngăn ngừa có hiệu quả
bệnh gia súc và dịch cúm gia cầm.
- Về công nghiệp; giao thông, vận tải; bưu chính, viễn thông; xây dựng
kết cấu hạ tầng:
Với đặc thù của một tỉnh miền núi, nên Tuyên Quang còn gặp nhiều
khó khăn trong việc phát triển kinh tế, song với đức tính cần cù, chịu khó,
hăng say trong lao động, qua tìm hiểu cho thấy tỉnh không chỉ chú trọng đến
phát triển kinh tế, nông, lâm, ngư nghiệp, mà còn quan tâm tới phát triển cả
công nghiệp, giao thông, bưu chính… mặc dù đây không phải là thế mạnh của
những vùng miền núi như Tuyên Quang, nhưng qua những gì đạt được đã
chứng tỏ Tuyên Quang đã chuẩn bị cho mình một lực lượng lao động có chất
lượng để phục vụ cho quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện
đại hoá trong giai đoạn tiếp theo.
Trong công nghiệp đã có những bước chuyển biến, những kết quả bước
đầu đạt được đã cho thấy đây là những cố gắng rất lớn của Tuyên Quang trên
con đường phát triển mà trong đó không thể thiếu vai trò của công nghiệp.
Năm 2000 Tuyên Quang chỉ có 01 nhà máy xi măng, nhà máy chè, nhà máy
gạch chịu lửa, đến nay đã xây mới thêm 02 nhà máy đường ở thị xã Tuyên
18
Quang và Huyện Sơn Dương, dây truyền sản xuất gạch Tuynen, đã đưa vào
sử dụng, đặc biệt đã hoàn thành quy hoạch phát triển công nghiệp đến năm
2010, định hướng phát triển đến năm 2020. Triển khai quy hoạch cụm các
Thương mại, du lịch bước đầu có chuyển biến. Thị trường nông thôn,
vùng sâu, vùng xa được chú ý mở rộng và từng bước được khai thông, đảm
bảo lưu thông hàng hóa được thuận lợi để phục vụ nhân dân, nhất là những
mặt hàng thiết yếu, mặt hàng chính sách.
Kim ngạch xuất khẩu năm 2005 đạt 8,4 triệu USD, tăng bình quân là
10,1%/năm. Một số mặt hàng xuất khẩu tăng nhanh như: bột Barit, gỗ chế
biến… Đây là một trong những thế mạnh của Tuyên Quang mà trong những
năm gần đây đã đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện
đại hoá của tỉnh.
Bên cạnh đó tỉnh cũng đã hoàn thành quy hoạch tổng thể phát triển du
lịch tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, và quy
hoạch chi tiết khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; bắt đầu triển khai một số tua
du lịch trong và ngoài tỉnh.
1.2.3. Văn hóa - xã hội
Với cơ cấu dân cư phong phú, đa dạng gồm 24 thành phần dân tộc,
sống rải rác ở 145 xã, phường, thị trấn, với đặc thù là một tỉnh miền núi còn
gặp nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần “xây dựng xã hội văn minh”, được
sự chỉ đạo sát sao của các cấp Đảng ủy, chính quyền, mà trực tiếp là Sở Văn
hóa tỉnh, Tuyên Quang đã đạt được những kết quả đáng mừng trên lĩnh vực
văn hóa, thông tin, thể dục thể thao.
Sở Văn hóa đã có chủ trương đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, thông
tin tập trung về cơ sở, bước đầu về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu hưởng
thụ văn hóa của nhân dân. Hiện nay, toàn tỉnh có 78,56% gia đình đạt danh
hiệu “gia đình văn hóa”; 72,4% thôn, bản đạt danh hiệu “thôn, bản văn hóa”.
Các giá trị văn hóa của các dân tộc trong tỉnh đã được chú ý bảo tồn và phát
20
huy, đồng thời ngành văn hoá cũng tìm những biện pháp làm phong phú thêm
đời sống tinh thần của người dân nơi đây như việc tổ chức các hoạt động giao
lưu văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao Hơn cả là việc nâng cao trình độ
Đồng thời, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình đã được tổ chức thực
hiện tốt, 100% trạm y tế xã thực hiện được các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình,
tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,4% năm 2000 xuống còn 0,63% năm
2005. Đây là một trong những kết quả hết sức đáng mừng cần được giữ vững
và tiếp tục thực hiện có hiệu quả.
Đến nay trên địa bàn toàn tỉnh đã có 97/145 xã, phường, thị trấn đạt
chuẩn quốc gia về công tác y tế xã.
Nhìn tổng thể kết quả kinh tế - xã hội đã đạt được như trên là cả một
quá trình cố gắng, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân tỉnh Tuyên Quang. Những thành quả đó có được là nhờ
một phần đóng góp rất lớn ở chất lượng giáo dục, bởi giáo dục và đào tạo phát
triển mạnh mẽ sẽ làm cho dân trí được nâng cao, chất lượng nguồn lực được
đảm bảo từ đó mới thúc đẩy kinh tế - xã hội tăng trưởng, ngược lại những
thành quả của kinh tế - xã hội sẽ là những điều kiện thuận lợi để tạo cơ sở
phát triển mạnh mẽ giáo dục và đào tạo. Như vậy giữa phát triển kinh tế - xã
hội và phát triển giáo dục và đào tạo có mối quan hệ tác động qua lại với
nhau, nhưng cần thấy rằng, phát triển giáo dục là yếu tố cơ bản, giữ vai trò
quyết định nhất cho sự tồn tại của một xã hội, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
từng nói: “Trình độ văn hóa của nhân dân cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh
công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ” [20, tr.821]. Xác định được
vai trò quan trọng của giáo dục, cùng với những chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước, sự phấn đấu của các cấp chính quyền và nhân dân trong
toàn tỉnh, sự nghiệp giáo dục trong thời gian qua đã có những bước phát triển
đáng kể, thỏa mãn được phần nào lòng mong mỏi của nhân dân.
Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng công tác giáo dục và đào tạo của
tỉnh Tuyên Quang còn nhiều hạn chế, bất cập, cần phải có những biện pháp
trước mắt cũng như lâu dài cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện của tỉnh để
22
làm sao có thể đẩy mạnh hơn nữa về cơ cấu, quy mô, chất lượng giáo dục…để
làm chủ và sáng tạo ra những lĩnh vực khoa học và công nghệ mới, hiện đại.
Vấn đề này đòi hỏi chúng ta phải có những chiến lược phát triển giáo dục và
đào tạo phù hợp đáp ứng những yêu cầu mới của nền kinh tế tri thức đang đặt
ra hiện nay như một quy luật tất yếu, khách quan, mà không một nước nào
không thể đi qua được.
Ngày nay khi đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, thì yêu cầu đó lại càng trở nên cần thiết, tự bản thân nó đặt ra những
đòi hỏi khách quan về số lượng, cơ cấu, chất lượng nguồn lực con người với
những năng lực và phẩm chất cần thiết, thích ứng với bối cảnh hiện nay. Bởi
đó là thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước, thời kỳ cách mạng khoa học - công
nghệ phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ, là thời kỳ công nghiệp hóa gắn với
hiện đại hóa, với xu thế trí tuệ hóa về lao động, là thời kỳ mở rộng quan hệ
kinh tế - thương mại quốc tế, hội nhập quốc tế. Thời kỳ hiện nay cũng là thời
kỳ phát triển con người công nghệ - nhân văn, đi đôi với xu thế dân chủ hóa,
nhân văn hóa đời sống xã hội, đặc biệt là kết hợp khai thác các giá trị truyền
thống và hiện đại phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Những vấn đề này đặt ra là một cần thiết và do vậy, chúng ta cũng cần phải
chú ý tới việc xây dựng những giải pháp thiết thực để thực thi có hiệu quả,
trong đó, trước hết cần tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển giáo dục và
đào tạo.
Như vậy trình độ dân trí và tiềm lực khoa học công nghệ đã trở thành
nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới. Nhận
thức được vấn đề đó, Đảng ta đã khẳng định: cùng với giáo dục và đào tạo,
khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu.
Đứng trước những đòi hỏi khách quan của thời đại, Đảng và Nhà nước
ta đã có nhiều chủ chương chính sách, nghị quyết quan trọng bàn về phát triển
giáo dục và tạo, và coi đó là điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt