Điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước từ năm 2007 đến nay - Pdf 66

Mục Lục
Lời mở đầu
Phần I : Giới thiệu chung
1. Chính sách tiền tệ
2. Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ
3. Các công cụ chính sách tiền tệ
Phần II : Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và tác động
của nó tới nền kinh tế từ năm 2007 đến nay
1. Năm 2007
2. Năm 2008
3. Năm 2009
4. Năm 2010
Phần III : Những vấn đề đặt ra nhằm hoàn thiện công cụ chính sách tiền
tệ ở Việt Nam
1. Một số kiến nghị về điều hành chính sách tiền tệ cuối năm 2010
2. Một số đề xuất hoàn thiện hóa công cụ chính sách tiền tệ
Kết luận và tài liệu tham khảo
Phụ lục
Lời mở đầu
hính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng
của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến
số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát… Để đạt được
các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ
bản, quyết định.
C
Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của
nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế.
Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng nó
ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyên phải
quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách
tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế. Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế

• Công cụ trực tiếp: là công cụ tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong
lưu thông ( hoặc các mức lãi suất thị trường trung và dài hạn) bao gồm
- Hạn mức tín dụng: được sử dụng từ nửa cuối năm 1994 đến 1998 nhằm khống
chế trực tiếp mức tăng trưởng dư nợ tín dụng của hệ thống NHTM. Mặc dù
hạn mức tín dụng quy định cho từng NHTM không còn áp dụng với tư cách là
CSTT trực tiếp từ năm 1998 nhưng tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân
hàng vẫn là chỉ tiêu bị khống chế hàng năm bởi NHNN và theo yêu cầu của
IMF.
- Ấn định lãi suất: NHNN sử dụng chính sách lãi suất nhằm điều tiết trực tiếp
mặt bằng lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng
- Các chính sách hỗ trợ: NHNN sử dụng một hệ thống các chính sách hỗ trợ
mục tiêu như chính sách tín dụng, chính sách huy động vốn, chính sách quản
lý ngoại hối nhằm hỗ trợ cho công cụ lãi suất và tỷ giá.
• Công cụ gián tiếp: là nhóm công cụ tác động trước hết vào mục tiêu hoạt
động, thông qua cơ chế thị trường mà tác động này được truyền đến các
mục tiêu trung gian là khối lượng tiền cung ứng và lãi suất, bao gồm:
- Dự trữ bắt buộc: là số tiền mà các TCTD phải duy trì theo quy định của
NHNN. Nó được xác định bằng tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền
gửi trong một khoảng thời gian nhất định
- Công cụ tái cấp vốn: là cách để NHNN đưa tiền ra lưu thông, đồng thời khống
chế về số lượng và chất lượng tín dụng của các TCTD
- Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) : là nghiệp vụ mua bán các chứng từ ngắn
hạn của NHNN trên thị trường tiền tệ
Ở Việt Nam hiện nay sử dụng : lãi suất, chính sách tái cấp vốn, tỷ giá, dự trữ bắt
buộc, hạn mức tín dụng, nghiệp vụ thị trường mở là công cụ CSTT.
Phần II: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của NHNN và tác
động của nó tới nền kinh tế từ năm 2007 đến nay
1. Năm 2007
1.1. Diễn biến kinh tế năm 2007:
- Kinh tế thế giới: Thế giới năm 2007 đã ghi dấu ấn những bước thăng trầm của

hấp thụ vốn ngoại của nền kinh tế còn hạn chế, đã gây ra các hiệu ứng cho nền kinh tế
(VND lên giá, bùng nổ tín dụng, lạm phát gia tăng; sức ép đòi hỏi bơm nội tệ để mua
ngoại tệ...); TTCK trong nước ảm đạm... Thiên nhiên dường như cũng tác động mạnh
đến kinh tế Việt Nam bằng một đợt rét đậm kéo dài kỷ lục...
Các diễn biến kinh tế trong và ngoài nước đang đặt ra rất nhiều thách thức cho Chính
phủ trong việc đưa ra các chính sách ứng phó phù hợp.
1.2. Điều hành chính sách tiền tệ năm 2007 của NHNN:
NHNN thực thi CSTT bám sát mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát
lạm phát, đảm bảo sự ổn định tiền tệ, ổn định hệ thống ngân hàng, góp phần ổn định
kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao, bền vững
trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế - nhiều thuận lợi, nhưng cũng không ít
thách thức. Trên cơ sở đánh giá và dự báo kịp thời chiều hướng biến động của kinh tế
tiền tệ trong nước và quốc tế, trong năm 2007, NHNN đã thực hiện các giải pháp điều
hành CSTT như sau:
• Lãi suất
Để tránh tác động không thuận lợi đối với tăng trưởng kinh tế, NHNN tiếp tục giữ ổn
định lãi suất mức lãi suất cơ bản là 8,25%/năm, lãi suất tái cấp vốn là 6,5%/năm và lãi
suất chiết khấu là 4,5%/năm(Mức lãi suất được duy trì từ tháng 12/2005 đến nay).
Song, lãi suất một số thị trường do NHNN Việt Nam điều hành thì lại biến động
mạnh. Lãi suất đấu thầu tín phiêu kho bạc nhà nước bình quân ở mức 4,16%/năm, lãi
suất nghiệp vụ thị trường mở bình quân lên tới 7,5% - 8,0%/năm. Các mức lãi suất đó
có tác động giảm sự gia tăng lãi suất trên thị trường, nhất là lãi suât thị trường liên
ngân hàng. Lý do chủ yếu của việc giữ ổn định lãi suất này là nhằm phát tín hiệu định
hướng ổn định lãi suất thị trường để hạn chế tác động tăng lãi suất cho vay và cộng
hưởng làm tăng chi phí sản xuất, từ đó góp phần kiểm soát lạm phát. Đồng thời, trong
điều kiện nguồn cung ngoại tệ dồi dào, từ 01/03/2007, NHNN đã chính thức thực hiện
bỏ qui định về trần lãi suất tiền gửi USD của pháp nhân tại TCTD để hoàn toàn tự do
hóa lãi suất thị trường, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế.
Đồ thị 5: Diễn biến lãi suất năm 2007 và Q1/2008
0

Tuy nhiờn,vo nhng thỏng cui nm 2007 trc sc ộp ca lm phỏt ( lm phỏt liờn
tc mc cao, v nhy vt n trờn 12% vo cui 2007) v lo ngi ri ro quỏ ln t
cỏc khon cho vay bt ng sn v c phiu, NHNN dng nh ó bt phi chu sc
ộp tng trng, t 1/6/2007, NHNN ó iu chnh tng t l d tr bt buc lờn gp
ụi i vi c ni t v ngoi t: t 5% lờn 10% i vi tin gi VND k hn di
12 thỏng v t 2% lờn 4% i vi k hn t 12 thỏng n 24 thỏng, tng t 8% lờn
10% i vi tin gi ngoi t k hn di 12 thỏng v t 2% lờn 4% i vi k hn t
12 thỏng n di 24 thỏng.
Vic tng t l d tr bt buc mt cỏch t ngt, mc tng d tr quỏ nhanh v
mnh khi tng trng tớn dng cha quỏ núng ó y cỏc ngõn hng thng mi ca
Vit Nam lõm vo khng hong thiu thanh khon cha tng cú, kộo theo tỡnh trng
cn kit tớn dng trong ngn hn.
Nghip v th trng m
Cú th khng nh trong nm 2007, nghip v th trng m ó t c thnh cụng
ln trong can thip vo vn kh dng ca NHTM v thu hỳt bt tin t lu thụng v,
kim ch lm phỏt. Tng khi lng giy t cú giỏ ngn hn NHNN mua vo k hn
ngắn lên tới 61.133 tỷ đồng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn khả dụng cho các NHTM.
Nhưng trong năm 2007, tổng doanh số tín phiếu NHNN và giấy tờ có giá bán ra là
356.850 tỷ đồng, đạt mức cao nhất từ trước đến nay.Con số đó cũng cho thấy mức độ
thu hút tiền tệ của NHNN là rất lớn.
Vào thời điểm tháng 10/2007, khi lạm phát có xu hướng vượt trên hai con số, Ngân
hàng nhà nước cũng đã bán ra nhiều giấy tờ có giá để thu hút tiền về.NHNN đã tổ
chức tới 355 phiên giao dịch, nhiều ngày tổ chức tới 2- 3 phiên để đáp ứng yêu cầu
của thị trường. Nhiều phiên NHNN chào bán tới 10.000 tỷ đồng.Đây cũng là những
con số kỉ lục từ trước tới nay. Tổng số có 584 lượt thành viên dự thầu, trong dó 399
lượt thành viên là ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN), 142 lượt thành viên
là ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) và 43 lượt thành viên là chi nhánh ngân
hàng nước ngoài ở Việt Nam; có 481 lượt thành viên trúng thầu, trong
đó có 360 lượt thành viên trúng thâu là NHTMNN, 86 lượt thành viên trúng thầu là
NHTMCP và 35 lượt thành viên trúng thâu là chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đây

tăng cường mức dự trữ ngoại hối Nhà nước. Chênh lệch giữa tỷ giá mua ngoại tệ của
NHNN và tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng đã được thu hẹp, phản ánh
sát cung cầu ngoại tệ trên thị trường.
6 tháng đầu năm 2007 tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng có biến động
nhẹ, trong quý I có xu hướng giảm sau đó tăng nhẹ khoảng 0,07% so với đầu năm.
Nguyên nhân là do nguồn cung ngoại tệ dồi dào nên tỷ giá mua vào USD/VND của
các ngân hàng thương mại thường xuyên ở mức kịch sàn cho phép, các ngân hàng
thương mại không có nhu cầu xin mua ngoại tệ từ NHNN. Vì thế, để nhằm hỗ trợ xuất
khẩu, NHNN đã thực hiện các biện pháp can thiệp để tỷ giá bình quân trên thị trường
liên ngân hàng không giảm xuống mức quá thấp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
xuất khẩu phát triển.
Với cơ chế điều hành tỷ giá trong năm 2007, mặc dù, tỷ giá có biến động khá nhau ,
tăng đáng kể thời điểm giữa năm, nhất là trên thị trường tự do, có thời điểm lên tới
gần 16300đ/1 đôla, nhưng nhìn chung là ổn định và giảm nhẹ vào cuối năm, xoay
quanh mức 16.000đ/1 đôla.
NHNN đã quản lý an toàn dự trữ ngoại hối Nhà nước, đáp ứng mục tiêu thanh khoản
và sinh lời ở mức độ nhất định. Tổng dự trữ ngoại hối Nhà nước tính theo tuần nhập
khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng từ mức 13,6 tuần vào thời điểm cuối năm 2006 lên gần
18 tuần năm 2007.
1.3. Nhận xét về điều hành chính sách tiền tệ năm 2007
• Những kết quả đạt được:
Với việc thực thi CSTT như trên về cơ bản đạt được mục tiêu đề ra là ổn định tiền tệ,
kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ vốn tạo môi trường
thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế. Điều này thể hiện ở những kết quả sau:
- Qui mô thị trường tiền tệ mở rộng và ổn định, không để xẩy ra những cú sốc về
lãi suất và tỷ giá trước những biến động khó lường của tình hình thị trường tài chính
quốc tế
+ Lãi suất thị trường liên ngân hàng mặc dù có biến động mạnh trong vài ngày giữa
tháng 11/2007, song, nhìn chung, mặt bằng lãi suất trong năm ổn định: lãi suất huy
động và cho vay của TCTD vẫn giữ được ổn định và có xu hướng giảm nhẹ so với

hàng và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển bến vững.
+ Chất lượng tín dụng được cải thiện: Tỷ lệ nợ xấu tháng 9/2006 là 2,2%, có xu
hướng giảm so với tỷ lệ nợ xấu tháng 12/2006 (2,64%), trong đó tỷ lệ nợ xấu của các
nhóm TCTD đều giảm. Cụ thể là: tỷ lệ nợ xấu của các NHTM nhà nước là 2,8%
(giảm 0,4%); tỷ lệ nợ xấu của các NHTM cổ phần là 1,26% (giảm 0,34%); tỷ lệ nợ
xấu của các ngân hàng liên doanh và chi nhánh nước ngoài là 0,8% (giảm 0,4%); tỷ lệ
nợ xấu của các TCTD khác là 2,4% (giảm 0,5%).
• Những thách thức phải đối mặt
Có thể nói, điều hành CSTT năm 2007 về cơ bản, đạt đuợc mục tiêu đặt ra, tuy
nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, cùng với việc Việt Nam
gia nhập WTO nên việc điều hành CSTT đã phải đối mặt với nhiều thách thức làm
cho việc thực hiện mục tiêu ban đầu còn có hạn chế nhất định.
Thách thức lớn nhất mà điều hành CSTT năm 2007 phải đối mặt, đó là dòng vốn
đầu tư nước ngoài vào nhiều (Theo số liệu thống kê đến tháng 10/2007, doanh số phát
sinh tiền gửi bằng VND của người không cư trú tại các NHTM thì có khoảng 13 tỷ
USD của người không cư trú được chuyển cho người cư trú cho mục đích đầu tư vào
thị trường chứng khoán, đầu tư vào bất động sản và chi tiêu các nhu cầu tiêu dùng
khác trong nước). Tình hình này đã có tác động làm tăng tổng phương tiện thanh toán
của nền kinh tế ( tăng M2); làm tăng cung ngoại tệ, gây sức ép làm VND lên giá; dự
trữ vượt của hệ thống ngân hàng tăng mạnh - là một nhân tố thúc đẩy tín dụng tăng
nhanh; dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) có tác động thúc đẩy thị trường
chứng khoán phát triển mạnh hơn, và một lượng vốn nhất định cuả dân cư cũng như
từ hệ thống ngân hàng được đầu tư trên thị trường chứng khoán, qua đó đã làm tăng
dư nợ cho vay nền kinh tế; cùng với việc gia tăng mạnh dòng vốn đầu tư nước ngoài
là sự tăng giá khó lường mang tính toàn cầu của một một số mặt hàng, như giá dầu
thô, giá lương thực, bên cạnh đó là hạn hán lũ lụt, dịch bệnh gia cầm trong nước đã có
tác động mạnh đến mức mức giá tiêu dùng nói chung. Trong bối cảnh trên, CSTT
phải cùng một lúc đạt hai mục tiêu là vừa phải hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế
đạt 8,5%, vừa phải kiềm chế lạm phát dưới mức tăng trưởng là cực kỳ khó khăn. Giải
pháp ổn định lãi suất và tỷ giá danh nghĩa hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế và

rủi của các cơ quan quản lý tiền tệ mà trực tiếp là NHNN, cũng như từ chính các
NHTM; thêm vào đó, việc dư thừa vốn khả dụng làm giảm hiệu quả thực thi CSTT
của NHNN và làm tăng khả năng mất cân đối kỳ hạn cho hoạt động của các NHTM:
Vốn khả dụng của các NHTM dư thừa và đầu tư giấy tờ có giá tăng mạnh: cũng như
năm 2006, diễn biến tiền tệ nổi bật trong năm nay là vốn khả dụng của các TCTD xét
trên bình diện toàn hệ thống thì thường xuyên dư thừa ở mức cao.
Nhìn chung, năm 2007 thực thi CSTT của NHNN là cực kỳ khó khăn bởi tác động bất
lợi của dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam quá lớn trong năm, cùng với những
diễn biến phức tạp của giá cả những mặt hàng chủ yếu và những nhu cầu hội nhập của
nền kinh tế. Mặc dầu vậy, về cơ bản, điều hành CSTT đã đạt được sự ổn định tiền tệ,
hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế, tạo môi trường vĩ mô thuận lợi cho phát triển
kinh tế, song năm 2008, thực thi CSTT vẫn tiếp tục phải đối mặt với những thách thức
do dòng vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục gia tăng và những biến động khó lường
của thị trường tài chính quốc tế, cùng với biến động của giá cả thế giới. Điều đó đòi
hỏi NHNN tiếp tục thực hiện CSTT chặt chẽ và cần có những giải pháp mang tính dài
hạn để hạn chế đến mức thấp nhất những tác động bất lợi của những thách thức phải
đối mặt
2. Năm 2008
2.1. Diễn biến kinh tế năm 2008
Những thách thức mà các nền kinh tế phải đối mặt trong năm 2008 diễn biến vô cùng
phức tạp, khó lường. Nếu như trong 6 tháng đầu năm, sự gia tăng mạng của giá dầu,
giá lương thực, sự giảm giá của thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, cùng
các bất ổn chính trị đã gây áp lực lạm phát mang tính toàn cầu và tăng trưởng kinh tế
của các quốc gia gặp khó khăn trước áp lực lạm phát, thì trong 6 tháng cuối năm, giá
dầu giảm mạnh từ mức kỷ lục 147 USD/thùng vào giữa tháng 7 và xuống mức thấp
xung quanh dưới 40 USD/ thùng vào trung tuần tháng 12, giá lương thực cũng giảm
mạnh cùng với tỷ lệ thất nghiệp tăng cao gây áp lực giảm phát. Kinh tế thế giới lại
chuyển từ áp lực lạm phát cao sang xu hướng thiểu phát và giảm phát cùng với sự suy
thoái kinh tế toàn cầu và tình trạng này sẽ tiếp tục diễn ra trong năm 2009
Nền kinh tế Việt Nam trong năm 208, không những phải đối mặt với những diễn biến

Yếu tố chủ quan: Lãi suất tăng nhanh và tăng cao ngoài 2 yếu tố mang tính khách
quan, còn do yếu tố chủ quan đó là quá trình khai thác và sử dụng nguồn vốn của các
NHTM chưa hợp lý. Trong đó việc tăng trưởng tín dụng quá nóng, vượt khả năng
nguồn vốn của 1 số NHTM cổ phần đã tạo ra áp lực về thanh khoản rất lớn. Trong
khi đó nguồn vốn bị thu hẹp ( do phải tăng dự trữ bắt buộc, mua tín phiếu NHNN bắt
buộc) càng làm cho 1 số NHTM cổ phần khó khăn về vốn trong thanh khoản- diễn
biến này đã đẩy lãi suất huy động tăng cao và tăng nhanh nhằm thu hút nguồn tiền gửi
từ dân cư để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Cùng với quá trình “hút” tiền về của
NHNN, quá trình này đã tác động hiệu ứng đến toàn bộ hệ thống và làm xuất hiện
cuộc đua lãi suất trong khoảng thời gian cuối tháng 2 và nửa đầu tháng 3/2008
Thứ hai, tỷ giá trên thị trường diễn biến phức tạp
Đến cuối tháng 11/2008, so với cuối năm 2007 thì tỷ giá bình quân liên ngân hàng
tăng 2,75% ( tỷ lệ năm 2007 là 0,17%). Tỷ giá mua bán của các NHTM trong biên độ
cho phép. Mặc dù diễn biến của tỷ giá về cơ bản trong sự điều hành của NHNN. Tuy
nhiên, tỷ giá trên thị trường có lúc diễn biến bất thường do xu hướng nhập siêu gia
tăng, diễn biến thị trường vàng, ngoại tệ trên thế giới phức tạp… đã tác động đến tâm
lý người dân, nhà đầu tư. Trong đó, một bộ phận nhà đầu tư ngoại tệ đầu cơ, tích trữ
đã tác động hiệu ứng chung đến thị trường, làm cho tỷ giá trong thời gian này tăng
nhanh, tăng cao và tăng liên tục trong những tháng 6/2008. Chỉ khi có dấu hiệu khả
quan về nhập siêu, tăng trưởng kinh tế, lạm phát, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài, kim ngạch xuất khẩu và đặc biệt thông tin về Dữ trữ ngoại tệ quốc gia… thị
trường mới có phản ứng tích cực. Theo đó, tỷ giá đã ổn định trở lại, quan hệ cung cầu
ngoại tệ ổn định, các tổ chức tín dụng đảm bảo đáp ứng ngoại tệ cho hoạt động kinh
doanh sản xuất
Thứ ba, phát sinh nhiều loại phí liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng, dẫn đến
sự cạnh tranh thiếu lành mạnh
Diễn biến phức tạp của tình hình lãi suất, tình hình tỷ giá đã làm phát sinh nhiều loại
phí liên quan đến hoạt động này. Trong đó việc nổi bật 2 loại phí dịch vụ tín dụng
( như: phí thu xếp vốn, phí thẩm định, phí giải ngân… đây không phải là loại phí mới
phát sinh. Tuy nhiên trong quá trình này, một số tổ chức tín dụng đã thực hiện việc ký

liệu pháp đó đã nhanh chóng có tác động điều tiết rõ rệt đối với thị trường. Có thể
điểm lại một số công cụ chủ yếu sau:
• Lãi suất
Lãi suất cơ bản là công cụ có sức công phá lớn và có vai trò quan trọng trong điều
hành CSTT của NHNN Việt Nam. Năm 2008, NHNN đã có những điều hành linh
hoạt lãi suất phù hợp diễn biến kinh tế vĩ mô. Cụ thể
Trong 8 tháng đầu 2008, trước bối cảnh lạm phát và nhập siêu tăng mạnh, đe dọa đến
sự ổn định kinh tế vĩ mô, cùng với giải pháp thắt chặt tiền tệ, NHNN đã từng bước
điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản và các mức lãi suất khác cho phù hợp với các mục tiêu
kiểm soát chặt chẽ tiền tệ. Lãi suất cơ bản tăng từ 8,25%/năm lên 8,75% rồi 12%,
14%/năm. Đồng thời, từ ngày 19/05/08 thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cơ bản phù
hợp với Luật NHNN và Bộ luật Dân sự, các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh
doanh bằng VND đối với khách hàng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN
công bố trong từng thời kỳ. Lãi suất tái cấp vốn tăng từ 6,5%/năm lên 7,5%; 13% và
15%/năm, lãi suất tái chiết khấu tăng từ 4,5%/năm lên 6%;11% rồi 13%/năm.
Trong những tháng cuối 2008, lạm phát có xu hướng giảm dần đồng thời trong khi đó
thì tăng trưởng kinh tế đã có sự suy giảm mạnh so với năm 2007 do ảnh hưởng cuộc
khủng hoảng tài chính thế giới. Tình hình này đòi hỏi NHNN phải có những bước đi
thận trọng nhằm tiếp tục kiểm soát lạm phát nhưng đồng thời cũng góp phần tăng đầu
tư sản xuất, kinh doanh để ngăn chặn đà suy giảm kinh tế. Trong bối cảnh, NHNN 5
lần điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản từ 14%/năm xuống 13%;12%;11%;9,5% và 8,5%/
năm. Lãi suất tái cấp vốn từ 15%/năm xuống 14%;13%;12%;11% và 9,5%/năm. Lãi
suất tái chiết khấu từ 13%/năm xuống 12%;11%;10%;9% và 7,5%/năm
1/1 1/2 19/5 11/6 21/10 5/11 21/11 22/12
Lãi suất cơ
bản
8.25 8.75 12 15 14 12 11 9.5
Lãi suất tái
cấp vốn
7.5 13 14 13 11 10 8.5

10
12
14
16
1/1 1/2 19/5 11/6 21/10 5/11 21/11 22/12
Lãi suất cơ bản Lãi suất tái cấp vốn Lãi suất tái chiết khấu
• Dự trữ bắt buộc
Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, tháng 2/2008, NHNN điều chỉnh tăng 1%
tỷ lệ DTBB đối với tất cả các loại kỳ hạn, áp dụng cho cả tiền gửi VND và ngoại tệ
đối với hầu hết các TCTD( trừ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn và 1
số TCTD hợp tác và NHTM cổ phần nông thôn). Đồng thời mở rộng diện phải DTBB
đối với tiền gửi có kì hạn từ 24 tháng trở lên ( trước đây chỉ bao gồm tiền gửi có kỳ
hạn và không kỳ hạn dưới 12 tháng) nhằm nâng cao khả năng điều tiết công cụ DTBB
Những tháng cuối năm 2008, để hỗ trợ các TCTD tăng cung ứng vốn cho nền kinh tế,
ngăn chặn suy giảm kinh tế, NHNN đã thực hiện 5 lần điều chỉnh giảm tỷ lệ DTBB
đối với tiền gửi VND không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng từ
11%-10%-8%-6%-3%, kỳ hạn 12 tháng trở lên điều chỉnh giảm từ 2% xuống 1%; 2
lần điều chỉnh giảm tỷ lệ DTBB đối với ngoại tệ từ 11%-9%-7%
Cùng với việc điều chỉnh tỷ lệ DTBB, NHNN còn linh hoạt điều chỉnh lãi suất tiền
gửi DTBB bằng VND của các TCTD tại NHNN, điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi
DTBB từ 1,2%/năm lên 3,6%-5%-10%/năm sau đó điều chỉnh giảm từ 10%/năm
xuống 8,5%-3,5%/năm. Việc điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi DTBB tạo điều kiện cho
TCTD hạ lãi suất huy động và cho vay
Diễn biến Dự trữ bắt buộc năm 2007-2008
Đơn vị %
2007 2008( 5 lần thay đổi)
Tỷ lệ DTBB( % tổng số dư
tiền gửi phải DTBB)
Lần 1 Lần 2 Lần 3 Lần 4 Lần 5
- Không kỳ hạn và dưới 12

lãi suất thống nhất cho tất cả các kỳ hạn giao dịch( từ 9-15%/năm) để ổn định lãi suất
thị trường. Diễn biến này phản ánh những biến động bất thường của thị trường của thị
trường tiền tệ năm 2008 và khó khăn về thanh khoản của các TCTD. Kết quả giao
dịch cụ thể từng quý thể hiện như sau:
Giao dịch Quý I Quý II Quý III Quý IV
LS(%) KL(tỷ) LS(%) KL( tỷ) LS(%) KL(tỷ) LS(%) KL(tỷ)
Mua kỳ
hạn
12,18 190.21
4
11,88 445.00
0
15 283.10
0
13,6 28.891
Bán hẳn 8,5 1.867 1.578 1.578 4,5 74.986
Bán kỳ
hạn
14,91 12.022
Trong quý I, trên thị trường mở diễn ra cả 2 loại giao dịch mua và bán nhưng kết quả
mua là chủ yếu( khoảng 93%) và áp dụng cả hai phương pháp đấu thầu là đấu thầu lãi
suất và đấu thầu khối lượng, thời hạn giao dịch phổ biến là 07 và 14 ngày trong
nghiệp vụ Mua kỳ hạn trên thị trường mở. Từ tháng 2/2008, do tình hình lãi suất đặt
thầu và thắng thầu cao, NHTM chỉ sử dụng phương pháp đấu thầu khối lượng, mức
lãi suất thống nhất được sử dụng trong tuần đầu tiên là 15% nhằm tạo định hướng cho
thị trường, trong các tuần tiếp theo lãi suất được điều chỉnh giảm xuống
14%,13%;10% và 9% chp phù hợp với lãi suất cơ bản do NHNN công bố.
Sang quý II, để đảm bảo tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, NHNN một mặt
áp dụng chính sách thặt chặt tiền tệ nhưng mặt khác vẫn hỗ trợ thanh khoản cho các
TCTD qua kênh OMO. Lượng vốn bơm ra thị trường trong thời kỳ này đạt kỷ lục là

Đến quý II, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố: thâm hụt cán cân thương mại lớn(7,22 tỷ
USD trong 3 tháng từ tháng 4-6);nhu cầu ngoại tệ trả các khoản nợ của cả doanh
nghiệp xuất nhập khẩu đến hạn cao; tăng nhập khẩu vàng do chênh lệch lớn giữa giá
vàng trong nước và quốc tế;nhà đầu tư nước ngoài rút vốn khỏi Việt Nam bằng việc
bán trái phiếu Chính phủ ròng chuyển ngoại tệ về nước do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng kinh tế, tỷ giá có xu hướng tăng. Ngày 1/4/2008 tủ giá bình quân liên ngân
hàng là 15960 VND/USD liên tục tăng nhẹ lên mức 16139 VND/USD ngày
10/06/2008 sau đó đột biến tăng mạnh vào ngày 11/6/2008 với mức 16461
VND/USD. Ngày 30/06/2008 từ 16514 VND/USD. NHNN đã quyết định nới biên độ
dao động từ ± 1% lên ± 2% ( từ ngày 26/06/2008) đồng thời triển khai hàng loạt các
biện pháp khác: kiểm soát chặt các đại lý thu đổi ngoại tệ, tăng cường truyền thông,
công bố dự trữ ngoại hối của Việt Nam ( điều chưa hề có tiền lệ tại Việt Nam),…Nhờ
đó,tỷ giá đã dần dịu lại và duy trì ở mức ~ 16.500 cho đến hết quý 3/08
Thế nhưng, từ tháng 9, tỷ giá USD/VND biến động thất thường, đầu tiên giảm từ mức
16515 ngày 1/10/08 xuống 16494 ngày 24/12 rồi tăng mạnh lên mức 16.989
VND/USD. CÒn trên thị trường tự do, tỷ giá đã thiết lập trên mốc 17000 VND/1
USD từ khá lâu. Từ ngày 7/11/2008, biên độ tỉ giá giao dịch USD/VND được mở
rộng từ mức 2% lên 3% so với tỉ giá bình quân liên ngân hàng do NHNN công bố
( Quyết định số 2635/QĐ-NHNN ngày 6/11/2008). Biên độ tỷ giá tiếp tục tăng từ ±
2% lên ± 3% vào ngày 7/11/2008
Từ cuối năm 2008, suy thoái kinh tế đã tác động mạnh đến nguồn cung ngoại tệ của
Việt Nam.Theo nghiên cứu, chỉ trong tháng 9 và 11/2008, khối đầu tư nước ngoài đã
bán ròng 0,7 tỷ USD trái phiếu chính phủ và 100 triệu USD cổ phiếu các loại..Bên
cạnh đó, nhu cầu USD của các ngân hàng nước ngoài vẫn cao, ước khoảng 40 triệu
USD/ngày. Thêm vào đó, thâm hụt thương mại có dấu hiệu tăng trở lại. Chỉ trong 2
tháng 10 và 11/2008, thâm hụt thương mại lên tới 1,17 tỉ USD. Ngoài ra, một áp lực
nữa làm cho cầu USD tăng là do Nhà nước không cho phép nhập khẩu vàng, làm tăng
cầu USD tăng để nhập khẩu lậu vàng.Cộng thêm tâm lý găm giữ ngoại tệ của dân cư
đã dẫn đến tình trạng khan hiếm ngoại tệ, làm cho tỷ giá ngoại tệ luôn nóng, phổ biến
ở mức ~1800. NHNN đã thêm lần nữa điều chỉnh biên độ giao động tỷ giá (± 3% từ

thực hiện quyết liệt các nhóm giải pháp của Chính phủ, kinh tế vĩ mô đã có những dấu
hiệu tích cực, thể hiện qua:
Lạm phát đã có xu hướng giảm dần ngoại trừ tháng 5 tăng 3,91% chủ yếu do sốc giá
gạo vào tháng 4/2008. Cụ thể CPI các tháng:
Đơn vị:%

Trích đoạn Điều hành CSTT của NHNN năm 2010:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status