z
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG HUY
ĐỘNG VỐN TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI
NHNO&PTNT THĂNG LONG
Giáo viên hướng dẫn
Giáo viên hướng dẫn
:
:
Sinh viên thực hiện
Sinh viên thực hiện
: Bùi Thị Thanh Huyền
: Bùi Thị Thanh Huyền
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
- 1 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................
...................................................................................................................................
CHƯƠNG I..............................................................................................................
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TRUNG VÀ
DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ..................................................
I. Tổng quan về NHTM..........................................................................................................6
1.1. Khái niệm NHTM...............................................................................
1.2. Chức năng của NHTM........................................................................
1.2.1. Chức năng trung gian tài chính............................................................................6
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI
NHNo&PTNT THĂNG LONG............................................................................
1. Tổng quan về NHNo&PTNT Thăng long........................................................................28
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của NHNo&PTNT Thăng
Long...................................................................................................
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
- 2 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh NHNo&PTNT
Thăng Long qua các năm 2004, 2005................................................
1.2.1. Hoạt động huy động vốn...................................................................................29
1.2.2. Tình hình sử dụng vốn:......................................................................................31
1.2.3. Các dịch vụ ngân hàng cung cấp:......................................................................33
1.3. Đánh giá kết quả kinh doanh năm 2005............................................
2. Thực trạng huy động vốn trung và dài hạn tại NHNo&PTNT Thăng Long...................36
2.1. Tình hình kinh tế xã hội ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn
trung và dài hạn của Ngân hàng.........................................................
2.2. Tình hình huy động vốn trung và dài hạn (T&D hạn) tại Ngân
hàng....................................................................................................
2.2.1. Tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức tín dụng...........................................................40
2.2.2. Tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức kinh tế..............................................................41
2.2.3. Tiền gửi có kỳ hạn của dân cư và Tiết kiệm bậc thang.....................................43
2.2.4. Giấy tờ có giá.....................................................................................................45
2.2.5. Tiền vay tổ chức tín dụng bằng 12 tháng..........................................................47
2.3. Chi phí huy động vốn........................................................................
2.4. Đánh giá hoạt động huy động vốn trung và dài hạn tại
NHNo&PTNT Thăng Long...............................................................
2.4.1. Những thành quả đạt được và nguyên nhân......................................................50
2.4.2. Những mặt hạn chế và nguyên nhân..................................................................51
CHƯƠNG III.........................................................................................................
để huy động vào; đồng thời muốn cho vay và huy động vốn tốt thì ngân hàng
phải làm tốt nghiệp vụ môi giới trung gian của mình.
Sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước,
ngành Ngân hàng đã có nhiều chuyển biến tích cực và thực sự trở thành kênh
dẫn vốn chủ yếu, huy động và cung ứng vốn phục vụ cho sự nghiệp phát triển
kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự tăng
trưởng nhanh của nền kinh tế, nhu cầu về vốn của nền kinh tế luôn ở mức cao
buộc các NHTM phải tăng cường huy động vốn và tăng khối lượng tín dụng
cho các doanh nghiệp. Nguồn vốn trung và dài hạn đóng vai trò quyết định
trong việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và trong tình hình hiện nay thì
gánh nặng cung cấp nguồn vốn này vẫn đặt trên vai hệ thống các NHTM.
Trong điều kiện thị trường tài chính còn sơ khai như vậy, để đáp ứng nhu cầu
vốn trung, dài hạn cho đầu tư phát triển, phù hợp với thị trường vốn Việt Nam
thời gian tới, giải pháp phát triển thị trường vốn cần thực hiện theo các hướng
tăng cường huy động vốn trung, dài hạn thông qua hệ thống Ngân hàng
Thương mại.
Vậy làm thế nào để huy động, khai thác hết mọi nguồn vốn tiềm tàng
trong dân cư, trong các tổ chức kinh tế để đáp ứng nhu cầu vốn của xã hội,
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
- 4 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
đồng thời mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh là vấn đề bức thiết đối với
những NHTM nói chung mà đối với NHNo&PTNT Thăng Long nói riêng. Vì
vậy, em chọn đề tài: “Tăng cường khả năng huy động vốn trung và dài
hạn tại NHNo&PTNT Thăng Long” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của
mình.
Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động huy động vốn trung và dài hạn
của Ngân hàng Thương mại.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn trung và dài hạn tại NHNo&PTNT
NHTM là cầu nối giữa cung vốn và cầu vốn. Nó tập trung những nguồn
tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để tài trợ lại cho nền kinh tế. NHTM với vai
trò là trung gian tài chính đứng ra tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, điều
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
- 6 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
hoà cung và cầu vốn trong các doanh nghiệp của nền kinh tế, đã góp phần
điều tiết các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp không bị gián đoạn. Trung gian tài chính đã làm tăng thu
nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảm
tín dụng cho người đầu tư, từ đó mà khuyến khích đầu tư.
1.2.2. Trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết
các quốc gia. Thay mặt khách hàng, Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị
hàng hoá dịch vụ, thu hộ tiền, thanh toán hộ khách hàng. Quá trình lưu thông
chuyển vốn từ tài khoản người mua sang tài khoản người bán có một đặc
điểm phi vật chất, vì không giống như tiền giấy được chuyển từ tay người này
thực sự sang tay người khác mà chính là đồng tiền ghi sổ, góp phần thích ứng
với các nhu cầu giao dịch.
Hiện nay, các loại phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt: séc, uỷ
nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, L/C, thẻ thanh toán, cung cấp mạng lưới thanh toán
điện tử.
Các trung tâm thanh toán không chỉ trong phạm vi quốc gia mà vươn ra
tầm quốc tế đã làm tăng tính hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến
ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ
đắc lực cho nền kinh tế.
1.2.3. Chức năng tạo tiền (tạo phương tiện thanh toán).
Khi Ngân hàng thực hiện chức năng thứ nhất và thứ hai cũng là đang
thực hiện chức năng tạo tiền.
Quá trình tạo tiền của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín
doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng khi sử dụng vốn sao cho mang lại hiệu
quả cao nhất.
Trong quá trình đổi mới, hệ thống ngân hàng có tầm quan trọng đặc
biệt, là kênh cơ bản cung ứng vốn cho nền kinh tế để thực hiện các chỉ tiêu vĩ
mô của nền kinh tế. Ngoài cho vay thương mại đối với các tổ chức và cá
nhân, hệ thống ngân hàng còn là nguồn tài chính quan trọng để thực hiện các
chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ như cho vay đối với hộ nghèo,
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
- 8 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
vùng sâu, vùng xa, góp phần hạn chế đáng kể sự chênh lệch phát triển giữa
các nhóm thu nhập và giữa các vùng trong nước, từng bước chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa.
Cùng với các nghiệp vụ kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng và tiền tệ,
NHTM còn thực hiện cung cấp các dịch vụ trung gian, không những góp phần
tăng thêm thu nhập cho Ngân hàng mà còn giúp các chủ thể tham gia thanh
toán, tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian, đồng thời giúp doanh nghiệp thu
hồi tiền bán hàng nhanh để tiếp tục quá trình luân chuyển vốn tiếp theo, tạo
thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp, đảm bảo an toàn, đẩy nhanh tốc
độ lưu chuyển vốn, góp phần tạo nên “văn minh tiền tệ” cho xã hội.
1.3.2. Vai trò góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô.
Chính sách tiền tệ là loại công cụ của chính sách can thiệp bằng kinh tế,
dựa trên bản thân cơ chế thị trường và các quy luật vận động của nó. Nhưng
Ngân hàng Nhà nước không trực tiếp giao dịch với công chúng, do đó phải
dựa vào thông tin phản hồi từ các định chế tài chính trung gian để làm căn cứ
soạn thảo chính sách tiền tệ. Như vậy, rõ ràng là nếu không có hệ thống
NHTM hoàn chỉnh, không có thông tin phản hồi do hệ thống NHTM cung
cấp, thì việc hoạch định chiến lược và soạn thảo chính sách tiền tệ của Ngân
hàng nhà nước sẽ không hoàn hảo.
Chính sách tiền tệ được thiết kế và khởi động từ NHNN lan ra đến mọi
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM,
phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Trong hoạt động tín dụng, mục
tiêu chủ yếu của ngân hàng là kiếm được lợi nhuận, trên cơ sở phục vụ các
nhu cầu tín dụng của cộng đồng.
NH cung cấp cho các đối tác những điều kiện cần thiết để họ thực hiện
các hoạt động theo mục tiêu của họ và trên cơ sở đó tìm kiếm thu nhập. Đối
tác của NH có thể là: các doanh nghiệp, các hộ gia đình, chính phủ…có nhu
cầu sẽ nhận được sự tài trợ của ngân hàng nếu đáp ứng được đầy đủ các yêu
cầu của ngân hàng.
Mối quan hệ giữa NHTM, người gửi tiền và người đi vay đều dựa vào
long tin của nhau để giải quyết tình trạng thừa hay thiếu vốn của các chủ thể
nêu trên.
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
- 10 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Các hình thức tài trợ: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, tài trợ cho
các dự án…Cho vay thương mại: ngân hàng có thể thực hiện chiết khấu
thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với người bán hoặc cho vay trực tiếp
đối với khách hàng là người mua. Cho vay tiêu dùng: sự gia tăng thu nhập của
người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã hướng các ngân hàng tới
người tiêu dùng như là khách hàng tiềm năng. Tài trợ cho các dự án: bên cạnh
việc cho vay ngắn hạn, ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài
trợ trung, dài hạn. Tài trợ xây dựng nhà máy, phát triển công nghệ cao, cho
vay bất động sản…
1.4.3. Thực hiện các dịch vụ ngân hàng.
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: các tiện ích
của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết
kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập
cho khách hàng.
- Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn: các cá nhân và doanh nghiệp nhờ
trong thời gian dài (từ 12 tháng trở lên) để tài trợ cho các dự án trung và dài
hạn. Tuy nhiên, hầu hết các NHTM Việt Nam hiện nay nguồn vốn này chưa
đáp ứng được nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế.
Phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối tài khoản của NHTM.
Vốn tự có: để bắt đầu hoạt động NH thì chủ ngân hàng phải có lượng vốn
nhất định. Đây là loại vốn NH có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang
thiết bị nhà cửa và được bổ sung trong quá trình hoạt động từ các nguồn lợi
nhuận chưa phân phối, trích lập các quỹ, từ NSNN cấp bổ sung hoặc phát
hành thêm cổ phiếu.
Tiền gửi của khách hàng: là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của
NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Để gia tăng
tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để các chất lượng ngày càng cao, các
NH đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau : tiền gửi thanh
toán; tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội; tiền gửi tiết
kiệm của dân cư; tiền gửi của các NH khác.
Tiền vay: NH vào những giai đoạn cụ thể phải đi vay để đáp ứng nhu cầu
cho vay và đầu tư khi khả năng huy động bị hạn chế. Nguồn đi vay có thể vay
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
- 12 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
NHNN, vay các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường tiền tệ, thị trường
vốn.
Vốn nợ khác bao gồm: nguồn uỷ thác được hình thành khi ngân hàng
thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp
phát, uỷ thác giải ngân; các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể
hình thành nguồn trong thanh toán; các khoản nợ khác như thuế chưa nộp,
lương chưa trả….
2.2. Vai trò của nguồn vốn trung và dài hạn.
2.2.1. Đối với nền kinh tế.
Thực tiễn các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy nhân tố
cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể xã hội tham gia đầu tư xây dựng là một
giải pháp hiệu quả và bền vững.
2.2.2. Đối với NHTM.
Là một doanh nghiệp kinh doanh đồng vốn, NHTM luôn tìm cách tối đa
hoá lợi nhuận. NHTM kiếm lợi nhuận bằng cách đi vay và cho vay. Huy động
vốn và cấp tín dụng là hai nghiệp vụ luôn được tiến hành đồng thời và diễn ra
liên tục trong hoạt động của NH. Để đảm bảo an toàn, thông thường cho vay
ở kỳ hạn nào phải dùng nguồn vốn có kỳ hạn đó tương ứng. Việc các NH có
huy động được vốn hay không, đặc biệt là vốn trung và dài hạn quyết định
khả năng cho vay của NH, do đó đồng thời quyết định đến lợi nhuận hay hiệu
quả hoạt động của NH.
Nguồn vốn trung và dài hạn góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của
ngân hàng với các ngân hàng khác. Một ngân hàng có nguồn vốn trung và dài
hạn dồi dào đồng nghĩa với việc có một quy mô vốn lớn, khả năng thanh toán
cao, sẽ giúp NH mở rộng quan hệ tín dụng, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ,
thoả mãn nhu cầu vốn của khác hàng, nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị
trường.
Trong điều kiện nước ta hiện nay thị trường chứng khoán chưa phát triển
trong khi nhu cầu vốn cho đầu tư ngày càng lớn thì NHTM vẫn là kênh dẫn
vốn chủ yếu đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Tín dụng
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
- 14 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
ngân hàng là kênh cung ứng vốn cho chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế
ở nước ta trong suốt 20 năm qua. Dư nợ tín dụng ngân hàng tăng trung bình
khoảng 25%/năm và hiện chiếm khoảng 50% GDP. Có được điều đó, hệ
thống NHTM Việt Nam đã sử dụng mọi biện pháp nhằm huy động nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân cư để tài trợ lại nền kinh tế. Vì vậy, nhờ nguồn vốn trung
và dài hạn huy động được mà ngân hàng đã thực hiện tốt chức năng của mình.
2.3. Hoạt động huy động vốn trung và dài hạn của NHTM.
Tiền gửi có kì hạn được hưởng lãi suất cố định. Tuy nhiên, giữa các loại
tiền gửi có kỳ hạn khác nhau lãi suất được trả sẽ khác nhau. Tiền gửi có kì
hạn với thời gian càng lâu lãi suất sẽ càng lớn bởi thời gian càng dài thì rủi ro
sẽ càng tăng lên mà trước hết là ảnh hưởng của lạm phát. Lãi suất mà NH trả
cho tiền gửi có kỳ hạn thường cao hơn nhiều so với tiền gửi không kì hạn. Lí
do ở đây là NH có thể sử dụng để cho vay với thời hạn ổn định và kiếm được
nhiều lợi nhuận hơn. Vì thế tiền thù lao trả cho khách hàng cũng phải cao hơn
để kích thích sự gửi tiền nhiều nữa.
Khác với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi định kỳ là tiền tạm thời nhàn
rỗi hoặc tiền để dành của cá nhân, vì vậy, mục đích gửi tiền vào NH nhằm
kiếm thu nhập. Tiền gửi có kỳ hạn thường phụ thuộc các yếu tố như: lãi suất
do các NHTM trả cao hay thấp, lãi suất của các loại hình đầu tư khác như cổ
phiếu, trái phiếu, thu nhập của nhân dân, tình hình kinh tế xã hội… Thông số
đầu tiên là quan trọng nhất. Vì thế việc đưa ra chiến lược lãi suất như thế nào
để thu hút được vốn nhiều và kinh doanh có lãi là điều quan trọng hàng đầu,
phản ánh được khả năng quản trị của các NHTM.
Các NHTM Việt Nam hiện nay, bên cạnh việc huy động tiền gửi trung
và dài hạn thông thường, các NH còn đưa ra một số loại hình tiền gửi tiết
kiệm trung và dài hạn hấp dẫn khác:
- Tiền gửi tiết kiệm bậc thang: Đây là hình thức tiền gửi tiết kiệm hưởng lãi
bậc thang theo thời gian gửi. Khách hàng gửi tiền một lần vào sổ tiết kiệm
nhưng có thể rút gốc nhiều lần. Khi rút tiền gốc (một phần hay toàn bộ) ngân
hàng sẽ tính trả tiền lãi tương ứng với số tiền gốc đó theo bậc lãi suất quy định.
- Tiền gửi tiết kiệm gửi góp: Trong kỳ hạn gửi góp khách hàng phải gửi
đều đặn theo định kỳ. Hình thức này áp dụng với các khách hàng có khoản
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
- 16 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
thu nhập thuờng xuyên đều đặn. Căn cứ vào tình hình cụ thể trên địa bàn mà
ngân hàng có thể huy động tiết kiệm gửi góp với tên gọi phù hợp: Tiết kiệm
phát hành giấy nợ trung và dài hạn khi tiền gửi không đáp ứng được yêu cầu
như ổn định, qui mô đủ lớn trong khoảng thời gian xác định.
Kỳ phiếu: Đây là loại công cụ nợ do NH phát hành theo từng đợt nhằm
huy động vốn trong dân cư một cách linh hoạt. Bản chất của kỳ phiếu là một
công cụ nợ ngắn hạn nhưng trong thực tế các NHTM Việt Nam hiện nay hầu
hết đều dùng kỳ phiếu để huy động cả vốn ngắn hạn và vốn trung, dài hạn.
Trái phiếu: trái phiếu NH là một công cụ vay nợ trung và dài hạn trên thị
trường dưới hình thức giấy nhận nợ do ngân hàng phát hành trong đó ngân
hàng cam kết thanh toán tiền gốc vào ngày đáo hạn và thanh toán tiền lãi vào
những ngày xác định với mức lãi suất tương ứng.
Có các loại trái phiếu: Trái phiếu ghi danh, trái phiếu vô danh, trái phiếu
ghi sổ.
Phát hành trái phiếu NH là một trong những hình thức vay vốn trung và
dài hạn có nhiều ưu điểm hấp dẫn cho cả người mua và NH do vậy được
nhiều NH sử dụng. Các NHTM có thể chủ động và linh hoạt trong việc lựa
chọn loại trái phiếu, quy mô, kỳ hạn cũng như mức lãi suất chi trả, phương
thức thanh toán. Còn đối với người mua thì có thể chuyển nhượng trên thị
trường chứng khoán, chiết khấu. Ở Việt Nam, trái phiếu thường được phát
hành với kỳ hạn 1 đến 5 năm và lãi suất có thể trả trước hoặc trả sau.
Chứng chỉ tiền gửi dài hạn: là loại phiếu nợ do NH phát hành xác nhận
khoản nợ của NH với khách hàng. So với tiền gửi có cùng kỳ hạn thì lãi suất
trả cho người mua chứng chỉ tiền gửi thường cao hơn và thường có 2 loại lãi
suất là lãi suất cố định và lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kỳ. Phương
thức trả lãi cung rất linh hoạt nhằm thu hút người mua.
2.3.4. Vốn nhận uỷ thác:
NH thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư,
uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân. Ví dụ như NHNo&PTNT cho vay uỷ thác
hộ cho Nhà nước đối với một số dự án trồng rừng với nguồn Ngân sách hoặc
vốn ODA.
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
- 19 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Xác định lãi suất huy động dựa trên tỷ lệ lạm phát và thu nhập kỳ vọng
của người gửi tiền
Việc xác định lãi suất huy động theo cách này thông thường được áp
dụng đối với nguồn huy động T&D hạn Do có thời hạn dài nên những khoản
tiền huy động T&D hạn phải có lãi suất huy động lớn hơn tỷ lệ lạm phát và
đảm bảo tỷ lệ sinh lời lớn hơn các hoạt động đầu tư khác và những tiện ích
mà người gửi hy vọng nhận được từ ngân hàng thì mới thu hút được người
dân gửi tiền vào ngân hàng với kỳ hạn dài.
Xác định chi phí huy động vốn bình quân
Chi phí trả lãi
bình quân
=
Chi phí trả lãi
Tổng vốn đi vay và tiền gửi
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất. Phương pháp này chú
trọng vào cơ cấu hỗn hợp các nguồn vốn mà ngân hàng đã huy động được
trong quá khứ và xem xét lãi suất mà ngân hàng phải trả cho mỗi nguồn huy
động. Từ việc xác định chi phí trả lãi bình quân, ngân hàng phải kiếm được
tỷ suất lợi nhuận sinh lời từ các khoán cho vay và đầu tư phải ít nhất là bằng
mới đủ bù đắp được chi phí lãi phải trả cho nguồn vốn đã huy động.
Phương pháp này có ưu điểm là dơn giản, dễ xác định nhưng nó vẫn có
một số những nhược điểm như: Nó không bao gồm các chi phí liên quan đến
huy động vốn như: quản cáo, khuyến mại; thiếu độ tin cậy nếu muốn sử dụng
làm cơ sở quyết định lựa chọn huy động loại hình nguồn vốn nào; hơn nữa
đây là phương pháp chỉ nhìn về quá khứ trong khi các nhà quản trị ngân hàng
còn cần phải hướng về tương lai. Do đó phương pháp chi phí huy động vốn
biên nhằm khác phục nhược điểm của phương pháp này.
Khi tiến hành phương pháp này phải đảm bảo nguyên tắc:
- Giá cá biệt phải phản ánh chất lượng sản phẩm cá biệt của ngân hàng
- Giá cá biệt phải đảm bảo tăng thu nhập cho ngân hàng.
Với mục tiêu thu hút khách hàng, ngân hàng tiến hành định giá tiền gửi
theo số lượng dịch vụ hoặc số dư tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng. Với
các khách hàng lớn, khách hàng truyền thống, khách hàng an toàn thì sẽ áp
dụng lãi suất và phí sử dụng vốn thấp hoặc lãi suất tiền gửi cao. Do những
khách hàng này không làm tăng chi phí phân tích tín dụng, có quy mô tiền gửi
lớn hoặc quy mô vay lớn do đó có chi phí trên một đơn vị tiền gửi, tiền vay
thấp.
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
- 21 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
Ưu điểm của phương pháp này là đã tính đến sự riêng biệt của mỗi khách
hàng khi sử dụng sản phẩm, tính riêng biệt của thị trường có tác dụng thu hút
khách hàng lớn, an toàn, tạo mối quan hệ lâu dài, tăng tính cạnh tranh của
ngân hàng với các ngân hàng khác. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi công
tác thống kê của ngân hàng phải chính xác và chi tiết, đồng thời cũng hạn chế
lôi cuốn các khách hàng khác vì sự phân biệt về giá.
Chi phí huy động khác
Chi phí huy động khác rất da dạng và không ngừng gia tăng trong điều
kiện các ngân hàng cạnh tranh phi lãi suất. Nó bao gồm chi phí trả trực tiếp
cho người gửi tiền (quà tặng, quay số trúng thưởng, bảo hiểm…), chi phí tăng
tính tiện ích cho người gửi tiền (mở chi nhánh, quầy giao dịch, trang bị thêm
máy đếm tiền, soi tiền cho khách kiểm tra, huy động tại nhà, tại cơ quan…),
chi phí lương cho cán bộ phòng nguồn vốn, chi phí bảo hiểm tiền gửi.
2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn trung và dài
hạn của NHTM.
Huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng nhất của
NHTM. Trong đó, việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến công tác
từng thời kỳ sẽ ảnh hưởng đến phương thức huy động vốn của ngân hàng.
Đứng trước thực trạng nhu cầu vốn cho phát triển là rất lớn trong khi ngân
hàng là địa chỉ cung cấp vốn chủ yếu cho các thành phần kinh tế, do đó, các
NHTM hiện nay có xu hướng muốn mở rộng hoạt động huy động vốn, hướng
tới cơ cấu huy động với kỳ hạn dài nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ổn định và lâu
dài của nền kinh tế. Ngân hàng thực hiện mục tiêu này bằng cách tìm kiếm
các nguồn vốn có chi phí thấp, đa dạng hoá các hình thức huy động về lãi
suất, kỳ hạn, phương thức trả lãi, mở rộng mạng lưới giao dịch để dễ dàng
tiếp cận với khách hàng.
Tiềm lực tài chính của NH: Tiềm lực tài chính thể hiện trước hết ở quy
mô vốn tự có và đây là nhân tố quyết định trực tiếp đến quy mô huy động vốn
của NH. Để đảm bảo an toàn, NHNN thường giới hạn quy mô huy động vốn
của các NHTM dựa trên vốn tự có, do đó, NH nào có vốn tự có càng lớn thì
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
- 23 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Ngân hàng - Tài chính
lượng vốn được phép huy động càng lớn. Một ngân hàng có vốn tự có lớn
chứng tỏ tiềm lực tài chính của ngân hàng mạnh và từ đó ngân hàng càng có
khả năng huy động được nguồn vốn lớn hơn.
Các ngân hàng hiện nay đứng trước thách thức phải tăng vốn điều lệ khi
Việt Nam chính thức gia nhập WTO, đặc biệt là với bốn NHTM quốc doanh
thì một giải pháp được coi là hữu hiệu nhất đó là đẩy nhanh tiến trình cổ phần
hoá trong thời gian tới nhằm tận dụng sức mạnh của công chúng, của tính ưu
việt mà khái niệm “cổ phần” đã mang lại cho chúng ta. Chỉ có cổ phần hoá,
dù là một phần, cũng góp phần làm vơi đi gánh nặng bao cấp về tài chính của
Nhà nước đối với các NHTM quốc doanh. Hơn nữa, cổ phần hoá, không
những góp phần tăng vốn điều lệ nhanh chóng tại các NHTM quốc doanh, mà
còn làm thay đổi diện mạo trong cung cách quản lý, điều hành của ngân hàng
theo hướng hiện đại.
Trình độ công nghệ ngân hàng: Hoạt động của NH gắn liền với sự phát
tượng tốt đối với khách hàng.
2.5.2. Nhân tố khách quan:
Tình hình nền kinh tế: Một nền kinh tế tăng trưởng hay suy thoái được
thể hiện thông qua các chỉ tiêu: tốc độ tăng trưởng, GDP, thu nhập bình quân
đầu người, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp. Ngành ngân hàng là một bộ phận
nằm trong nền kinh tế quốc dân, hơn nữa nó lại kinh doanh trong một lĩnh vực
hết sức nhạy cảm là tiền tệ, do vậy các hoạt động của NH chịu ảnh hưởng lớn
từ những biến động trong nền kinh tế. Nền kinh tế càng phát triển thì thu nhập
bình quân trên đầu người cao, làm tăng tiết kiệm dân cư, tạo ra sự an tâm của
công chúng sẽ kích thích người dân gửi tiền vào ngân hàng. Mặt khác, nền
kinh tế tăng trưởng cũng thúc đẩy các doanh nghịêp mở rộng sản xuất, tăng
đầu tư kéo theo nhu cầu vay vốn tăng theo, từ đó thúc đẩy ngân hàng tăng
cường huy động vốn. Tuy nhiên, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái,
thu nhập giảm, thất nghiệp tăng cao thì đồng nội tệ mất giá nhanh, người dân
không có thu nhập hoặc không muốn gửi tiền vào ngân hàng, các doanh
nghiệp phải thu hẹp sản xuất nên nhu cầu về tiền gửi và tín dụng cũng giảm
theo.
Bùi Thị Thanh Huyền Tài chính công 44
- 25 -