Địa vị pháp lý của thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh bắc ninh - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MINH HẠNH

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ
THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MINH HẠNH

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ
THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN VĂN ĐỘ

HÀ NỘI, 2020

Chương 3: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỊA VỊ
PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ............................................................................................................................................ 58
3.1. Yêu cầu nâng cao địa vị pháp lý của thẩm phán trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự................................................................................................................. 58
3.2. Các giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự........................................................................................................... 58
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 76


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HĐXX

Hội đồng xét xử

KSV

Kiểm sát viên

TAND

Tòa án nhân dân

TTHS

Tố tụng hình sự

VKS

trong quá trình cải cách tư pháp nói chung và thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết
số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược Cải cách tư pháp
đến năm 2020” nói riêng.
Thẩm phán chính là những người đại diện cho Tòa án để thực hiện các chức
năng nêu trên. Họ có vị trí, vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong các vụ án hình sự,
vai trò của Thẩm phán xét xử được thể hiện rõ nét nhất. Thẩm phán với tư cách là
người đại diện cho Nhà nước, họ được pháp luật quy định quyền ban hành các quyết
định công nhận, hướng dẫn và quyết định các vấn đề có liên quan đến quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Để từ đó, qua các chứng cứ chứng
minh, sự thật khách quan của vụ án được đưa ra làm rõ. Trên cơ sở tranh tụng khách
quan, Hội đồng xét xử (HĐXX) sẽ áp dụng pháp luật một cách đúng đắn để đưa ra
phán quyết hợp tình, hợp lý, công minh.
Từ khi các Tòa án được hình thành và phát triển đến nay, đội ngũ Thẩm phán
nước ta đã cơ bản hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Tuy nhiên Nghị
quyết 49 của Bộ chính trị đã chỉ rõ: “Công tác tư pháp nước ta còn bộc lộ nhiều
hạn

1


chế. Đội ngũ Thẩm phán xét xử còn thiếu, nhất là ở các toà án cấp huyện; một số
không ít các Thẩm phán chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác, thiếu
thận trọng, tỉ mỉ thậm chí còn cẩu thả nên dẫn đến tình trạng có nhiều sai sót trong
thực tiễn xét xử...”[05]. Tại báo cáo tổng kết công tác năm 2012 TAND tối cao cũng
đã khẳng định:“Một số Thẩm phán, cán bộ chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm
trong công tác, chưa tích cực học tập để nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ nên nhiều vấn đề đã được quy định trong pháp luật đã được hướng dẫn
cụ thể nhưng chưa nắm được để áp dụng trong công tác xét xử”[30].
Trước tình hình trên và trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập với thế giới, nhất
là đang thực hiện cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày

- Bài viết Tư duy về quyền tư pháp: thực trạng và tiếp tục đổi mới được đăng
trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Tiếp tục đổi mới tư duy pháp lý phục vụ sự
nghiệp phát triển đất nước”, Viện hàn lâm hoa học xã hội Việt Nam (2019), Hà Nội
– 09 – 8 – 2019 của PGS. TS Trần Văn Độ.
- Bài viết “Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu sửa đổi Luật tổ chức Tòa án nhân
dân” của PGS. TS Trần Văn Độ đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp của Viện
nghiên cứu lập pháp Ủy ban thường vụ Quốc hội số 20/2014.
- Bài viết “Tư duy về xét xử” được đăng trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học
“Tiếp tục đổi mới tư duy pháp lý phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước”, Viện hàn
lâm hoa học xã hội Việt Nam (2019), Hà Nội của TS. Phạm Minh Tuyên.
- Bài viết “Tiếp tục đổi mới tư duy về tư pháp trong sự vận động và phát triển của
xã hội Việt Nam” được đăng trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Tiếp tục đổi mới tư
duy pháp lý phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước”, Viện hàn lâm hoa học xã hội Việt
Nam (2019), Hà Nội – 09 – 8 – 2019 của PGS. TS Nguyễn Tất Viễn.

Có thể nói, qua nghiên cứu, khảo sát nội dung các sách chuyên khảo, các luận
án, các bài báo khoa học đã công bố ở Việt nam trong thời gian qua đã lý giải một
số vấn đề khá sâu sắc về chế định Thẩm phán, và đề ra một số giải pháp cho việc
tăng cường địa vị pháp lý của Thẩm phán. Nhưng trong điều kiện thực tiễn hiện nay
đã phát sinh nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và cần được tổng kết rõ, do vậy
luận văn này nghiên cứu là không trùng lặp bởi lẽ: luận văn đi sâu nghiên cứu cơ sở
lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, góp phần nâng cao hiệu
quả, hiệu lực của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố nêu trên là những tài liệu
tham khảo cơ bản và là cơ sở nền tảng để tác giả nghiên cứu và thực hiện luận văn.

3



Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp.

4


Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu tại bàn thông qua nghiên
cứu văn bản, tài liệu; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê và
khảo sát thực tiễn để giải quyết những vấn đề mà Luận văn đặt ra.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn là công trình khoa học đi sâu nghiên cứu có hệ thống trên cơ sở lý
luận và thực tiễn về hoàn thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự tại tỉnh Bắc Ninh. Do đó luận văn bao hàm những ý nghĩa sau:
* Ý nghĩa lý luận:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật TTHS về
địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về lý luận để đề xuất một số vấn đề cần quan
tâm với các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020 đúng với mục tiêu mà Đảng ta đã đặt ra.
* Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu thực tế việc thực hiện quy định
của pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
tại các Tòa án tỉnh Bắc Ninh để đưa ra các giải pháp tăng cường địa vị pháp lý của
Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
trong giai đoạn hiện nay, luận văn góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt
động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Thẩm phán tỉnh Bắc Ninh nói riêng và của
ngành Tòa án nói chung.
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho
các cán bộ đang làm công tác tại Tòa án, nhất là các Thẩm phán được phân công giải
quyết án hình sự sơ thẩm. Ngoài ra, luận văn còn có thể sử dụng trong việc giảng dạy,
nghiên cứu tại các trường, các cơ sở có đào tạo chuyên ngành Luật Hình sự.


tách biệt của Toà án ra khỏi quyền hành pháp và lập pháp. Từ đó một đội ngũ
chuyên làm nhiệm vụ xét xử là Thẩm phán ra đời.
Theo từ điển Luật học và điều 65 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014
định nghĩa: Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật
này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử.
Thẩm phán là một chức danh tư pháp, nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam tham gia vào hoạt động xét xử. Hiện nay, quá trình TTHS Việt Nam
được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau, với nhiều cơ quan tiến hành tố tụng
khác nhau, mà trong đó vị trí, vai trò của mỗi cơ quan là khác nhau. Mỗi cơ quan
tiến hành tố tụng được xác lập quyền và nghĩa vụ thông qua các chủ thể khác nhau
gọi là những người tiến hành tố tụng. TAND là một trong những cơ quan tiến hành
tố tụng có vị trí và vai trò quan trọng, là cơ quan cuối cùng kết thúc của quá trình tố
tụng. Trong TAND, Thẩm phán là người có vị trí và vai trò then chốt để thực thi
nhiệm vụ tố tụng của Tòa án.
Ở nước ta, từ năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND đã ghi
nhận Thẩm phán là một chức danh tư pháp mà trước đó về mặt pháp lý Thẩm phán

7


chỉ được coi là một chức vụ. Qui định này đánh dấu một bước ngoặt lớn về nhận
thức để xây dựng đội ngũ Thẩm phán chuyên nghiệp, đáp ứng các yêu cầu của hoạt
động xét xử, nhất là xét xử các vụ án hình sự. Mặc dù chưa có văn bản pháp luật
nào của Nhà nước quy định cụ thể về khái niệm chức danh tư pháp, nhưng trên thực
tế có quan điểm cho rằng những người nào trực tiếp thực hiện quyền lực tư pháp thì
mới là chức danh tư pháp. Vì vậy có thể hiểu chức danh tư pháp bao gồm Điều tra
viên, Kiểm sát viên (KSV), Thẩm phán, Thư ký Toà án, Hội thẩm. GS. TS Võ
Khánh Vinh cho rằng chức danh tư pháp bao gồm những người thực hiện nhiệm vụ
trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) được đào tạo kỹ
năng thực hành nghề và hành nghề theo một chuyên môn nhất định, có danh xưng,

quan, hoạt động này chịu sự giám sát nghiêm ngặt của nhiều cơ quan, tổ chức và cá
nhân. Trong quá trình xử lý vụ án, Thẩm phán phải sử dụng năng lực và kiến thức cần
thiết nhằm giải quyết vụ án một cách đúng đắn trên cơ sở bằng chứng thực tế và diễn
biến tại phiên tòa. Đây là cả một quá trình tố tụng phức tạp đòi hỏi ngay từ đầu người
Thẩm phán phải thực sự toàn tâm toàn lực và nhạy bén. Để không bị cám dỗ, lung lay

về ý chí trên con đường tìm kiếm lẽ phải, cuộc đấu tranh về tinh thần của người
Thẩm phán đòi hỏi bản thân họ phải luôn kiên quyết, vững vàng ý chí. Mục tiêu
cuối cùng mà người Thẩm phán phải đạt được và cũng là mục đích mà toàn bộ nhân
dân hướng tới sau một vụ án đó là một phán quyết thấu tình đạt lý, đảm bảo tính
đúng đắn của bản án, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt kẻ phạm tội. Phán
quyết đó còn mang tính giáo dục ý thức pháp luật trong cộng đồng dân cư. Chính vì
thế hoạt động xét xử của Thẩm phán được toàn xã hội giám sát. Nguyên tắc “Toà án
xét xử công khai, khi xét xử có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân” chính là sự
giám sát ở bên trong phiên toà.
- Thứ ba là hoạt động này đòi hỏi Thẩm phán phải là một con người toàn diện,
bản lĩnh vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, vô tư khách quan. Đây không
những là đặc thù nghề nghiệp của người Thẩm phán mà còn là các tiêu chuẩn mà pháp
luật đặt ra đối với người Thẩm phán hiện nay. Chỉ có thể có kiến thức sâu rộng trên
nhiều lĩnh vực, luôn đấu tranh cho sự công bằng vô tư, một tâm hồn trong sáng

và một bản lĩnh vững vàng thì nghề Thẩm phán và người Thẩm phán mới tạo dựng
được sự tin tưởng và tôn kính. Bởi lẽ cần thiết có một chuẩn mực lý tưởng được xã
hội thừa nhận, nắm giữ cán cân công lý để điều chỉnh xã hội đi đúng hướng của nó.

9


Người Thẩm phán phải bênh vực cho người bị hại, không thiên vị hay dao động ý
chí trước bất kỳ sự việc nào. Tất cả những yêu cầu trên sẽ góp phần tạo dựng nên



định là một giai đoạn kết thúc một vụ án hình sự, mọi chứng cứ của vụ án do Cơ
quan điều tra thu thập được trong quá trình điều tra cũng như cáo trạng của Viện
kiểm sát đều được xem xét công khai tại phiên toà, những người tham gia tố tụng
được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận những vấn đề mà trước khi
vụ án được đưa ra xét xử không có điều kiện thực hiện. Như vậy có thể nói xét xử
sơ thẩm được xem là trung tâm của quyền tư pháp, là giai đoạn tố tụng mà ở đó đòi
hỏi những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đều phải tập trung trí
tuệ để xử lý các tình huống một cách chính xác, nhanh chóng, đúng pháp, thông qua
phiên toà có thể đánh giá được trình độ nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng và
những người tham gia tố tụng tố tụng khác. Tại phiên Tòa HĐXX điều khiển phiên
tòa, thực hiện việc tranh tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, còn Toà án thực hiện
chức năng xét xử, làm trọng tài phân xử đưa ra các phán quyết giải quyết vụ án.
Chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bắt đầu từ thời điểm Tòa án thụ lý
vụ án, sau đó Tòa án thực hiện các công việc chuẩn bị xét xử, khi có đủ điều kiện
thì Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử.
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm: xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
là xét xử với tính chất xét xử lần đầu, toàn diện, đầy đủ toàn bộ các vấn đề của vụ
án, thể hiện qua các hành vi tố tụng từ thời điểm tòa án nhận hồ sơ, thụ lý vụ án
cho đến khi HĐXX tuyên án và bế mạc phiên tòa với mục đích cuối cùng là giải
quyết triệt để một vụ án.
1.1.1.3. Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự
Theo từ điển Luật học (2006), Nxb Tư pháp, Hà Nội thì địa vị pháp lý của
chủ thể pháp luật là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với chủ thể pháp
luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật. Là sự thể hiện thành một tổng thể
các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả
năng của chủ thể trong các hoạt động của mình. Thông qua địa vị pháp lý có thể
phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời có thể xem xét

bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân…; trong thực hiện nhiệm
vụ xét xử vụ án hình sự Tòa án có quyền: a) Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của
các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, KSV, Luật sư trong quá trình điều
tra, truy tố, xét xử; xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp

12


ngăn chặn; đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; b) Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của
các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, VKS, KSV thu thập; do
Luật sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp; c) Khi xét
thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu VKS điều tra bổ sung; yêu cầu VKS bổ sung tài
liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự; d) Yêu cầu Điều tra viên, KSV và những người
khác trình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa; khởi tố vụ án hình
sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm; e) Ra quyết định để thực hiện các quyền
hạn khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự” [34]. Như vậy có thể thấy rõ,
thực hiện chức năng xét xử vụ án hình sự, nhiệm vụ đầu tiên đặt ra đối với Tòa án
đó chính là “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân” và để thực hiện nhiệm vụ này, pháp luật đã quy định trao cho Tòa án
“các quyền” mà không cơ quan, tổ chức nào có được và chỉ có Tòa án mới có được
mà thôi. Thông qua việc thực hiện các quyền này, Tòa án nhân danh Nhà nước ra
bản án kết luận bị cáo có tội hay không có tội và áp dụng các biện pháp theo quy
định của pháp luật.
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, Đảng ta
đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến
lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” trong đó đã đề ra mục tiêu “Xây dựng nền tư
pháp trong sạch…; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến

hiệu lực pháp luật mà người trực tiếp quyết định bản án kết tội này chính là Thẩm
phán. Từ nguyên tắc này, ta có thể thấy rõ vai trò của Thẩm phán trong TTHS nói
chung và trong xét xử vụ án hình sự nói riêng. Thẩm phán là người đại diện cho Tòa
án khi thực hiện chức năng xét xử và chỉ có Tòa án, chứ không phải là một cơ quan
nào khác, mới có thẩm quyền để thực hiện chức năng xét xử, chỉ có Tòa án mới
được nhân danh Nhà nước để phán quyết những vấn đề liên quan khi thực hiện chức
năng xét xử.
* Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật
Nguyên tắc này đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013: “Thẩm phán, Hội
thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân

14


can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm" [20]; và được quy định tại
Điều 23 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định “thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập

và chỉ tuân theo pháp luật" [20].
Nội dung nguyên tắc này được hiểu là: Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ
căn cứ vào các quy định của pháp luật, căn cứ vào các chứng cứ hợp pháp để xét xử
và tuyên bản án trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Bất cứ các cơ quan, tổ
chức, cá nhân nào cũng không được can thiệp, chỉ đạo, định hướng Thẩm phán và
Hội thẩm khi xét xử.
Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền quyết định bị cáo là có tội hay không có
tội thông qua hoạt động xét xử. Khi xét xử vụ án hình sự, HĐXX phải xem xét,
thẩm tra, đánh giá chứng cứ và các tình tiết khác của vụ án một cách thận trọng, tỉ
mỉ, khoa học, toàn diện, kể cả chứng cứ có trong hồ sơ và chứng cứ tại phiên tòa,
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị ràng buộc, không bị chi phối bởi bất ký
ý kiến của ai. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân không được can thiệp hoặc tác động

như khi nghị án, từng thành viên được độc lập đưa ra quan điểm của mình, phân
tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ và đưa ra quyết định của mình mà không phụ
thuộc vào các thành viên khác. Thẩm phán không có quyền áp đặt ý kiến của mình
với Hội thẩm và ngược lại Hội thẩm cũng không được áp đặt ý kiến với Thẩm phán.
Khi nghị án, Thẩm phán đưa ra từng vấn đề để Hội thẩm nhân dân thảo luận, sau đó
Hội thẩm biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng.
Có thể thấy, thông qua nguyên tắc độc lập khi xét xử, quyền độc lập của Tòa
án được ghi nhận và thực hiện, mà trong đó Thẩm phán là người được trực tiếp độc
lập khi thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật.
1.1.2.3. Mối quan hệ giữa Thẩm phán Tòa án nhân dân với các chức danh tư
pháp khác trong xét xử các vụ án hình sự
Thẩm phán có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống Tòa án,
cũng như trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng. Thẩm phán, cũng như Tòa
án, là người giữ vị trí trung tâm trong hệ thống tư pháp, là người quyết định cuối
cùng nhằm kết thúc chặng cuối cùng của các giai đoạn tố tụng. Tuy nhiên, nếu chỉ
một mình Thẩm phán thì không thể tiến hành tố tụng, mà việc tiến hành tố tụng của
Thẩm phán phải đặt trong mối quan hệ với những người và cơ quan tiến hành tố
tụng khác. Do đó, vai trò của Thẩm phán trong xét xử vụ án hình sự nói riêng được

16


thể hiện ở các mối quan hệ bên trong (mối quan hệ nội bộ của Tòa án) và mối quan
hệ bên ngoài (với các cơ quan tiến hành tố tụng khác) trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ của mình.
* Mối quan hệ bên trong Tòa án
Mối quan hệ bên trong là các mối quan hệ giữa Thẩm phán với lãnh đạo, với
các Thẩm phán khác, quan hệ với Thư ký và các cán bộ khác của Toà án. Tùy theo
với từng chủ thể khác nhau, Thẩm phán có những vị trí, vai trò khác nhau.
- Quan hệ giữa Thẩm phán với lãnh đạo Toà án:

Mối quan hệ giữa các Thẩm phán phát sinh trong hoạt động xét xử và trong
hoạt động bình thường Tòa án. Mối quan hệ giữa các Thẩm phán Tòa án với nhau
chủ yếu là quan hệ phối hợp công tác, hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ
được giao. Mối quan hệ tố tụng giữa các Thẩm phán thể hiện trong việc: Thẩm
phán– chủ tọa phiên tòa với Thẩm phán trong HĐXX-Thẩm phán dự khuyết trong
một vụ án hình sự. Mối quan hệ này chỉ phát sinh từ khi có Quyết định đưa vụ án ra
xét xử theo quy định của điều 288 Bộ Luật TTHS.
- Quan hệ giữa Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân:
Hội thẩm nhân dân là những người được bầu theo quy định của pháp luật để
làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án với mục đích đảm
bảo tính dân chủ. Hội thẩm nhân dân không đồng thời là cán bộ thuộc biên chế của
Tòa án, tuy nhiên, họ chịu sự phân công của Chánh án nơi được bầu khi tham gia
HĐXX. Trong quy định của Luật, Hội thẩm nhân dân cũng có trách nhiệm nghiên
cứu hồ sơ, tham gia xét xử. Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm phát sinh từ
khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử và mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm
là mối quan hệ độc lập, thể hiện trên hai phương diện: độc lập với các cá nhân khác
và độc lập với chính những thành viên trong HĐXX. Hiến pháp năm 1992 quy định:
“Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, … Khi xét xử Hội thẩm
ngang quyền với Thẩm phán”, tuy nhiên trong hoạt động xét xử, Thẩm phán vẫn giữ
vai trò là trung tâm. Điều này thể hiện trong toàn bộ quá trình xét xử Thẩm phán
luôn giữ vai trò chủ đạo điều khiển phiên toà từ phần thủ tục đến phần tuyên án.
Trong quá trình nghị án, Hội thẩm có quyền nêu ý kiến về việc giải quyết vụ án và
biểu quyết, nếu thấy Hội thẩm có ý kiến không đúng thì Thẩm phán có quyền phân
tích, giải thích và tiến hành biểu quyết lại bởi trên thực tế, các Hội thẩm nhân dân

18


được bầu có thể không phải là những người được đào tạo chuyên về pháp luật.
- Quan hệ giữa Thẩm phán và thư ký phiên tòa:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status