MỤC LỤC
1
Lời mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài
1.
Vấn đề việc làm hiện nay đóng vai trò quan trọng trong ổn định tình hình
chính trị xã hội, là giải pháp quan trọng để xóa đói giảm nghèo, và là cách thức để
thông qua đó người lao động tích cực tham gia và khẳng định sự đóng góp của mình
đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đối với bất kì quốc gia nào, đặc biệt là đối với Việt Nam - một nước cả dân số
trẻ lực lượng lao động khá nhiều, do đó nhu cầu việc làm là rất cấp bách. Hơn nữa,
nước ta bận hành theo cơ chế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, tất cả
những điều đó tác động không nhỏ đến mọi mặt của đời sống xã hội, một trong
những sự tác động đó là xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của thế hệ trẻ. Thêm vào
đó, cơ chế thị trường đang ngày một thay đổi khiến cho tình trạng bị động “việc chờ
người” không còn phù hợp với mức phát triển của xã hội, mỗi cá nhân - đặc biệt là
thế hệ trẻ các sinh viên tốt nghiệp các trường Đại học hàng đầu - phải chủ động định
hướng nghề nghiệp và lựa chọn việc làm phù hợp với bản thân, góp phần vào chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mỗi sinh viên - chủ nhân của thế hệ tương lai - cần lựa chọn cho mình một
ngành nghề, một mục đích cụ thể để hướng tới một cách tích cực chủ động và đó
cũng là bước đi đầu tiên của mỗi sinh viên có thể gắn bó và đam mê với nghề
nghiệp mà mình lựa chọn trong suốt cuộc đời. Đó chính là lí do chúng em lựa chọn
đề tài: “Phân tích xu hướng lựa chọn việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên Đại
học Ngoại Thương”.
Trong quá trình thực tập và làm báo cáo không tránh khỏi những sai sót và đi vào
một số quan điểm cá nhân, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để hoàn
thiện kiến thức một cách tốt nhất.
Em xin cảm ơn!
3
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ XU HƯỚNG LỰA CHỌN VIỆC LÀM SAU KHI
TỐT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
1.1. Khái quát chung về việc làm đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp
1.1.1. Khái quát chung về đối tượng sinh viên sau tốt nghiệp
Sinh viên là một nguồn lực lớn đóng góp cho sự phát triển tương lai của đất
nước. Trong quá trình đào tạo đội ngũ này, nhà nước không ngừng quan tâm thích
đáng đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Quan điểm của giáo dục nước ta là đặt con
người vào vị trí trung tâm, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân và cả cộng
đồng dân tộc, kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá xã hội,
giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Phát huy trí tuệ con người thông qua
phát triển giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn lực, đuổi kịp trình độ tiên tiến của
các nước trong khu vực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
Do đó, sinh viên năm cuối và cử nhân sau khi được đào tạo tại các trường Đại
học là đối tượng sở hữu đầy đủ kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm để trực tiếp tham
gia vào nền kinh tế góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, đây cũng
là nhóm đối tượng chưa có đầy đủ trải nghiệm để có thể đưa ra lựa chọn việc làm
cũng như sự nghiệp bền vững trong tương lai do hạn chế về năng lực đánh giá thị
trường lao động, hiểu biết về ngành nghề cũng như nhiều hạn chế khác về tố chất,
quan điểm.
1.1.2. Khái niệm chung về xu hướng và xu hướng lựa chọn việc làm
Xu thế hay xu hướng (trend) là thành tố dài hạn, cơ bản trong số liệu về dãy
bản chất, quan điểm và các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến đối tượng lựa chọn.
1.2. Tầm quan trọng của việc lựa chọn việc làm sau khi tốt nghiệp
1.2.1. Vị trí và vai trò của việc lựa chọn nghề nghiệp đối với sinh viên nói riêng
Khi bước vào ngưỡng cửa của cuộc sống mỗi chúng ta đều có những ước mơ
khát vọng về nghề nghiệp cho tương lai. Và sự lựa chọn nghề nghiệp để thoả mãn
những khát vọng, đúng với tâm nguyện khả năng điều kiện của mình sẽ tạo ra lòng
hăng say và yêu thích nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn. Không những vậy nó còn
thôi thúc bản thân tích cực học tập, hăng say nghiên cứu, phấn đấu hết mình vào
con đường mà mình đã lựa chọn. Có thể thấy rằng đối với mỗi người việc lựa chọn
đúng ngành nghề phù hợp với khả năng và điều kiện sẽ là động lực rất lớn thúc đẩy
bản thân học tập và lao động và nó cũng tác động rất lớn đến quá trình công tác sau
này của mỗi người vì khi có sự lựa chọn đúng đắn thì bản thân mỗi người sẽ tâm
huyết hơn, hiệu quả công việc sẽ cao hơn.
5
Bên cạnh đó vẫn còn những sinh viên lựa chọn ngành nghề không đúng đắn,
không phù hợp với bản thân tức là sự lựa chọn chỉ dựa theo cảm tính, lựa chọn
những ngành nghề ưa chuộng trên thị trường mà thiếu đi suy nghĩ xem những ngành
nghề đó có phù hợp với khả năng và năng lực của mình không chính vì sai lầm đó
mà họ gặp khó khăn ngay trong quá trình nghiên cứu học tập từ đó dẫn đến sự nản
chí học hành, kém hăng say lao động ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập và hiệu
quả lao động. Như vậy việc lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với bản thân là rất quan
trọng không chỉ có tác động đến bản thân người đó và có tác dụng đến toàn xã hội.
1.2.2. Vị trí và vai trò của việc lựa chọn nghề nghiệp đối với xã hội nói chung
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay vấn đề việc làm luôn
là nỗi băn khoăn của toàn xã hội đặc biệt là đối với thế hệ sinh viên, việc làm có ảnh
hưởng rất nhiều tới đời sống con người, ảnh hưởng không chỉ vì sinh hoạt, thu nhập
mà còn ảnh hưởng không nhỏ tới sự lựa chọn nghề nghiệp của mỗi người nó quyết
định và chi phối tới sự lựa chọn đó. Hơn nữa với thời đại bùng nổ thông tin như
2.1. Phân tích bản chất của đối tượng sinh viên Đại học Ngoại Thương
2.1.1. Phân tích thông tin cơ bản của sinh viên Đại học Ngoại Thương
•
Thống kê cơ bản về số sinh viên tham gia làm phiếu điều tra:
Bảng 2.1: Giới tính và sinh viên học tập tại các Khoa tham gia điều tra
KTĐN
Số Tỷ lệ
SV %
Nam 10 10%
Nữ
15 15%
Tổng 25 25%
Tiêu
chí
KDQT
Số Tỷ lệ
SV %
4
4%
4
4%
8
8%
TCNH
Số Tỷ lệ
SV %
3
Luật
Số Tỷ lệ
SV %
1
1%
2
2%
3
3%
Nghiên cứu bảng 2.1 cho thấy, số lượng nam và nữ trong cùng khoa và giữa
các khoa tham gia không đồng đều nhau. Số lượng sinh viên nữ tham gia phiếu điều
tra nhiều hơn số lượng sinh viên nam rất nhiều, đặc biệt là khoa Kinh tế quốc tế và
Tài chính Ngân hàng. Số lượng sinh viên nữ tham gia điều tra của toàn trường là 67
người chiếm 67% lượng người khảo sát, trong khi số lượng sinh viên nam trong
trường tham gia điều tra là 33 người, chiếm 33% trên tổng số phiếu điều tra.
7
•
Thống kê về kết quả học tập của sinh viên tham gia điều tra:
Bảng 2.2: Kết quả học tập của sinh viên tham gia điều tra theo Khoa
KTĐN
KDQT TCNH
Tỷ
Tiêu chí
3% 4
4% 1
1% 1
1%
9
10
4
25
9%
10%
5%
25%
5%
3%
6%
18%
2%
4%
1%
8%
0%
2%
QTKD NNTM
Luật
Tiêu chí
Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ
SV lệ % SV lệ % SV lệ % SV lệ % SV lệ % SV lệ % SV lệ %
Kỹ
Thành thạo 13 13% 3 3% 8 8% 19 19% 15 15% 3 3% 2 2%
năng tin
%
học văn Biết
sử 9 9% 4 4% 4 4% 5 5% 1
1% 5 5% 1 1%
phòng dụng
Chưa biết 3 3% 1 1% 1 1% 1 1% 2
2% 0 0% 0 0%
dùng
Tổng số SV
25 25% 8 8% 13 13% 25 25% 18 18% 8 8% 3 3%
Qua thống kê tại Bảng 2.3 ta thấy, số sinh viên có kết quả trình độ sử dụng kỹ
năng tin học văn phòng Thành thạo chiếm tỷ lệ 63%, số sinh viên có kết quả trình
độ Biết sử dụng chiếm 29%, còn lại là số sinh viên có trình độ Chưa biết dùng kỹ
năng văn phòng là 8%. Kết quả xếp loại trình độ sử dụng kỹ năng văn phòng tập
trung phân bố ở trình độ Sử dụng thành thạo, tiếp theo đến trình độ Biết sử dụng,
còn trình độ Chưa biết dùng chiếm tỷ lệ khá nhỏ.
•
Thống kê về trình độ sử dụng Ngoại ngữ (tiếng Anh)
8
7% 3
3%
NNTM
Luật
Số Tỷ Số Tỷ
SV lệ % SV lệ %
1 1% 1 1%
2 2% 2
17 17% 5
2%
5%
2 2% 1
10 10% 17
1% 1
17% 14
1% 0
14% 7
0% 0
7% 2
0%
2%
8%
4%
9
7
25% 18
Qua thống kê tại Bảng 2.4 ta thấy hầu hết các bạn sinh viên đều có khả năng
sử dụng ngoại ngữ. Kết quả trình độ sử dụng Ngoại ngữ Tốt và Xuất sắc chiếm tỷ lệ
lớn nhất là 72%, tiếp theo đến khả năng sử dụng ngoại ngữ ở trình độ Trung bình là
20%, cuối cùng là trình độ Khá chiếm tỷ lệ là 8%. Ngoài ra, số sinh viên biết ngoại
ngữ thứ 2 trở lên chiếm 34%.
•
Trình độ sử dụng kỹ năng mềm (Giao tiếp, thuyết trình, đàm phán, …)
Bảng 2.5: Kết quả về trình độ sử dụng kỹ năng mềm (Giao tiếp, thuyết trình,
đàm phán, …)
Tiêu chí
Sử
dụng
Kỹ
năng
mềm
KTĐN
Số Tỷ
SV lệ %
1%
5%
3
8
4
19
4% 0
19% 13
0% 0
13% 7
0% 0
7% 2
0%
2%
8%
13 13% 25
25% 18
18% 8
8% 3
NNTM
Luật
Số Tỷ Số Tỷ
SV lệ % SV lệ %
7 7% 3 3%
Tham Có
gia
tham
các tổ gia
chức Không 2 2% 0 0% 3 3% 2
2% 3
3% 1 1% 0 0%
ngoại tham
khóa gia
Tổng số SV
25 25% 8 8% 13 13% 25 25% 18 18% 8 8% 3 3%
Qua thống kê tại Bảng 2.6 ta thấy, số sinh viên tham gia hoạt động ngoại khóa
chiếm 90%, còn lại 10% sinh viên không tham gia hoạt động ngoại khóa tại bất cứ
tổ chức nào. Các tổ chức hoạt động ngoại khóa mà sinh viên tham gia thường là các
Câu lạc bộ trong trường và ngoài trường, các tổ chức NGO, các tổ chức thanh niên
tình nguyện,…
•
Thời gian và kinh nghiệm làm việc thực tế
Bảng 2.7: Kết quả về Kinh nghiệm đi làm thực tế
KTĐN
Tiêu chí
Số Tỷ
3%
4
4%
8
8%
1
5
5%
8
8%
15
15% 10
8
8%
13 13% 25
lại 7% sinh viên chưa từng đi làm tại bất cứ công ty nào. Dựa trên những sinh viên
đã đi làm chúng ta cùng phân tích tiếp tính chất chuyên môn công việc, loại hình
công việc và loại hình công ty của họ.
•
Chuyên môn công việc đã và đang làm:
Biểu đồ 2.1: Kết quả về chuyên môn công việc đã và đang làm
Dựa vào Biểu đồ 2.1 ta thấy,các bạn sinh viên chủ yếu lựa chọn chuyên môn
công việc vào các ngành: Marketing, truyền thông – 48,1%; Bán hàng (Sales) –
32%; Kinh doanh tự do – 28,8%; Hành chính, nhân sự - 25%; Tài chính, chứng
khoán – 19,2%; Xuất nhập khẩu – 12,5%; Kế toán, kiểm toán – 7,7%;…
•
Loại hình công việc đã làm
Biểu đồ 2.2: Thống kê loại hình các công việc sinh viên ngoại thương đã làm
Qua Biểu đồ 2.2 ta thấy, loại hình công việc đã làm của sinh viên nhiều nhất là
Bán thời gian – 65,4%, sau đó đến loại hình Thực tập – 56,7%, loại hình Toàn thời
gian – 31,7%, ngoài ra còn có các loại hình khác như tình nguyện, làm online, làm
tự do,…
•
Loại hình công ty đã và đang làm:
11
Biểu đồ 2.3: Thống kê loại hình công ty đã và đang làm
Qua biểu đồ 2.3 ta thấy, loại hình được lựa chọn nhiều nhất được chọn là Công
ty Việt Nam – 62,5%, tiếp đến là loại hình Công ty nước ngoài – 32,7%, Công ty
Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ
SV lệ % SV lệ % SV lệ % SV %
SV
% SV %
0 0% 0
0% 6
6% 2
2% 0
0% 1
1%
4
4
8
4%
4%
8%
6
7
13
6% 5
7% 14
13% 25
5% 10
14% 6
25% 18
KTĐN
Tiêu chí Số Tỷ
SV lệ %
Chưa
3
3%
chắc chắn
Có
2
2%
Không
20 20%
Tổng số 25 25%
SV
KDQT
TCNH
KTQT
QTKD
NNTM
Luật
Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ
SV lệ % SV lệ % SV lệ % SV %
SV
% SV %
0 0% 0
0% 3
3% 1
1% 1
1% 0
2
3
Dựa vào kết quả bảng 2.10 ta thấy, số sinh viên không theo định hướng của gia
đình chiếm 67%, số sinh viên có theo định hướng nghề nghiệp của gia đình là 25%,
còn lại 8% là chưa xác định được định hướng nghề nghiệp của bản thân. Xét về
ngành học, ngành có tỷ lệ sinh viên Có định hướng nghề nghiệp theo định hướng
của gia đình cao là Quản trị kinh doanh (55,56%), ngành có tỷ lệ sinh viên không
định hướng nghề nghiệp theo định hướng gia đình cao là Kinh tế đối ngoại
(80%).
13
1%
2%
3%
•
Yêu cầu của công việc mong muốn ứng tuyển
Biểu đồ 2.4: Thống kê về yêu cầu của công việc mong muốn ứng tuyển
Nhìn vào Biểu đồ 2.4 ta thấy, yêu cầu ít được mong muốn nhất là Yêu cầu biết
từ 2 ngôn ngữ trở lên, và yêu cầu được mong muốn nhất là Yêu cầu thành thạo tiếng
Anh. Còn lại nhìn chung thì các yêu cầu nêu trên đều được sinh viên trường Ngoại
thương nhận định là có yêu cầu.
•
Chuyên môn công việc mong muốn làm:
Biểu đồ 2.8: Xu hướng lựa chọn loại hình công ty
Nhìn vào biểu đồ 2.8 ta nhận thấy, xu hướng lựa chọn loại hình công ty tập
trung vào loại hình công ty Nước ngoài (62,5%), tiếp đến là công ty Việt Nam
(43,3%), còn lại các lựa chọn rơi vào loại hình công ty Khởi nghiệp, NGO/NPO…
•
Tính chất công việc mong muốn:
Biểu đồ 2.9: Tính chất công việc mong muốn
Dựa vào biểu đồ, kết quả số sinh viên mong muốn tìm kiếm công việc toàn
thời gian chiếm 88,5%. Còn lại rơi vào các loại hình công việc như làm Tự do, làm
thực tập, online,…
•
Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn công việc sau khi tốt nghiệp
Biểu đồ 2.10: Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn công việc sau khi tốt nghiệp
16
Nhìn vào biểu đồ ta nhận thấy, yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến lựa chọn công
việc đó là Sếp giỏi, dẫn dắt tốt; yếu tố ảnh hưởng tiếp theo là Cơ hội thăng tiến
nhanh và rõ ràng. Ngược lại yếu tố ít ảnh hưởng nhất đến lựa chọn công việc đó là
Công việc ổn định, nhẹ nhàng.
•
Yêu tố gây áp lực đối với lựa chọn công việc của sinh viên
Giỏi
Xuất sắc
3
4
Tổng kết
11
12
8
8
15
6
27
12
8
38
58
24
5
100
Dựa vào bảng 2.11 ta nhận thấy, chúng ta có thể chia sinh viên trường Đại học
Ngoại thương thành 4 nhóm sinh viên chính:
Nhóm 1: Sinh viên có thành tích học tập tốt, kinh nghiệm tốt (chiếm 32,71%)
Nhóm bao gồm các sinh viên có điểm tích lũy trên 3.2 và có kinh nghiệm làm
việc trên 1 năm
17
Nhóm 2: Sinh viên có thành tích học tập tốt, không có kinh nghiệm tốt (chiếm
25,23%)
Nhóm bao gồm các sinh viên có điểm tích lũy trên 3.2 và có kinh nghiệm làm
việc dưới 1 năm
Nhóm 3: Sinh viên không có thành tích học tập tốt, kinh nghiệm tốt (chiếm
21,49%)
Nhóm bao gồm các sinh viên có điểm tích lũy dưới 3.2 và có kinh nghiệm làm
việc trên 1 năm
Nhóm 4: Sinh viên không có thành tích học tập tốt, không có kinh nghiệm tốt
(chiếm 22,43%)
Nhóm bao gồm các sinh viên có điểm tích lũy dưới 3.2 và có kinh nghiệm làm
việc dưới 1 năm.
2.3.1 Sinh viên có thành tích học tập tốt, kinh nghiệm tốt
Nhóm bao gồm các sinh viên có điểm tích lũy trên 3.2, với ngoại ngữ và các
loại kĩ năng mềm tương đối hoàn thiện, có khả năng theo đuổi công việc đúng
chuyên ngành nếu có dự định; bên cạnh đó nhóm đối tượng này còn có có kinh
nghiệm làm việc trên 1 năm. Nếu kinh nghiệm việc làm đúng theo chuyên ngành
theo học thì cơ hội việc làm của nhóm đối tượng này tương đối chắc chắn nằm
trong một phạm vị nhất định, có định hướng rõ ràng và dễ dàng xin việc tại các vị
trí đúng theo chuyên ngành theo học.
Thị trường việc làm ngày càng sôi động và cơ hội việc làm luôn mở ra cho
những người biết tận dụng cơ hội đó. Nhóm đối tượng này, dù không có thành tích
học tập tốt, tuy nhiên bù lại, họ có điểm cộng rất lớn là kinh nghiệm và kỹ năng.
Các nhà tuyển dụng ngày nay có xu hướng tuyển dụng nhưng ứng viên có nhiều
kinh nghiệm. Hy vọng rằng nhóm đối tượng này sẽ có định hướng nghề nghiệp rõ
ràng và sự nghiệp phát triển.
19
2.3.4. Sinh viên không có thành tích học tập tốt, không có kinh nghiệm tốt
Nhóm sinh viên có điểm tích luỹ dưới 3.2 và có kinh nghiệm làm việc dưới 1
năm. Qua khảo sát, ta có thể thấy rằng, nhóm đối tượng có thành tích học tập không
tốt và có kinh nghiệm cũng không tốt này có đặc điểm chung là đều có xu hướng
chọn việc làm dựa theo truyền thống gia đình, không có áp lực về tài chính và sự
thăng tiến sự nghiệp của bạn bè. Từ đó, ta có thể tạm chia nhóm đối tượng này
thành 2 nhóm nhỏ sau: nhóm có gia đình hỗ trợ công việc, và nhóm không có năng
lực thực sự. Nhóm có gia đình hỗ trợ công việc, dù có thành tích kết quả học tập lẫn
kinh nghiệm chưa dược tốt, tuy nhiên nhóm này không áp lực về công nghiệp vì
đảm bảo sau khi tốt nghiệp sẽ có gia đình lo cho công việc ổn định, không sợ thất
nghiệp. Nhóm nhỏ còn lại, nhiều khả năng là do chọn sai chuyên ngành học từ năm
nhất, hoặc không yêu thích chuyên ngành đang học vì vậy không muốn nỗ lực trong
học hành, cộng thêm trình độ chuyên môn không có và các kỹ năng mềm đều kém
nên không có cơ hội được thực tập, hoặc làm thêm, dẫn đến kinh nghiệm làm việc
kém. Nhóm đối tượng này thực sự cần được tác động tư tưởng để thay đổi quan
điểm về việc cải thiện, nâng cao trình độ học vấn và kinh nghiệm làm việc, từ đó
mới có xu hướng lựa chọn việc làm đúng đắn trong tương lai.
20
21
Chỉ đạo thống nhất việc quản lý nhà nước đối với GDĐH và giáo dục nghề
nghiệp từ trung ương đến địa phương để làm cơ sở cho việc quy hoạch lại mạng
lưới GDĐH gắn với mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, với nhu cầu đào tạo nhân lực
phục vụ phát triển kinh tế xã hội của từng vùng, từng địa phương và quốc gia.
Tiếp tục xây dựng Đề án giải quyết việc làm cho SV tốt nghiệp ở trong và
ngoài nước trên cơ sở điều chỉnh lại cơ quan chủ trì, phối hợp theo chức năng quản
lý nhà nước của từng cơ quan…
Xây dựng hệ thống và tăng cường cung cấp thông tin về TTLĐ theo địa
phương, vùng, ngành và kết nối thành thông tin TTLĐ quốc gia; thực hiện các giải
pháp hữu hiệu để thu hút lao động đã qua đào tạo từ nơi dư thừa (các thành phố lớn,
vùng đã phát triển) đến làm việc ở nơi có nhu cầu.
Xây dựng cơ chế, chính sách cho vay vốn ưu đãi đối với người tốt nghiệp
trình độ ĐH, CĐ có nhu cầu vay vốn khởi nghiệp nhằm tạo cơ hội và khuyến khích
SV chủ động tự tạo việc làm cho bản thân và những người lao động khác qua các dự
án, ý tưởng sản xuất, kinh doanh, giúp người mới tốt nghiệp tiếp cận, thụ hưởng
nguồn vốn cho vay ưu đãi để tạo việc làm.
Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 về Đổi
mới cơ chế hoạt động đối với cơ sở giáo dục đại học công lập; thực hiện việc phân
tầng, xếp hạng, ban hành và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với cơ sở GDĐH…
Triển khai có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy
nghề, nhất là đào tạo nghề cho lao động nông thôn, cho vay vốn từ Quỹ quốc gia và
việc làm và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; thực hiện chính sách hỗ
trợ việc làm, bảo hiểm thất nghiệp, đào tạo lại cho người lao động thất nghiệp,
chuyển nghề.
Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục theo hướng: Xây dựng cơ chế đầu tư, ưu đãi
về đất đai, vốn để hỗ trợ các cơ sở ngoài công lập; Xây dựng cơ chế cho thuê cơ sở
các vị trí quản lý quan trọng tại các công ty vừa và nhỏ có thể sẽ phù hợp với đối
tượng này.
Đối với nhóm 2, sinh viên có thành tích học tập tốt, không có kinh nghiệm tốt,
có thể ưu tiên những công việc đòi hỏi chuyên môn, bằng cấp cao để phát huy được
năng lực vốn có của bản thân. Bên cạnh đó, thị trường việc làm hiện nay có rất
nhiều cơ hội cho các bạn chưa có kinh nghiệm. Chính vì vậy, các bạn sinh viên thể
hiện được thái độ nghiêm túc cùng với năng lực học hỏi tốt thông qua điểm số trong
quá trình học tập, rất có thể sẽ có được công việc phù hợp với mình.
23
Đối với nhóm 3, sinh viên có thành tích học tập không tốt và kinh nghiệm tốt,
giải pháp cho sự lựa chọn việc làm là sẽ tập trung vào những công việc ưu tiên
người đã có kinh nghiệm làm việc thực tế. Trong thực tế, yêu cầu về bằng cấp
chuyên môn trong mô tả công việc của các doanh nghiệp chỉ là yếu tố phụ. Điều
quan trọng mà nhà tuyển dụng luôn tìm kiếm ở ứng viên là xem xét khả năng làm
được việc của họ. Chính vì vậy, với những sinh viên không có kết quả học tập quá
tốt, nhưng có thể chứng minh được bản thân có sự chủ động, lăn xả, trải nghiệm
nhiều công việc, thì chắc hẳn sẽ được nhà tuyển dụng đánh giá cao.
Đối với nhóm 4, sinh viên có thành tích học tập không tốt, không có kinh
nghiệm, nên chọn những công việc không yêu cầu kinh nghiệm thực tế. Điều quan
trọng là các bạn phải có một thái độ làm việc tốt, tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, và
cam kết sẽ học thật nhanh để bắt kịp với mọi người và làm được tốt công việc.
Những vị trí tại các công ty vừa và nhỏ, những công ty khởi nghiệp có thể sẽ là khởi
đầu tốt cho nhóm sinh viên này.
Bên cạnh đó, đối với những sinh viên còn đang trong quá trình học tập tại
trường, cần tích cực học tập rèn luyện tiếp thu kiến thức chuyên môn nghiệp vụ của
mình, tham gia các lớp đào tạo kỹ năng, các hoạt động xã hội, để nâng cao các kỹ
năng cơ bản như: giao tiếp tự tin, làm việc theo nhóm, kỹ năng tìm việc, học thêm
vấn đề việc làm được giải quyết một cách hợp lý và cân đối. Chính vì vậy, việc xác
định đường lối, mục tiêu đúng đắn cho nghề nghiệp của sinh viên là một nội dung
quan trọng trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng
XHCN.
25