TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 40/2020
163
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC KĨ NĂNG
SỐNG, GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ
HỘI CHO KHỐI ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN KHOA SƯ PHẠM
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Tô Thị Quỳnh Giang
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội
Tóm tắt:: Để nâng cao chất lượng toàn diện nền giáo dục nói chung, cần giáo dục cho
học sinh kỹ năng sống, giáo dục môi trường và một số vấn đề xã hội để giúp cho học sinh
có nhận thức đúng và có khả năng ứng phó với những tình huống xảy ra trong cuộc
sống. Chính vì vậy, trong các trường đào tạo giáo viên cần trang bị cho sinh viên những
nội dung và phương pháp giáo dục thông qua một hay một số học phần trong chương
trình đào tạo, chúng tôi đề xuất học phần Giáo dục kỹ năng sống, giáo dục môi trường
và một số vấn đề xã hội.
Từ khóa: Giáo dục kỹ năng sống, giáo dục môi trường, vấn đề xã hội, chương trình đào tạo.
Nhận bài ngày 20.4.2020; gửi phản biện, chỉnh sửa, duyệt đăng ngày 15.5.2020
Liên hệ tác giả: Tô Thị Quỳnh Giang; Email:
1. MỞ ĐẦU
Thế giới đang tiến vào thế kỉ XXI, thế kỉ của sự bùng nổ thông tin và tạo ra sự thay đổi
nhanh chóng về mọi mặt trong nền kinh tế - xã hội. Vì vậy, xã hội hiện đại đã đặt ra những
nguy cơ mới cho con người nói chung và đặc biệt là trẻ em. Nhịp sống nhanh của xã hội
hiện đại làm cho gia đình không dành nhiều thời gian cho con cái như trước kia nữa, kết
quả là trẻ em ít nhận được sự chăm sóc và dạy bảo của bố mẹ. Thêm vào đó sự thay đổi
nhanh chóng của xã hội cũng làm cho các giá trị đạo đức, chuẩn mực xã hội cũng như
phong cách sống thay đổi nhanh chóng. Thực tế cho thấy trong xã hội hiện nay sự khác
biệt về cách suy nghĩ, cách sống và chuẩn mực giữa bố mẹ và con cái rất rõ rệt. Điều này
trước đây, người dân chưa được tiếp cận với những chương trình giáo dục kĩ năng sống
trong khi trẻ em phải đối mặt với những nguy cơ và thách thức trong xã hội. đòi hỏi trẻ em
được trang bị những kiến thức và kỹ năng sống để ứng phó hiệu quả. Báo cáo chỉ ra nhu
cầu lớn về việc phát triển các khái niệm cơ bản, xây dựng các chương trình giáo dục kỹ
năng sống dựa trên các khái niệm khoa học và đảm bảo các chương trình này được xây
dựng theo đào tạo hành vi (UNICEP Regional Office for South Asia, 2005).
Ở Việt Nam thuật ngữ “kỹ năng sống” xuất hiện vào những năm 1996 trong chương
trình can thiệp sức khỏe cho thanh thiếu niên. Từ đó cho đến nay rất nhiều các chương
trình kĩ năng sống ra đời, các chương trình này được phụ huynh và học sinh hưởng ứng, nó
phát triển mạnh mẽ trong trường học nhưng chủ yếu là về số lượng. Sự phát triển này thiếu
định hướng và có tính tự phát. Năm 2012 Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã đưa ra quyết
định cấm không cho các chương trình giáo dục kỹ năng sống chưa qua thẩm định được
triển khai trong nhà trường (N. Hùng, 2012).
Theo cách hiểu thông thường, kỹ năng sống là khả năng giải quyết các vấn đề, các
nhiệm vụ trong cuộc sống. Vì vậy có thể hiểu kỹ năng sống là những kỹ năng cần thiết để
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 40/2020
165
có thể tồn tại độc lập không phụ thuộc vào người khác. Quan niệm khác những kỹ năng
cần thiết trong tình huống khẩn cấp có thể hiểu là kỹ năng sống còn hay kỹ năng sinh tồn.
Theo Nguyễn Quang Uẩn cho rằng “Kỹ năng sống là một tổ hợp phức tạp của hệ thống các
kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham
gia cuộc sống hàng ngày có hiệu quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống”
(Nguyễn Quang Uẩn – 2008. P.3). Như vậy kĩ năng sống phản ánh năng lực sống và đặc
biệt quan trọng là những kĩ năng này giúp con người thực hiện công việc có kết quả.
Theo WHO, kỹ năng sống không phải là hành vi hoặc là khả năng thực hiện những
hành vi bất kì mà những hành vi đó phải là hành vi có tính tích cực hoặc có tính thích nghi.
166
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
- Làm giảm nguy cơ gặp các vấn đề về sức khỏe sinh sản như mang thai ngoài ý muốn,
mắc các bệnh lây truyền qu đường tình dục, HIV.
- Làm giảm nguy cơ bị bắt nạt cũng như bị bạn bè xa lánh.
- Giúp các em kiểm soát giận dữ tốt hơn.
- Giúp các em phát triển khả năng điều chỉnh về mặt xã hội và làm giảm nguy cơ mắc
các vấn đề cảm xúc.
- Nâng cao kết quả học tập
UNICEF (2012) trong báo cáo đánh giá hiệu quả các chương trình giáo dục kỹ năng
sống trên toàn cầu kết luận rằng các chương trình giáo dục kỹ năng sống có kết quả:
- Nâng cao hiểu biết về HIV, đặc biệt là các con đường lây truyền
- Thay đổi thái độ của trẻ với các nhóm thiểu số
- Giảm định kiến về giới ở cả trẻ em nam và nữ.
- Cải thiện vệ sinh cá nhân.
- Giảm áp lực nhóm và ảnh hưởng xã hội theo hướng xấu lên những hành vi không có
lợi cho sức khỏe.
- Nâng cao sự tự tin của học sinh.
- Tăng cường các mối quan hệ gia đình.
- Ảnh hưởng tốt đến giáo viên, đặc biệt là việc nâng cao khả năng kiên định, tự tin.
- Tăng cường tính chủ động tham gia.
- Nâng cao ý thức về môi trường, quan tâm nhiều hơn đến thế giới xung quanh.
Dưới góc độ quyền con người, trang bị kỹ năng sống sẽ giúp học sinh thực hiện quyền
của mình tốt hơn, các em tránh được những ảnh hưởng xấu từ xã hội để từ đó có thể phát
triển hết khả năng của mình
Về bản chất giáo dục kỹ năng sống là một bộ phận của giáo dục, cần coi trọng các định
hướng sau đây:
- Hướng vào nguyên nhân và kết quả của giáo dục kĩ năng sống
- Chuỗi thức ăn và lưới thức ăn thể hiện mối quan hệ của các loài sinh vật về mặt dinh
dưỡng. Trong tự nhiên, mỗi loài có một chức năng nhất định. Sự tồn tại của loài này giúp
duy trì hệ sinh thái ổn định tự nhiên, chúng ta gọi là cân bàng sinh thái. Sự thay đổi của
một loài làm ảnh hưởng đến loài khác cũng như toàn bộ môi trường (Hệ sinh thái).
c. Hệ sinh thái
Theo tài liệu Giáo dục môi trường: “Hệ sinh thái là một đơn vị gồm các loài sinh vật
và các yếu tố vô sinh của một khu vực nhất định có sự tác động qua lại, trao đổi chất với
nhau” hoặc “Hệ sinh thái là một hệ thống hoàn chỉnh, tương đối ổn định, bao gồm quần xã
và sinh cảnh của nó”
Hệ sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất,
nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu. Sự rối loạn bất ổn định ở khâu
nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng. Có những vấn đề nghiêm trọng mà
hệ sinh thái của Trái Đất đang phải đối diện đó là sự nóng lên toàn cầu, ô nhiễm môi
trường đất, nước, không khí, nước, tuyệt chủng các loài động vật quý hiếm.
d. Đa dạng sinh học
Theo công ước Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các
nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước và mọi tổ hợp
sinh thái mà chúng tạo nên; đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng di truyền (hay còn gọi là
đa dạng Gen), sự đa dạng các loài sinh vật (đa dạng loài) và đa dạng hệ sinh thái”
Hiện nay trên Trái Đất có khoảng 10 đến 30 triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật
khác nhau sinh sống trên hành tinh của chúng ta, chúng sống trên cạn, trong lòng đất, vùng
nước ngọt và biển khơi. Khoảng 2 triệu loài thực vật và động vật được biết tới và được mô
tả. Hàng năm các nhà khoa học phát hiện được khoảng 15.000 loài mới. Đa dạng sinh học
trên thế giới đạng bị đe dọa nghiêm trọng do hoạt động của con người.
168
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Các khí gây hiệu ứng nhà kính là CO2, CFC, Mê-tan,… chúng được gọi là khí nhà
kính. Ngày nay sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch làm cho nồng độ khí CO2 gia
tăng, cùng với đó các khí nhà kính trong khí quyển gia tăng làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng
lên. Dự báo, nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ Trái đất sẽ
tăng lên 1,5 - 4,5 oC vào năm 2050.
Hiệu ứng nhà kính dẫn đến biến đổi khí hậu và nhiều nguy cơ đối với môi trường và sức
khỏe của con người.
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 40/2020
169
d. Cạn kiệt tài nguyên
Trái Đất cung cấp những nguồn tài nguyên đa dạng và cầ thiết cho con người. Nhưng
con người đã sử dụng chúng một cách bừa bãi dẫn đến tình trạng cạn kiệt tài nguyên một
cách nghiêm trọng. Biểu hiện rõ nhất là tình trạng thiếu nước sạch, trong tương lai gần là
sự cạn kiệt dầu mỏ, khí đốt tự nhiên, than và nhiều tài nguyên khác.
e. Suy giảm đa dạng sinh học
Theo báo cáo Hành tinh sống 2014 của Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên ngày
30/9/2014 số lượng quần thể của các loài cá, chim, động vật có vú, các loài lưỡng cư và bò
sát đã giảm đi 52% trong vòng 40 năm qua. Suy thoái đa dạng sinh học dẫn đến mất cân
bằng sinh thái ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người, đe dọa sự phát triển
bền vững của Trái Đất.
2.3. Một số vấn đề xã hội hiện nay
2.3.1. Các vấn đề xã hội hay gặp ở trường học
a. Bắt nạt. Bắt nạt là hiện tượng thường gặp trong các nhà trường. Một người bị bắt nạt
là khi người khác (một người hay một nhóm người) có những hành vi lời nói làm tổn
thương, gây hại người đó. Bắt nạt cũng xảy ra khi bạn ấy bị trêu ác ý và lặp lại nhiều lần.
Khi bị bắt nạt, người bị bắt nạt cảm thấy rất khó bảo vệ mình, để dừng hành vi bắt nạt lại
đại. Tình trạng này chưa phải là nghiện, nhưng nó là dấu hiệu cảnh báo sớm cho chúng ta
biết. Những điều mà giới trẻ hay nghiện là sử dụng điện thoại chơi game, nghiện internet,
nghiện thuốc lá, nghiện ma túy,… Có thể thấy những tác hại khi nghiện game:
- Khi sử dụng máy tính/internet thường không ý thức được về thời gian hoặc thường
xuyên thấy mình chơi quá thời gian dự định
- Không hoàn thành bài tập và nhiệm vụ ở nhà cũng như ở trường
- Tách biệt với gia đình và bạn bè, ít giao tiếp, ít bày tỏ xúc cảm tình cảm.
- Cảm thấy tội lỗi, buồn hoặc ân hận vì mức độ sử dụng máy tính/ internet của mình
- Phụ thuộc tâm lý vào internet/ máy tính: Cảm thấy sung sướng, hạnh phúc khi được
sử dụng máy tính. Mỗi khi có khó khăn trong cuộc sống là muốn tìm đến internet/ máy tính
để cảm thấy vui vẻ hạnh phúc, để quên đi vấn đề của mình.
Phòng ngừa với nghiện bằng cách nâng cao khả năng ý thức về hành vi của bản thân, ý
thức về ảnh hưởng của nghiện đến cuộc sống của bản thân, xây dựng những kỹ năng ứng
phó tích cực, xây dựng mối quan hệ xã hội lành mạnh, tích cực.
2.3.2. Kĩ năng ứng phó các vấn đề xã hội
Kĩ năng ứng phó các vấn đề xã hội bao gồm: Kỹ năng kiên định – nói không với nhóm
bạn; Kỹ năng kiên định bảo vệ ý kiến của bản thân; Kỹ năng thương lượng – giải quyết
mâu thuẫn theo hương thức thương lượng; Kỹ năng đặt ra giới hạn phù hộ cho mình; Kỹ
năng tìm kiếm sự trợ giúp; Kỹ năng chọn bạn phù hợp
2.4. Xây dựng chương trình Giáo dục kĩ năng sống, giáo dục môi trường và một số
vấn đề xã hội
Dựa trên cơ sở nghiên cứu một số chương trình đào tạo và thực tiễn đào tạo và nghiên
cứu về giáo dục kỹ năng sống, chúng tôi phác họa ra chương trình Giáo dục kỹ năng sống,
giáo dục môi trường và một số vấn đề xã hội.
1. Tên chương trình: Giáo dục kỹ năng sống, giáo dục môi trường và một số vấn đề xã
hội. (Life Skills Education, environmental education and some social issues)
- Loại học phần: Tự chọn (tương đương với một số học phần Giáo dục vì sự phát triển
bền vững; Giáo dục môi trường; Dân số, môi trường và phòng chống HIV – AISD)
- Thuộc ngành: Sư phạm
- Mã học phần:
+ Đặc điểm tâm lí lứa tuổi của người học trong nhà trường
+ Các phương pháp giáo dục kỹ năng sống
- Chương 2: Giáo dục môi trường và kỹ năng ứng phó với các vấn đề về môi trường
+ Một số khái niệm cơ bản về môi trường
+ Hành vi thân thiện và không thân thiện với môi trường
+ Kỹ năng ứng phó với các vấn đề về môi trường
- Chương 3: Kĩ năng ứng phó với các vấn đề xã hội trong nhà trường
+ Các vấn đề xã hội hay gặp ở học đường
+ Các kỹ năng ứng phó với các vấn đề xã hội trong nhà trường
+ Các kỹ năng căn bản cho người dạy
+ Vận dụng giáo dục kỹ năng sống, giáo dục môi trường và các vấn đề xã hội trong
nhà trường vào công tác giáo dục và công tác giảng dạy.
3. KẾT LUẬN
172
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Giáo dục kỹ năng sống, giáo dục môi trường và một số vấn đề xã hội trong nhà trường
đang là vấn đề cấp thiết hiện nay ở nước ta. Chương trình giáo dục kỹ năng sống được Ủy
ban thiếu niên nhi đồng Liên hợp quốc quan tâm và đã có những đánh giá kết quả. Thực tế
cho thấy học sinh đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ thách thức như nguy cơ bạo lực học
đường, sức khoẻ sinh sản, nghiện internet, rủi ro thiên tai,…những nguy cơ này ảnh hưởng
rất lớn đến tương lai của các em, vì vậy ngay từ khi còn học trong nhà trường chúng ta hãy
dạy những điều các em cần trong cuộc sống nói chung.
Trong công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng thấy rõ vai trò to lớn của mỗi giáo viên không những
giảng dạy các kiến thức khoa học nền tảng mà còn phải nghiên cứu cập nhật những kiến
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 40/2020
173
help to raise their awareness and ability of situation that may happen in life. Therefore,
teachers need to equip students with educational content and methods through one or
several modules in the training program. The article recommends the module of life
skills-based education, environmental education and some social issues.
Keywords: Life Skills-Based Education, environmental education, social issues, training
program, university students.