THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH hỗ TRỢ PHỤ nữ PHÁT TRIỂN KINH tế TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ TAM kỳ, TỈNH QUẢNG NAM - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM YỂN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH
QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM YỂN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHỤ
NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN HÙNG

HÀ NỘI, năm 2020


Tôi xin chân thành cảm ơn!

Quảng Nam, ngày 13 tháng 3 năm 2020
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Yển


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ

PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ.............................................................. 10
1.1. Lý luận về chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT.............................................10
1.2. Nội dung thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT...............................15
1.3. Nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT........21
1.4. Kinh nghiệm thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT của một số địa
phương............................................................................................................ 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM......................................................... 28
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng
Nam.................................................................................................................28
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT trên địa bàn thành
phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam......................................................................... 35
2.3. Thực trạng triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT trên địa
bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam....................................................... 39
2.4. Đánh giá chung về việc thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT trên địa
bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam....................................................... 54


2

ĐHĐB

Đại hội đại biểu

3

LHPN

Liên hiệp phụ nữ

4

KH&CN

Khoa học và Công nghệ

5

PTKT

Phát triển kinh tế

6

HĐND, UBND

Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân


12

TTATXH

Trật tự an toàn xã hội

13

KT-XH

Kinh tế- xã hội

14

QPAN

Quốc phòng an ninh

15

ANTQ

An ninh Tổ quốc


16

Tổ TK&VV


Tên bảng

Trang

bảng
2.1

Tình hình vay vốn của phụ nữ

41

2.2

Kết quả tập huấn kiến thức chuyển giao KHKT

43

2.3

Kết quả giúp thoát nghèo bền vững

50

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Tên biểu đồ

Trang

Biểu đồ

nam và nữ cùng một vị trí công việc vẫn tồn tại, cơ hội để phụ nữ tiếp cận
những việc làm có thu nhập cao vẫn thấp hơn so với nam giới, lao động nữ
chưa được đánh giá cao như lao động nam, là đối tượng dễ bị rủi ro và tổn
thương hơn khi doanh nghiệp có nhu cầu cắt giảm nhân lực.
Theo báo cáo “Triển vọng việc làm và xã hội thế giới – Xu hướng cho
phụ nữ” của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) vừa công bố cho thấy, Việt Nam
thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động cao nhất thế
giới, đang đóng góp rất lớn vào sự phát triển của nền kinh tế đất

1


nước. Tuy nhiên, lao động nữ (LĐN) còn gặp rất nhiều rào cản trong việc làm
và thu nhập.
Báo cáo cho thấy, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ Việt
Nam là 72%, cao hơn mức trung bình thế giới (49%), mức trung bình của khu
vực châu Á và nhóm các nước thu nhập trung bình thấp. LĐN tại Việt Nam
chiếm 48, 4% tổng lực lượng lao động. Tuy nhiên tỷ lệ nữ giới tại Việt Nam
có việc làm thấp hơn 9% so với nam giới. Còn về thu nhập, theo số liệu báo
cáo của Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội) năm
2017, mức lương bình quân hằng tháng của lao động nữ khoảng 4,58 triệu
đồng, thấp hơn so với lao động nam (5,19 triệu đồng). Điều này không hẳn là
do chủ doanh nghiệp cố ý trả lương cho lao động nữ thấp hơn nam giới khi
làm cùng một công việc. Lý do chính là vì phụ nữ phải chăm sóc con, đảm
đang việc gia đình nên ngày công không cao bằng nam giới.
Trong thời gian qua, nhiều chính sách được ban hành nhằm khuyến
khích, hỗ trợ cho phụ nữ phát triển mọi mặt, nhất là trong lĩnh vực phát triển
kinh tế gia đình, ổn định cuộc sống và tham gia hoạt động xã hội. Vấn đề hỗ
trợ phụ nữ phát triển kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ thể hiện tài
năng và đóng góp của mình trong xã hội hiện nay. Vai trò của phụ nữ trong

Với những lý do kể trên, học viên lựa chọn đề tài “Thực hiện chính
sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh
Quảng Nam”.

2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, nhiều nước trên thế giới đã nỗ lực để mang lại
bình đẳng giới cho con người, để con người thật sự được sống trong một xã
hội văn minh, phát triển bền vững. Và, Việt Nam là một trong số các nước có
3


nhiều thành tựu về thực hiện bình đẳng giới đã được ghi nhận, như: xây dựng
và ban hành văn bản pháp quy thể hiện nguyên tắc về bình đẳng giới, là một
trong các quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm
qua, đã hoàn thành trước thời hạn mục tiêu bình đẳng nam nữ và nâng cao vị
thế cho phụ nữ (đây là một trong các Mục tiêu Thiên niên kỷ mà chúng ta
phấn đấu đạt tới); Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc
hội cao ở khu vực và thế giới (đứng thứ 43/143 nước trên thế giới và thứ 2
trong ASEAN); là nước dẫn đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương về các
chỉ số bình đẳng giới thông qua việc cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục tới
trẻ em gái, trẻ em trai, phụ nữ, nam giới, tỷ lệ mù chữ của nữ giới so với nam
giới ngày càng giảm… Đây là những con số rất có ý nghĩa, bởi việc thực hiện
bình đẳng giới sẽ giúp mang lại các nguồn lợi lớn cho sự phát triền bền vững
Bên cạnh đó, các đề tài nghiên cứu, các bài báo, bài viết…cũng đã
khẳng định được vai trò to lớn của phụ nữ trong phát triển kinh tế đất nước và
các chính sách quan tâm đến hỗ trợ phụ nữ phát huy vai trò của mình.
Đề tài nghiên cứu của tác giả Lê Mạnh Cường về “Vai trò của phụ nữ
trong phát triển kinh tế hộ gia đình” (2017) tại xã Diễn Hồng, huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An. Tác giả nghiên cứu thông qua khảo sát thực tế về vai trò
của phụ nữ trong sản xuất ở nông thôn cả trong sản xuất nông nghiệp và phi

khả năng sáng tạo và nâng cao vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như
ngoài xã hội.
Tại diễn đàn “Thúc đẩy Vai trò của phụ nữ trong kinh tế xanh” của
Trung tâm nghiên cứu và phát triển truyền thông KH&CN (2019): Phát biểu
khai mạc diễn đàn, ông Trần Văn Tùng, Thứ trưởng Bộ KH&CN khẳng định
việc hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng trong thực hiện
5


bình đẳng giới, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Phát biểu tại diễn đàn, bà Elisa
Fernandez, Trưởng Văn phòng UN Women tại Việt Nam cho rằng, khó có thể
xóa bỏ đói nghèo, gia tăng sự thịnh vượng và phát triển bền vững nếu “phụ nữ
không được trao quyền và tham gia đầy đủ trong nền kinh tế”. Cần xóa bỏ
những rào cản, khuyến khích phụ nữ tham gia vào nền kinh tế xanh bằng cách
củng cố các hệ thống chính sách, thúc đẩy cải cách, đảm bảo điều kiện lao
động tốt cho phụ nữ”.
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu, bài báo, đề tài nghiên
cứu khác... Việc nghiên cứu này hết sức quan trọng trong việc quản lý thực
hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT tại thành phố Tam Kỳ, góp phần nâng
cao hiệu quả quản lý về thực hiện chính sách, thấm nhuần quan điểm giới
trong xây dựng chính sách, chương trình, kế hoạch về phát triển kinh tế đô thị
và nông thôn, về gia đình; là chìa khóa cho sự tiến bộ và phát triển thực sự
của phụ nữ trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ thực trạng, đánh giá những thành công, hạn chế và
nguyên nhân việc thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT trên địa bàn thành
phố Tam Kỳ, luận văn đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ
phụ nữ PTKT trên địa bàn thành phố trong giai đoạn tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

PTKT trên địa bàn thành phố Tam Kỳ trong thời gian tới.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận ngành (chính sách công, xã hội học,
kinh tế học). Lý thuyết Chính sách công được vận dụng trong thực tiễn về
7


quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, cũng như của các cấp chính
quyền trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong các đề xuất giải pháp thực hiện
chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phân tích các tài liệu sơ cấp
Luận văn lấy tài liệu được thu thập qua sách báo, giáo trình, các Nghị
quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước quy định về vấn đề hỗ trợ phụ nữ
PTKT; các văn bản, Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Quảng Nam
và thành phố Tam Kỳ về phát triển kinh tế dành cho phụ nữ, các số liệu tổng
hợp từ tình hình phát triển kinh tế xã hội của UBND thành phố Tam Kỳ hằng
năm, báo cáo tổng kết năm về kết quả thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ phụ nữ
PTKT của Hội LHPN thành phố Tam Kỳ phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
Qua kết quả thẩm định các hộ gia đình phụ nữ thuộc diện hộ nghèo, cận
nghèo tại 13 xã/phường trên địa bàn thành phố Tam Kỳ.
5.2.2. Phương pháp phân tích, so sánh, xử lý thông tin, thống kê số
liệu: được sử dụng để phân tích các số liệu, tài liệu thu thập được.
5.2.2.1. Phương pháp phân tích: được sử dụng trong luận văn để phân
tích các số liệu thu thập từ nguồn tài liệu sơ cấp
5.2.2.2. Phương pháp so sánh, xử lý thông tin, thống kê số liệu: Từ số
liệu thu thập được qua nguồn sơ cấp, thông tin được tiến hành xử lý, phân tích
và so sánh thực tế đạt được với chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra nhằm kiểm định kết
quả đạt được của chương trình hỗ trợ phụ nữ PTKT.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1. Lý luận về chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm về chính sách công
Chính sách công (CSC) là chính sách của nhà nước, ra đời, tồn tại và
phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại, phát triển của nhà nước.
Thông thường người ta hiểu cụm từ “chính sách” khi nó có vai trò,
chức năng của “khu vực công” thì được gọi là chính sách công. Vì vậy, trong
thực tế nhiều nhà nghiên cứu có những định nghĩa khác nhau về chính sách
công với chức năng, vai trò cũng có sự khác biệt.
William Jenkin quan niệm rằng: “Chính sách công là một tập hợp các
quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc nhóm các nhà
hoạt động chính trị cùng hướng đến lựa chọn mục tiêu và các giải pháp để đạt
được mục tiêu đó”
Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Khắc Bình đưa ra khái niệm về chính sách
công như sau: Chính sách công là hoạt động mà chính phủ chọn thực hiện
hoặc không thực hiện để điều hòa các xung đột trong xã hội nhằm thúc đẩy xã
hội phát triển theo định hướng nhất định.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Phú Hải- Học viện Khoa học xã hội đã
đưa ra định nghĩa một cách chung nhất về CSC như sau: “Chính sách công là
một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa
chọn các mục tiêu cụ thể với các giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các
vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của Đảng chính trị cầm quyền”.
Từ các quan niệm trên, chính sách công có thể được nhìn nhận như sau:
10


Trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà
nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính

một nhóm xã hội khác chưa đủ điều kiện để ổn định cuộc sống hoặc tiến hành
một hoạt động nào đó.
1.1.1.3. Khái niệm về hỗ trợ phụ nữ PTKT
Hỗ trợ phụ nữ PTKT là những nội dung hỗ trợ dành riêng cho phụ nữ,
chủ yếu là phụ nữ tại các vùng nông thôn, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn có
sức lao động hoặc có khả năng lao động nhưng thiếu điều kiện sản xuất trong
một thời gian nhất định. Hỗ trợ phụ nữ PTKT là quá trình tuyên truyền, hỗ trợ
phụ nữ về các mặt nhận thức, vốn, tư vấn lựa chọn mô hình kinh tế, nâng cao
ý thức và kỹ năng hoạt động nghề để phát triển kinh tế gia đình.
1.1.1.4. Chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế
Chính sách hỗ trợ PNPTKT là chính sách của Nhà nước nhằm hỗ trợ
cho phụ nữ PTKT theo các mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ hỗ trợ theo
mục tiêu đã đề ra.
Hiện nay, có rất nhiều chính sách nhằm hỗ trợ phụ nữ trong các hoạt
động sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, vươn lên thoát
nghèo góp phần thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo và nâng cao vị thế
người phụ nữ trong gia đình và xã hội. Các chính sách như: Đào tạo nghề và
giới thiệu việc làm, chính sách vay vốn, Đề án 939/CP về hỗ trợ phụ nữ khởi
nghiệp…
1.1.2. Mục tiêu chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT
Nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc giúp đỡ, hỗ
trợ phụ nữ phát triển kinh tế góp phần tăng thu nhập ổn định cuộc sống và
thoát nghèo bền vững.
Làm chuyển biến nhận thức tự vươn lên thoát nghèo của phụ nữ thông
12


qua việc hỗ trợ của các chính sách, được các cấp các ngành có liên quan và
Hội phụ nữ hướng dẫn lập kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, tập huấn
chuyển giao khoa học kỹ thuật trong sản xuất tạo điều kiện tiếp cận nguồn

của các ban, ngành, đoàn thể, đơn vị, doanh nghiệp gắn với mục tiêu thực
hiện tốt Luật Bình đẳng giới và thực hiện Nghị Quyết 11/NQ-TW của Bộ
Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
1.1.4. Ý nghĩa, tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT
“Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn
minh, thực hiện giảm nghèo bền vững” là một trong những khâu đột phá mà
Nghị quyết Đại hội Phụ nữ tỉnh Quảng Nam lần thứ XV, nhiệm kỳ 2016 20121 đã đề ra. Để triển khai thực hiện khâu đột phá này, các cấp Hội Phụ nữ
(HPN) trong tỉnh đã phát huy vai trò kết nối, khai thác nguồn lực, hỗ trợ hội
viên tham gia chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đổi mới phát triển hình thức tổ chức
sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, phát huy vai trò chủ thể của phụ nữ trong
phát triển kinh tế.
Thông qua triển khai dự án về nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát
triển kinh tế, các hoạt động hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, thúc đẩy thành lập
HTX do phụ nữ làm lãnh đạo, tham gia quản lý..., các cấp HPN đã góp phần
thúc đẩy bình đẳng giới, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia phát
triển kinh tế, các chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT đang mở ra nhiều cơ hội cho
phụ nữ các địa phương vươn lên, ổn định cuộc sống, khẳng định vai trò, vị thế
trong gia đình và ngoài xã hội.
Trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, phụ nữ Việt Nam tiếp
tục phát huy và khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với sự phát triển của xã
hội. Khi nền kinh tế của chúng ta càng phát triển, phụ nữ càng có nhiều cơ hội
hơn. Nó phá vỡ sự phân công lao động cứng nhắc theo giới, cho phép phụ nữ
14


tham gia vào nền kinh tế thị trường và khiến nam giới phải chia sẻ trách
nhiệm chăm sóc gia đình. Nó có thể giảm nhẹ gánh nặng việc nhà cho phụ nữ,
tạo cho họ nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để tham gia vào các hoạt động khác.
Đồng thời nó còn tạo ra nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ trên thị trường lao

1.2.1.1. Hỗ trợ về tài chính
Chính sách hỗ trợ về vốn vay đối với phụ nữ chủ yếu được thực hiện qua
kênh ủy thác Ngân hàng Chính sách xã hội, các chương trình, dự án, các cuộc
vận động từ hội viên phụ nữ qua tổ chức Hội thực hiện.
Đối với nguồn vốn vay từ ngân hàng Chính sách xã hội, bao gồm:
+ Cho vay hộ nghèo theo Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04 tháng 10
năm 2002 của Chính phủ: đối tượng được vay vốn là hộ nghèo theo quy định
của Thủ tướng Chính phủ , hiện nay được thực hiện theo Quyết định số
59/2015/QĐ-TTG ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa
chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020. Mức cho vay tối đa 50 triệu đồng.
Lãi xuất cho vay hiện nay là 0,55%/tháng. Mục đích sử dụng phục vụ sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ và các điều kiện trong sinh hoạt như sữa chữa nhà
ở, công trình vệ sinh, học sinh sinh viên .
+ Cho vay hộ cận nghèo theo Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg ngày 23
tháng 2 năm 2013 của Thủ tướng Chính Phủ: đối tượng được vay là hộ nghèo
theo quy định của Thủ tướng chính phủ từng thời kỳ. Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020,
trong đó có quy định chuẩn hộ cận nghèo theo Quyết định số 59/2015/QĐTTg, ngày 19/11/2015. Mục đích sử dụng vốn vay đầu tư vào lĩnh vực sản
xuất, kinh doanh. Mức cho vay 50 triệu đồng lãi xuất hiện nay được áp dụng
là 0,66%/tháng. Hộ vay thông qua các Hội, đoàn thể nhận ủy thác và Tổ tiết
kiệm vay vốn.
+ Cho vay hộ mới thoát nghèo theo Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg 16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status