MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hoạt ngân hàng của các TCTD là một hoạt động quan trọng đối với nền kinh
tế hoạt động theo cơ chế thị trường. Thanh tra, giám sát ngân hàng là một chức
năng thiết yếu của Ngân hàng Nhà nước, một khâu quan trọng trong hoạt động
quản lý Nhà nước, là phương thức đảm bảo trật tự trong hoạt động hệ thống TCTD
nói chung cũng như hệ thống QTDND nói riêng. Thanh tra, giám sát ngân hàng
nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD
và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và
khách hàng của TCTD; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ
thống các TCTD; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân
hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền
tệ và ngân hàng.
Quỹ tín dụng nhân dân là một TCTD hợp tác, được thành lập theo Luật hợp
tác xã và Luật các TCTD. Hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân trong thời
gian qua đã góp phần ổn định, thúc đẩy phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trên địa bàn nông thôn, góp phần tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và hạn
chế cho vay nặng lãi. Đến nay, hoạt động của các Quỹ tín dụng nhân dân đã đạt
được những kết quả đáng kể và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói
chung và hệ thống tài chính, ngân hàng nói riêng.
Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng trong thời gian qua đã đạt được
những kết quả to lớn góp phần không nhỏ trong việc giữ ổn định cho hoạt động tài
chính, ngân hàng từ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho tăng
tín dụng nhân dân hiện nay gồm Quỹ tín dụng nhân dân trung ương và các Quỹ tín
dụng nhân dân cơ sở có tổ chức và hoạt động, chức năng nhiệm vụ khác nhau rất
lớn.Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập đến hoạt động của các Quỹ tín
dụng nhân dân cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu:
3
Luận văn được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở sử dụng các phương pháp
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, suy luận logic để xem xét kết hợp với các
phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, đánh giá, đối chiếu với thực tiễn để
làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu.
5. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cơ
bản của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động thanh tra, giám sát cuẩ Ngân
hàng Nhà nước đối với các Quỹ tín dụng nhân dân.
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà
nước đối với các Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chưương 3: Giải pháp tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh thành phố Hà Nội đối với các Quỹ tín dụng
nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA, GIÁM SÁT
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC QTDND
quả hoạt động của mình; tự quyết định về phân phối thu nhập, bảo đảm QTDND
và thành viên cùng có lợi.
- Hợp tác và phát triển cộng đồng: Thành viên phải phát huy tinh thần tập
thể, nâng cao ý thức hợp tác trong QTDND và trong cộng đồng xã hội; hợp tác
giữa các QTDND với nhau theo quy định của pháp luật.
1.1.2.2. Tổ chức của QTDND:
Các QTDND cơ sở có cơ cấu tổ chức gồm có các thành viên, Đại hội thành
viên, HĐQT, Ban kiểm soát, Ban điều hành.
(1) Thành viên QTDND: là các cá nhân, hộ gia đình, cán bộ, công chức,
pháp nhân, các tổ chức khác có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật có đơn
xin gia nhập, tán thành điều lệ, góp đủ vốn theo quy định của điều lệ QTDND cơ
sở sẽ được kết nạp trở thành thành viên QTDND cơ sở.
- Khi tham gia QTDND cơ sở, các thành viên có các quyền và nghĩa vụ theo
quy định của pháp luật và Điều lệ QTDND.
(2) Đại hội thành viên:
Đại hội thành viên là đại hội được tổ chức theo nhiệm kỳ, thường niên hoặc
bất thường do các thành viên QTDND dự họp hoặc đại biểu thành viên các
QTDND dự họp. Đại hội thành viên của QTDND là cơ quan có quyền quyết định
cao nhất của của QTDND như: thông qua báo cáo hoạt động kinh doanh hàng năm,
các báo cáo hoạt động của HĐQT, ban kiểm soát và phương hướng hoạt động kinh
doanh kỳ tiếp theo; quyết định việc tăng – giảm vốn điều lệ; quyết định về cơ cấu
tổ chức nhân sự, bộ máy của HĐQT, ban kiểm soát, ban điều hành; sửa đổi điều lệ;
quyết định việc chia tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể QTDND,….
6
(3) HĐQT
HĐQT của QTDND là cơ quan do Đại hội thành viên bầu ra, thay mặt cho
Đại hội thành viên thực hiện việc quản trị QTDND theo quy định của pháp luật và
QTDND thuộc thẩm quyền của mình; Trưởng ban hoặc đại diện được tham dự các
cuộc họp của HĐQT nhưng không tham gia biểu quyết.
(5) Ban điều hành:
Ban điều hành QTDND là cơ quan có chức năng lãnh đạo thực hiện các
nghiệp vụ hàng ngày của QTDND, Ban điều hành bao gồm có Giám đốc, các phó
giám đốc; giúp việc cho ban điều hành có Kế toán trưởng, nhân viên nghiệp vụ
khác.
Giám đốc là người lãnh đạo Bộ máy điều hành để thực hiện kế hoạch kinh
doanh và điều hành các công việc hàng ngày của QTDND cơ sở theo quy định của
pháp luật.
Phó giám đốc là người giúp việc cho Giám đốc lãnh đạo bộ máy điều hành;
phó giám đốc là thành viên của QTDND cơ sở và được HĐQT bổ nhiệm, miễn
nhiệm theo đề nghị của Giám đốc.
1.1.2.2. Hoạt động của QTDND
QTDND là một TCTD hợp tác, được thành lập và hoạt động theo Luật hợp
tác xã và Luật các TCTD. Do vậy, các hoạt động của QTDND cũng bao gồm một
số các hoạt động của một TCTD. Tuy nhiên, với quy mô và địa bàn hoạt động còn
nhỏ, khả năng quản lý còn hạn chế thì các hoạt động chủ yếu của QTDND hiện nay
bao gồm:
(1) Hoạt động huy động vốn:
Các QTDND được nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn của thành
viên và ngoài thành viên, được vay vốn của QTDND Trung ương, vay vốn của các
TCTD không phải là QTDND theo quy định của NHNN.
(2) Hoạt động sử dụng vốn:
8
- Hoạt động cho vay: QTDND cho vay đối với thành viên, cho vay các hộ
nghèo không phải là thành viên trong địa bàn hoạt động của QTDND cơ sở và cho
- QTDND cơ sở được nhận ủy thác và làm đại lý trong lĩnh vực hoạt động
tiền tệ theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
- QTDND cơ sở được thực hiện các hoạt động kinh doanh, dịch vụ tài chính,
ngân hàng khác khi được NHNNN cho phép.
1.1.3. Một số đặc trưng của QTDND
- Mục tiêu hoạt động của các QTDND là tương trợ thành viên, không vì mục
tiêu lợi nhuận: Hoạt động của QTDND luôn gắn với tôn chỉ mục đích là tương trợ
và giúp đỡ thành viên, cung cấp tín dụng một cách kịp thời, thuận tiện với giá cả
hợp lý nhất cho thành viên. Việc các QTDND tìm cách thu nhiều lợi nhuận không
phải vì mục đích chủ yếu là chia cổ tức ngày càng cao cho các chủ sở hữu mà các
QTDND coi đó là phương tiện giúp họ đạt được mục tiêu hỗ trợ cho các thành viên
ngày càng tốt hơn. Bên cạnh đó, các QTDND cũng cần phấn đấu đạt lợi nhuận cao
để có thể chia cổ tức cao nhằm thu hút nguồn vốn góp và số thành viên tham gia
ngày một nhiều hơn.
- Về tổ chức, mỗi QTDND là một pháp nhân độc lập, tự chịu trách nhiệm về
kết quả hoạt động nhưng lại được liên kết với nhau thành một hệ thống chặt chẽ
thông qua công tác điều hòa vốn, chăm sóc phục vụ hỗ trợ từng thành viên nâng
cao hiệu quả hoạt động.
- Đối tượng phục vụ chủ yếu là thành viên: Mọi sản phẩm, dịch vụ của
QTDND đều nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích của thành viên QTDND.
- Các QTDND được quản lý một cách dân chủ, bình đẳng; Mô hình tổ chức
của QTDND theo Luật Hợp tác xã, các thành viên tham gia QTDND đều bình
đẳng như nhau về quyền và nghĩa vụ không phụ thuộc số lượng vốn góp vào
QTDND, thể hiện trong việc tham gia quản trị, giám sát và biểu quyết các vấn đề
của QTDND. Tuy vậy, đây cũng là đặc trưng tiềm ẩn rủi ro, khi quyền dân chủ
10
không được các thành viên phát huy và quan tâm, dễ dấn đến sự lạm dụng quyền
1.2.1. Những vấn đề chung về thanh tra giám sát của NHNN Việt Nam
1.2.1.1. Khái niệm về thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước
Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010:
“Thanh tra ngân hàng là hoạt động thanh tra của Ngân hàng Nhà nước đối
với các đối tượng thanh tra ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và
ngân hàng”.
Thanh tra ngân hàng chính là hoạt động thanh tra chuyên ngành của Ngân
hàng Nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động, có liên quan đến hoạt động
tài chính, tiền tệ, ngân hàng là lĩnh vực quản lý theo ngành của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam.
“Giám sát ngân hàng là hoạt động của Ngân hàng Nhà nước trong việc thu
thập, tổng hợp, phân tích thông tin về đối tượng giám sát ngân hàng thông qua hệ
thống thông tin, báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời
rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động
ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Như vậy, thanh tra, giám sát ngân hàng là hoạt động liên tục, thường xuyên
của Ngân hàng Nhà nước đối với các đối tượng thanh tra, giám sát nhằm đảm bảo
an toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng và đảm bảo việc chấp hành pháp
luật về tiền tệ và ngân hàng của các đối tượng thanh tra, giám sát.
Thanh tra, giám sát ngân hàng được thực hiện bởi Cơ quan thanh tra, giám
sát ngân hàng NHNN Việt Nam và Thanh tra, giám sát Chi nhánh NHNN các tỉnh,
thành phố.
- Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng là cơ quan trực thuộc NNHNN Việt
Nam thực hiện chức năng thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và giám sát
chuyên ngành về ngân hàng trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước
12
của NHNN; tham mưu, giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quản lý nhà nước
ngân hàng của các TCTD được kịp thời, chính xác và mục tiêu cuối cùng là đảm
bảo an toàn hệ thống ngân hàng.
1.2.1.3. Vai trò của hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động ngân hàng, dịch vụ tài chính có vị trí
quan trọng hàng đầu. Hơn thế nữa, Nhà nước ngày càng giảm sự can thiệp sâu vào
các hoạt động kinh doanh dịch vụ, thay vào đó là quản lý bằng pháp luật, nên thanh
tra nói chung, Thanh tra, giám sát ngân hàng nói riêng càng có vị trí quan trọng để
NHNN thực thi có hiệu quả chức năng quản lý của mình. Có thể phân tích cụ thể
vai trò của thanh tra, giám sát ngân hàng trên các mặt cụ thể như sau:
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước của NHNN về tiền tệ và hoạt động
ngân hàng góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, ổn định tiền tệ.
- Đối với việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và chính sách kinh tế vĩ
mô:
+ Trong quá trình thanh tra, giám sát các TCTD, NHNN thực hiện việc phân
tích, đánh giá các khoản mục tài sản và nguồn vốn của các TCTD và toàn bộ hệ
thống. Thông qua đó, NHNN có thể phát hiện được những điểm chưa phù hợp
trong điều hành chính sách tiền tệ quốc gia (như tỷ lệ dự trữ bắt buộc không hợp lý
gây ra tình trạng căng thẳng về cung cầu vốn của TCTD, chính sách lãi suất quá
cao khiến các TCTD gặp khó khăn để mở rộng cho vay…); từ đó, có cơ sở để đưa
ra các giải pháp điều chỉnh thích hợp trong việc điều hành chính sách tiền tệ, đảm
bảo phù hợp với thực tế.
+ Thông qua thanh tra, giám sát, NHNN có thể phát hiện được những bất
hợp lý trong có chế, chính sách của Nhà nước liên quan đến hoạt động ngân hàng,
từ đó có kiến nghị các cấp có thẩm quyền hoặc bản thân NHNN tự sửa đổi, bổ
sung, tháo gỡ những khó khăn cho hoạt động của TCTD.
14
- Một là, đảm bảo cho các TCTD hoạt động đúng kỷ cương pháp luật của
Nhà nước.
Thanh tra, giám sát ngân hàng xem xét việc các TCTD có vi phạm các quy
định của Pháp luật và các quy định về chuyên môn của ngành ngân hàng hay
không từ đó có biện pháp buộc các TCTD thực hiện nghiêm các quy định của pháp
luật. Thông qua hoạt động thanh tra, giám sát NHNN đã góp phần giữ cho các
TCTD hoạt động một cách lành mạnh, đúng khuôn khổ pháp luật nhà nước.
- Hai là, Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.
Trong quá trình hoạt động, nếu TCTD bị đổ vỡ, phá sản thì người gửi tiền bị
thiệt thòi vì có khả năng sẽ bị mất toàn bộ hoặc một phần số tiền gửi của minh. Chỉ
một sự thiệt thòi nhỏ thôi đến với người gửi tiền do lỗi chủ quan của chính TCTD
nhận tiền gửi cũng gây ra một tác hại lớn vô cùng đối với các TCTD khác và cả hệ
thống. Đó là tiền gửi vào ngân hàng không yêu tâm, không những không có lợi như
cam kết ban đầu mà còn có nguy cơ mất hết vốn.
Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người gửi tiền và cũng chính vì an toàn
hệ thống ngân hàng một trong những biện pháp là NHNN phải thường xuyên thanh
tra, giám sát các TCTD và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác theo những
nội dung: vốn, chất lượng tài sản có, thu nhập, chi phí, khả năng điều hành; khả
năng sinh lời, khả năng thanh toán và quản lý rủi ro hoạt động.
Qua thanh tra, giám sát phát hiện được những sai lầm, vi phạm nguyên tắc
thể lệ chế độ của Nhà nước từ đó ngăn chặn, kiến nghị, xử lý theo thẩm quyền;
phát hiện những điểm bất hợp lý giữa các văn bản của cấp trên phù hợp với thực tế
hơn. Chỉ có như vậy thì quyền, lợi ích hợp pháp của người gửi tiền mới đảm bảo,
và người gửi tiền mới thực sự an toàn khi gửi tiền vào bất cứ ngân hàng nào mà hộ
muốn.
- Ba là, phối hợp trong việc bảo hiểm tiền gửi
16
- TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của TCTD
nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng. Trong trường hợp
cần thiết, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra
hoặc phối hợp thanh tra công ty con, công ty liên kết của TCTD;
- Tổ chức có hoạt động ngoại hối, hoạt động kinh doanh vàng; tổ chức hoạt
động thông tin tín dụng; tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không
phải là ngân hàng;
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước
ngoài tại Việt Nam trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ và
ngân hàng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.
* Đối tượng giám sát ngân hàng:
Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc giám sát ngân hàng đối với mọi hoạt
động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong trường hợp cần thiết,
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát hoặc phối
hợp giám sát công ty con, công ty liên kết của TCTD.
1.2.1.6. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra giám sát ngân hàng Nhà
nước Việt Nam.
* Chức năng của thanh tra giám sát NHNN:
Thanh tra, giám sát ngân hàng có chức năng cơ bản là thanh tra, giám sát
chuyên ngành về ngân hàng. Thanh tra, giám sát ngân hàng là tổ chức, công cụ
quản lý thuộc quyền chỉ đạo điều hành của Thống đốc NHNN, ngoài ra còn có
chức năng xem xét, kiến nghị các cấp có thẩm quyền giải quyết công tác khiếu nại
tố cáo.
* Nhiệm vụ và quyền hạn của thanh tra, giám sát NHNN bao gồm nhiệm
vụ, quyền hạn của Cơ quan thanh tra, giám sát NHNN và của Thanh tra, giám sát
NHNN Chi nhánh tỉnh, thành phố:
18
+ Hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị trong ngành ngân hàng thực hiện các quy
định của pháp luật về thanh tra, giám sát ngân hàng, khiếu nại, tố cáo, phòng,
chống tham nhũng và phòng, chống rửa tiền trong phạm vi quản lý nhà nước của
Ngân hàng Nhà nước.
+ Tổng hợp, báo cáo kết quả công tác thanh tra, giám sát ngân hàng, giải
quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng và phòng, chống rửa tiền thuộc
phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.
+ Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của hội, tổ chức phi chính phủ trong các
lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước theo phân cấp, uỷ quyền
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
+ Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào hoạt
động thanh tra, giám sát ngân hàng, phòng, chống rửa tiền; hiện đại hoá cơ sở vật
chất kỹ thuật của hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng, phòng, chống rửa tiền.
+ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thanh tra, giám sát ngân hàng, phòng,
chống rửa tiền theo phân cấp của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
+ Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan đào tạo, bồi dưỡng về
chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức làm công tác thanh
tra, giám sát ngân hàng, khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng và phòng,
chống rửa tiền
- Thanh gia, giám sát NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố có nhiệm vụ và
quyền hạn sau:
+ Tổ chức, thực hiện công tác thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm đối với hoạt
động của các TCTD, hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác trên địa bàn theo
quy định của Ngân hàng Nhà nước và của pháp luật.
+ Tham mưu, giúp Giám đốc xem xét, quyết định việc kiểm soát đặc biệt đối
với các TCTD trên địa bàn theo ủy quyền của Thống đốc và quy định của pháp
luật.
21
Các nguyên tắc cơ bản về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả
của Ủy ban BASEL được coi là chuẩn mực quốc tế về thanh tra giám sát ngân
hàng, là cơ sở để các cơ quan thanh tra, giám sát tại mỗi nước đánh giá hiệu quả
hoạt động của thanh tra, giám sát tại nước mình. Nguyên tắc Basel có 25 nguyên
tắc, nằm trong 7 nhóm vấn đề lớn sau:
Nhóm 1: Điều kiện tiền đề để thanh tra, giám sát ngân hàng có hiệu quả
(nguyên tắc số 1) – Các đơn vị chức năng thuộc một hệ thống thanh tra ngân hàng
hiệu quả phải có trách nhiệm và những mục tiêu rõ ràng trong việc thanh tra các
TCTD, có sự độc lập nhất định, hoạt động trong khuôn khỏ pháp luật phù hợp, quy
định rõ trách nhiệm, quyền hạn trong hoạt động thanh tra, giám sát đảm bảo an
toàn và chia sẻ thông tin.
Nhóm 2: Cấp phép và cơ cấu thanh tra, giám sát (nguyên tắc số 2 đến
nguyên tắc số 5) – Những nguyên tắc này yêu cầu xác định rõ thẩm quyền cấp
phép và thanh tra đối với các hoạt động của TCTD. Thanh tra ngân hàng có quyền
xem xét hoạt động chuyển quyền sở hữu hay điều chuyển lợi nhuận có khối lượng
lớn của một ngân hàng cho các tổ chức khác.
Nhóm 3: Quy định an toàn hoạt động và yêu cầu của hoạt động thanh tra,
giám sát ngân hàng (nguyên tắc số 6 đến nguyên tắc số 15) – Theo các nguyên tắc
này, Thanh tra ngân hàng cần được đảm bảo rằng các TCTD có các biện pháp đảm
bảo an toàn, có quy trình nghiệp vụ chặt chẽ, hệ thống quản trị thông tin và rủi ro,
hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hiệu quả, có biện pháp phòng ngừa và đối phó
với rủi ro thị trường.
Nhóm 4: Phương pháp thanh tra, giám sát ngân hàng thường xuyên (nguyên
tắc số 16 đến nguyên tắc số 20) – Đây là những nguyên tắc về hình thức thanh tra,
các phương pháp thu thập, xử lý, phân tích, đánh giá thông tin thu được…
Nhóm 5: Yêu cầu về thông tin thanh tra, giám sát ngân hàng (Nguyên tắc số
21) – Nguyên tắc này đòi hỏi các TCTD phải duy trì một chế độ báo cáo phù hợp
được đưa ra đầu tiên để giám sát sự đủ vốn của TCTD.
23
(2) Assets quality – Chất lượng tài sản có (A): Tài sản có của TCTD được
xem là có chất lượng ky TCTD quản lý được rủi ro, tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ ở
mức chấp nhận được.
(3) Management capacity – Năng lực quản lý (M): là giám sát về năng lực
quản lý điều hành của ban điều hành, như trình độ năng lực của HĐQT, của ban
điều hành, trình độ của hệ thống nhân viên, sự hoàn hảo của hệ thống thông tin
quản lý,…
(4) Earnings – Khả năng sinh lời (E): Là đánh giá về khả năng sinh lời của
TCTD.
(5) Liquidity – Khả năng thanh khoản (L): là đánh giá khả năng sẵn sàng
thanh toán các khoản đến hạn phải trả của TCTD.
(6) Sensibility to market risk – Sự nhạy cảm rủi ro thị trường (S): đánh giá
sự nhạy cảm rủi ro thị trường của TCTD trong hoạt động kinh doanh nhất là về
kinh doanh ngoại tệ, biến động về lãi suất,…
Báo cáo giám sát CAMELS gồm các chỉ số và các đồ thị phân bố tần suất
cho từng TCTD, được cung cấp bởi bộ phận giám sát từ xa và những phân tích có
tính diễn giải từ những thông tin của bộ phận thanh tra tại chỗ và các nguồn thông
tin khác. Những hạn chế của một TCTD sau khi xếp hạng CAMELS có thể được
coi là dấu hiệu đầu tiên để lên kế hoạch thanh tra và thiết lập nội dung thanh tra.
1.2.3. Các phương thức thanh tra, giám sát của NHNN đối với QTDND.
1.2.3.1. Phương thức giám sát từ xa:
Giám sát từ xa (còn gọi là thanh tra trên các báo cáo) là việc Thanh tra giám
sát ngân hàng tổ chức phân tích, đánh giá tình hình của TCTD dự trên cơ sở các
bảng cân đối kế toán, các chỉ tiêu thống kê định kỳ do TCTD gửi đến Thanh tra
giám sát ngân hàng theo quy định, dựa trên cơ sở đó báo động cho TCTD những