Luận văn tốt nghiệp “Các giải pháp tăng cường quản lý vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng đối với các Sở, Ban, Ngành của thành phố Hà nội” - Pdf 66

Luận văn tốt nghiệp
“Giải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Quân
đội ”
Luận văn cuối khoá Học viện tài chính
Nguyễn Thanh Thơ - K40/01.02
4

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm gần đây, vốn đầu tư xây dựng cơ bản và thực trạng
quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước là một
trong những vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài
ngành. Điều này rất dễ hiểu do tầm quan trọng của loại vốn này đối với sự
phát triển kinh tế – xã hội theo mục tiêu công nghiệ
p hoá - hiện đại hoá đất
nước, do tỷ trọng lớn của vốn trong tổng chi ngân sách Nhà nước cũng như do
những hạn chế lớn còn tồn tại trong việc quản lý vốn. Tuy nhiên, xuất phát từ
yêu cầu phân công, phân cấp quản lý, chi ngân sách Nhà nước của Việt Nam
còn có một loại vốn cũng mang tính chất đầu tư xây dựng cơ bản nhưng lại
được quản lý như một loạivốn riêng.
Đó là vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư
xây dựng.
Hiện vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng mặc dù chiếm tỷ trọng
không lớn trong chi hành chính sự nghiệp trên địa bàn thành phố Hà nội
nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc duy trì và răng cường hiệu quả công
việc của các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp. Công tác quản lý, sử dụng
vốn trong thời gian qua cũng đạ
t được những hiệu quả nhất định. Tuy vậy,
thực tế triển khai công tác quản lý vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng

anh chị của Phòng Tài chính Hành chính – Sự nghiệp cùng các phòng ban
khác của Sở Tài chính Hà nội.
Em xin chân thành cảm ơn. Luận văn cuối khoá Học viện tài chính
Nguyễn Thanh Thơ - K40/01.02
6

NỘI DUNG

CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ VỐN SỰ NGHIỆP
CÓ TÍNH CHẤT ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

1.1 Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng trong
ngân sách Nhà nước.
1.1.1 Khái niệm về vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng.
Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng là một khái niệm thuộc
phạm vi chi NSNN. Để có được hình dung rõ ràng về vốn sự nghiệp có tính
chất đầu tư xây dựng, trước hết ta cần tìm hiểu một số khái niệm và nội dung
của chi NSNN.
1.1.1.1 Khái niệm và nội dung của CNSNN
Theo luật NSNN năm 2002, NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà
nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và

6- Chi trả gốc và lãi các khoản huy động vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng (theo khoản 3 điều 8, Luật Ngân sách Nhà nước)
7- Chi bổ sung cho Ngân sách địa phương.
9- Chi chuyển nguồn từ Ngân sách Trung Ương n
ăm trước sang Ngân
sách Trung Ương năm sau.
Trong hoạt động của các cơ quan HCSN, chi của các đơn vị bao gồm:
- Chi hoạt động thường xuyên (chi cho người lao động, Chi quản lý hành
chính, Chi hoạt động nghiệp vụ, Chi mua sắm sửa chữa tài sản cố định, Chi
hoạt động thường xuyên khác).
- Chi hoạt động không thường xuyên (Chi thực hiện đề tài nghiên cứu
khoa học, Chi thực hiện nhiệm vụ Nhà nước đặt hàng, Chi thực hiện ch
ương
trình mục tiêu quốc gia, Chi thực hiện tinh giảm biên chế, Chi đầu tư XDCB,
mua sắm thiết bị, Chi khác).
Luận văn cuối khoá Học viện tài chính
Nguyễn Thanh Thơ - K40/01.02
8
Các khoản chi trên được lấy từ hai nguồn chính là kinh phí Nhà nước
cấp và nguồn thu để lại. Kinh phí Nhà nước cấp cho các đơn vị được ghi vào
chi NSNN. Số thu đơn vị nộp Ngân sách được ghi vào thu NSNN.
1.1.1.2 Khái niệm vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng.
Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng là vốn từ nguồn NSNN cấp
cho các đơn vị HCSN để chi sửa chữa, cải tạo, mở r
ộng nâng cấp cơ sở vật
chất hiện có nhằm phục hồi hoặc tăng giá trị tài sản cố định (bao gồm cả việc
xây dựng mới các hạng mục công trình trong các cơ sở đã có của các cơ quan
đơn vị HCSN).
Chi vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng là một loại chi “lưỡng
tính” vừa mang tính chất thường xuyên vừa mang tính không thường xuyên.

chung với các khoản chi thường xuyên khác, vì vậy, cơ quan quản lý dễ theo
dõi tình hình chi Ngân sách của các đơn vị đồng thời bố trí kế hoạch chi phù
hợp với thực tế và yêu cầu nhiệm vụ được giao của đơn vị.
“Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng” được dùng để chi cho việc
sửa chữa, cải tạo, mở rộng, nâng cấp cơ sở vật chấ
t sẵn có của các đơn vị
HCSN, nhằm duy trì hoặc tăng cường chức năng hoạt động của các cơ sở vật
chất này. Không được dùng nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây
dựng để đầu tư xây dựng mới, trừ việc sử dụng mới các hạng mục công trình
trong các cơ sở đã có của các cơ quan, đơn vị HCSN. Các dự án xây dựng
mớ
i phải xin khinh phí từ nguồn vốn đầu tư XDCB.
Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng thường có quy mô nhỏ, chỉ
bao gồm các dự án nhóm B, C và cũng chỉ giới hạn mức vốn từ 20 triệu lên
đến mức vốn hợp lý dành cho sửa chữa, cải tạo, mở rộng, nâng cấp. Bản thân
vốn sự nghiệp có tính đầu tư xây dựng là một bộ phận của chi thườ
ng xuyên
mà chi thường xuyên lại là một bộ phận của tổng chi NSNN. Tỷ trọng chi vốn
sự nghiệp có tính chất đầu tư XDCB trong chi thường xuyên HCSN cũng
không cao. Vì vây, trong tổng chi NSNN, vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư
xây dựng chiếm tỷ trọng không đáng kể.
Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng được phân cấp quản lý về
đến cấp huyện, tức là, Ngân sách quận, huyện đượ
c Ngân sách tỉnh, thành phố
bố trí cho một khoản vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng và UBND
quận, huyện được UBND tỉnh, thành phố phân cấp quyết định đầu tư với các
dự án thuộc phạm vi này.
Luận văn cuối khoá Học viện tài chính
Nguyễn Thanh Thơ - K40/01.02
10

Nguyễn Thanh Thơ - K40/01.02
11
Như đã nêu trong khái niệm, vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng
dùng để sửa chữa, cải tạo, mở rộng, nâng cấp các cơ sỏ vật chất hiện có của
các cơ quan, đơn vị HCSN nhằm phục hồi hoặc tăng giá trị tài sản cố định.
Nó đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động và nâng cao hiệu quả
công việc của các đơn vị HCSN bở
i vì các cơ sỏ vật chất là yếu tố không thể
thiếu được đói với hoạt động của mọi cơ quan đơn vị và trạng thái, chất lượng
của các cơ sỏ vật chất là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng
hiệu quả công tác của các đơn vị.
Vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng góp phần t
ạo nên cơ sở vật
chất phục vụ cho hoạt động quản lý hành chính Nhà nước, hoạt động sự
nghiệp kinh tế, giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học, ytế, văn hoá, xã
hội, thông tin, thể thao và các sự nghiệp khác do Nhà nước quản lý. Hoạt
động quản lý hành chính Nhà nước, hoạt động sự nghiệp của Nhà nước rất
quan trọng đối với nền kinh tế – xã hội của mọi quố
c gia, đặc biệt trong điều
kiện Việt Nam, phần lớn hoạt động sự nghiệp đều do các đơn vị của Nhà
nước thực hiện mà chưa có sự tham gia nhiều của các thành phần kinh tế
khác.
Hiện nay, nhiều trụ sở, tài sản và cơ sở vật chất khác của các đơn vị
HCSN đã được xây dựng, mua sắm cách đây nhiều năm, bị xuống cấp nghiêm
tr
ọng. Ngay đối với những cơ sở vật chất mới được tạo lập thì trong quá trình
hoạt động cũng dần bị hao mòn, xuống cấp. Trong khi đó, cùng với sự phát
triển kinh tế xã hội, yêu cầu về khối lượng, chất lượng, tính phức tạp, tốc độ
thực hiện đối với công việc của các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước và
các đơn vị sự nghiệp ngày càng tă

xây dựng cũng có thể hiểu hai nghĩa. Nó có thể là hoạt động quản lý của Nhà
nước, cũng có thể là hoạt động quản lý của đơn vị sử dụng vốn. Trong phạm
vi luận văn này, quản lý vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng được
hiểu là một nội dung quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tài chính công. Với
cách hiểu này ta có đị
nh nghĩa sau:
Quản lý vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng là sự tác động liên
tục, có hướng đích của chủ thể quản lý (Nhà nước) lên đối tượng (các đơn vị
Luận văn cuối khoá Học viện tài chính
Nguyễn Thanh Thơ - K40/01.02
13
HCSN) và khách thể quản lý (vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng)
nhằm thực hiện mục tiêu chung.
- Chủ thể quản lý: Các cơ quan được Nhà nước giao thẩm quyền, trách
nhiệm quản lý vốn đầu tư nói chung và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây
dựng nói riêng.
+ Đối với cấp Trung ương: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ
Tài chính, các bộ, ngành có liên quan.
+
Đối với cấp tỉnh: UBND tỉnh, thành phố, các Sở chức năng giúp việc.
+ Đối với cấp huyện: UBND quận, huyện và các Phòng chức năng giúp
việc.
- Đối tượng quản lý: Các đối tượng sử dụng vốn sự nghiệp có tính chất
đầu tư xây dựng. Đó là các cơ quan, đơn vị HCSN.
Mục tiêu quản lý là quản lý và sử dụng vốn đúng pháp luật, đúng mục
đích, đ
úng hiệu quả, tiết kiệm.
1.2.2 Nội dung quản lý vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng.
Quản lý vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng là mọt trong rất
nhiều nội dung của quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tài chính công mà cụ thể

ng bộ với các nội dung khác như quản lý thiết kế xây dựng, kỹ
thuật, chất lượng công trình, vv… của quản lý đầu tư và xây dựng nói chung
và được tiến hành theo đúng trình tự đầu tư và xây dựng bao gồm 3 giai đoạn:
+ Chuẩn bị đầu tư.
+ Thực hiện đầu tư.
+ Kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng.
Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo mục tiêu quản lý là s
ử dụng vốn Ngân sách
tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục đích, đúng quy định, các dự án do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền quyết định đầu tư phải chịu sự giám định đầu tư. Giám
định đầu tư là việc kiểm tra, giám sát, phân tích, đánh giá từng giai đoạn hoặc
toàn bộ quá trình đầu tư và xây dựng. Công tác giám định đầu tư được thực
hiện ở cả
cấp Thủ tướng Chính phủ, cấp ngành và cấp địa phương.
1.2.21. Lập và thông báo kế hoạch vốn đầu tư
Luận văn cuối khoá Học viện tài chính
Nguyễn Thanh Thơ - K40/01.02
15
Theo nội dung và phân bổ dự toán NSNN, kế hoạch bao gồm danh mục
dự án và vốn cho từng dự án. Theo trình tự đầu tư và xây dựng, kế hoạch bao
gồm vốn cho chuẩn bị đầu tư, vốn cho chuẩn bị thực hiện đầu tư, vốn cho
thực hiện đầu tư.
Hàng năm, theo kế hoạch vốn chuẩn bị đầu tư đã bố trí, chủ đầu tư
tiến
hành lập dự án đầu tư dưới hình thức báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo
nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo đầu tư. (Các cơ quan HCSN là chủ đầu tư
các dự án xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chính mình). Đối với các dự
án sử dụng vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng có mức vốn từ 1 tỷ
đồng trở lên, chủ đầu t
ư lập báo cáo nghiên cứu khả thị. Các dự án có mức

trên xu
ống.
Khi lập và phân bổ kế hoạch và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây
dựng, cùng lúc phải chú ý tới hai việc:
- Cân đối giữa chi vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng với các
khoản chi thường xuyên khác của đơn vị HCSN
- Cân đối vốn đầu tư của địa phương và của cả nước.
Vì vậy, trong việc quản lý các loại vốn đầu tư (bao gồ
m cả vốn sự
nghiệp có tính chất đầu tư XDCB) có sự phối hợp của Sở Kế hoạch – Đầu tư.
Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Sở Tài chính – Vật giá. Bộ Tài chính
1.2.2.2 Quản lý thanh toán vốn đầu tư
Việc thanh toán vốn đầu tư được thực hiện trong cả 3 giai đoạn của trình
tự đầu tư và xây dựng. Các khoản chi phí cần thanh toán vốn là:
- Chi phí xây lắp
- Chi phí mua sắm, lắp đặt thiết bị.
- Chi phí tư vấn.
- Chi phí khác (chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, chi phí quản lý dự
án, thuế, lệ phí phải nộp,vv…)
Đối với các dự án được sử dụng vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây
dựng, việc cấp phát vốn được thực hiện dưới hình thức cấp bằng hạn mức
kinh phí đầu tư và được thanh toán qua KBNN.
Căn cứ chính
để KBNN tiến hành thanh toán cho đơn vị sử dụng vốn
Ngân sách là:
- Đã có trong dự toán Ngân sách Nhà nước được giao.
Luận văn cuối khoá Học viện tài chính
Nguyễn Thanh Thơ - K40/01.02
17
- Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền ra lệnh chuẩn

Luận văn cuối khoá Học viện tài chính
Nguyễn Thanh Thơ - K40/01.02
18
“Vốn đầu tư được quyết toán” là toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện
trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp
là chi phí theo đúng quy chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính – kế toán
và những quy định hiện hành của Nhà nước có liên quan. Vốn đầu tư được
quyết toán trong giới hạn tổng mức đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt

điều chỉnh (nếu có).
Quyết toán đầu tư phải xác định đẩy đủ, chính xác tổng mức vốn đầu tư
đã thực hiện; phân định rõ nguồn vốn đầu tư; vốn đầu tư chuyển thành tài sản
cố định, tài sản lưu động, hoặc chi phí không thành tài sản của dự án. Qua
quyết toán vốn đầu tư xác định số lượng, năng lực sản xuất, giá tr
ị TSCĐ mới
tăng do đầu tư mang lại để có kế hoạch huy động, sử dụng kịp thời và phát
huy hiệu quả của dự án đầu tư đã hoàn thành. Trên cơ sở đó xác định trách
nhiệm của chủ đầu tư, cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư và xây dựng trong
quá trình quản lý sử dụng vốn đầu tư.
Quyết toán vốn đầu tư ph
ải đầy đủ, đúng nội dung, bảo đảm thời gian lập
thẩm tra và phê duyệt theo quy định.
Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quyết toán vốn đầu tư và gửi báo cáo quyết
toán vốn đầu tư cho người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư.
Đối với các dự án sử dụng vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng
thì người có thẩm quyề
n quyết định đầu tư đồng thời là người phê duyệt quyết
toán vốn đầu tư.
Trước khi quyết toán vốn đầu tư, tất cả các báo cáo quyết toán phải đựoc
tổ chức thẩm tra quyết toán. Tuỳ theo quyết định của người có thẩm quyền

+ Ngân sách nước ta còn hạn hẹp trong khi nhệm vụ chi lại rất nhều vì
vậy đặt ra yêu cầu phải quản lý NSNN để cân đối giữa nguồn thu và nhiệm vụ
chi, giữa các nội dung chi, chống thất thoát lãng phí nhằm mục tiêu sử dụng
Ngân sách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả.
- Xuất phát từ tính chât của vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng:
Vốn sự nghi
ệp có tính chất đầu tư xây dựng cũng là một bộ phận của chi
NSNN. Nó được chi cho mục đích đầu tư và xây dựng, một loại chi phức tạp
và hiện nay đang tồn tại nhiều vấn đề trong quản lý. Vì vậy dù có quy mô
không lớn nhưng vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng cần được quản
lý chặt chẽ để bảo đảm vốn được sử
dụng đúng mục đích, có hiệu quả đồng
Luận văn cuối khoá Học viện tài chính
Nguyễn Thanh Thơ - K40/01.02
20
thời phải bảo đảm kế hoạch Ngân sách, cân đối thu chi Ngân sách, chống thất
thoát, lãng phí, tham ô.
- Xuất phát từ đặc trưng của các đơn vị HCSN:
Đối tượng sử dụng vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng là các
đơn vị HCSN. Đặc trưng cơ bản của các đơn vị HCSN là được trang trải các
chi phí hoạt động và thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao bằng nguồn kinh
phí từ ngân quỹ Nhà nước hoặc từ công quỹ theo nguyên tắc không bồi hoàn
trực tiếp. Điều đó đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ chi HCSN, trong đó có chi
vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng để kiinh phí cấp phát cho các đơn
vị HCSN được sử dụng đúng mục đích, đúng dự đoán đã phê duyệt theo
nguồn kinh phí, theo nội dung chi tiêu, đúng tiêu chuẩn, định mức.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN SỰ NGHIỆP

trương đầu tư phát tri
ển trong từng thời kỳ và trong từng năm kế hoạch, phân
bố vốn đầu tư cho từng dự án do tỉnh (huyện) quản lý.
Sau khi được chính phủ giao Ngân sách, các Bộ và UBND các tỉnh phân
bố vốn đầu tư cho từng dự án thuộc phạm vi quản lý và gửi kế hoạch vốn đầu
tư cho Bộ Tài chính để kiểm tra. Căn cứ để phân bố và kiểm tra là:
- Việc đảm bảo các đi
ều kiện của dự án được bố trí kế hoạch vốn đầu tư.
- Sự khớp đúng với chỉ tiêu do chính phủ giao về tổng mức đầu tư, cơ
cấu vốn trong nước, vốn ngoài nước, cơ cấu ngành kinh tế, mức vốn các dự án
quan trọng.
- Sự tuân thủ các nguyên tắc bố trí kế hoạch; các dự án đầu tư phải có
quyết định đầu t
ư vào thời điểm tháng 10 về trước của năm trước năm kế
hoạch; các dự án nhóm B, nhóm C phải bố trí đủ vốn để thực hiện dự án theo
quy định của Chính phủ.
Sau khi kiểm tra, nếu kế hoạch đã triển khai chưa đảm bảo các yêu cầu
trên đây thì Bộ Tài chính có văn bản đề nghị điều chỉnh lại. Trường hợp các
Bộ và UBND tỉnh không
điều chỉnh lại hoặc đã điều chỉnh nhưng vẫn không
đúng quy định, Bộ Tài chính có văn bản báo cáo Chính phủ quyết định, đồng
Luận văn cuối khoá Học viện tài chính
Nguyễn Thanh Thơ - K40/01.02
22
thời cơ quan Tài chính chưa chuyển vốn sang Kho bạc Nhà nước để thanh
toán.
Sở Tài chính (hoặc phòng Tài chính huyện) rà soát danh mục dự án được
bố trí trong kế hoạch đầu tư xây dựng của địa phương theo các điểm quy định
trên đây. Trường hợp kế hoạch đã triển khai chưa đảm bảo các quy định, Sở
Tài chính (hoặc phòng Tài chính huyện) phải có văn bản báo cáo UBND tỉnh

giá trị thực hiện trong quý; nhu cầu vốn tạm ứng và vốn thanh toán trong quý.
Việc quản lý theo kế hoạch đối với vốn sự nghiệp có tính đầu tư xây
dựng cũng áp dụng như đối với các khoản chi thường xuyên khác.
Căn cứ vào dự toán NSNN năm được thông báo, chủ đầu tư lậ
p kế hoạch
chi hàng quý gửi Kho bạc Nhà nước nơi chủ đầu tư trực tiếp giao dịch để làm
căn cứ kiểm soát, thanh toán.
Căn cứ vào kế hoạch vốn đầu tư năm và khả năng Ngân sách, cơ quan
Tài chính có trách nhiệm bố trí mức chi hàng quý và thông báo cho Kho bạc
Nhà nước; căn cứ vào nhu cầu vốn thanh toán, chuyển vốn kịp thời ch Kho
bạc Nhà nước để thanh toán cho các dự án.
2.1.2. Quản lý việc thanh toán v
ốn
2.1.2.1. Điều kiện để thanh toán vốn sự nghiệp có tính chất xây dựng
- Có báo cáo nghiên cứu khả thi (hoặc báo cáo đầu tư) và quyết định đầu
tư.
- Có văn bản phê duyệt kết quả đấu thầu (đối với gói thầu tổ chức đấu
thầu) hoặc quyết định phê duyệt thiết kế dự toán (đối với gói thầu chỉ định
thầu)
- Có hợp
đồng giao viẹc hoặc hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tư và người
nhận thầu.
- Được bố trí trong dự toán NSNN năm.
2.1.2.2. Tạm ứng và thu hồi vốn tạm ứng
Đối tượng được tam ứng vốn:
- Dự án đầu tư tổ chức đấu thầu theo hợp đồng chìa khoá trao tay.
(Thông tư 44/2003/TT-BTC ngày 15/5/2003 sửa đổi là: các dự án hoặ gói
thầu thực hiện theo hình thức chìa khoá trao tay thông qua hợp đồ
ng EPC.)
- Các gói thầu xây lắp tổ chức đấu thầu. (Thông tư 44/2003/TT-BTC

toán và khối lượng công việc đó.
- Trường hợ
p hết niên độ kế hoạch mà vốn tạm ứng chưa thu hồi xong
hết do gói thầu chưa được thanh toán đạt đến tỷ lệ quy định thì tiếp tục thu hồi
trong kế hoạch năm sau và không trừ vào kế hoạch vốn của năm sau.
Trường hợp vốn tạm ứng chưa thu hồi hết do gói thầu chưa được thanh
toán đến tỷ lệ nhưng dự án không được ghi tiếp k
ế hoạch hoặc bị đình chỉ thi
công, chủ đầu tư phải giải trình với KBNN về tình hình sử dụng vốn tạm ứng
chưa được thu hồi, đồng thời báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý.
Trường hợp đã được thanh toán vốn tạm ứng và thu hồi vốn tạm ứng
được thực hiện như trên (giống với vốn đầu tư XDCB).
Luận văn cuối khoá Học viện tài chính
Nguyễn Thanh Thơ - K40/01.02
25
- Các dự án có quy mô dưới 1 tỷ đồng được tạm ứng 50% kế hoạch năm
của dự án. Vốn tạm ứng được thu hồi dần vào từng kỳ thanh toán khối
lượng hoàn thành và thu hồi hết trong năm kế hoạch. Số vốn tạm ứng thu
hồi từng kỳ bằng số vốn thanh toán nhân với tỷ lệ tạm ứng.
2.1.2.3 Thanh toán khối lượng hoàn thành
Khối lượng xây l
ắp hoàn thành theo hình thức chỉ định thầu được thanh
toán là khối lượng thực hiện đã được nghiệm thu hàng tháng, theo hợp đồng,
có trong kế hoạch đầu tư được giao.
Khối lượng thiết bị hoàn thành được thanh toán là khối lượng thiết bị đã
nhập kho chủ đầu tư (đối với thiết bị không cần lắp), hoặc đã lắp đặt xong và
nghiệm thu (đối với thiết b
ị cần lắp đặt).
Khối lượng công tác tư vấn hoàn thành đựơc thanh toán là khối lượng
thực hiện được nghiệm thu phù hợp vơí hợp đồng kinh tế và có trong kế

được nghiệm thu, chủ đầu tư lập hồ sơ đề nghị thanh toán gửi KBNN bao
gồm biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành, bảng tính chi tiết giá trị
khối lượng thanh toán, phiếu giá hoặc bảng kê (đối với các khoản chi phí khác
không dùng phiếu giá) và chứng từ thanh toán
Căn cứ vào hạn mức kinh phí do cơ quan Tài chính cấp, KBNN kiểm
soát thanh toán cho đơn vị thu hưởng và thu hồi số vố
n đã tạm ứng nếu có.
Số cấp tạm ứng chỉ là một khoản ứng trước, không được ghi vào chi
NSNN. Số thanh toán khối lượng hoàn thành mới là số cấp phát chính thức.
Luận văn cuối khoá Học viện tài chính
Nguyễn Thanh Thơ - K40/01.02
27
SƠ ĐỒ TỔNG THỂ
VỀ QUY TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH VỐN VÀ THANH TOÁN VỐN
ĐẦU TƯ CHO CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ DO ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ.

Trích đoạn Đỏnh giỏ chung về những quy định phỏp lý về quản lý vốn sự nghiệp cú tớnh chất đầu tư xõy dựng. Phõn cụng, phõn cấp quản lý vốn sự nghiệpcú tớnh chất đầu tư XD đối với cỏc Sở, Ban, Ngành của thành phố Hà Nội hiện nay. Tỡnh hỡnh thực hiện vốn sự nghiệpcú tớnh chất đầu tư XD trong những năm qua. Những ưu điểm Những hạn chế cũn tồn tại.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status