VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
---------
VŨ LÊ THÀNH NAM
QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CÁO
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội, năm 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
---------
VŨ LÊ THÀNH NAM
QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CÁO
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Hình Sự Và Tố Tụng Hình Sự
Mã số: 8380104
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN HIỂN
quyền bào chữa của bị cáo ...................................................................... 26
2.2 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền
bào chữa của bị cáo trong thời gian qua trên địa bàn thành phố Hà Nội...... 39
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CÁO NHÌN TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ......................................................... 58
3.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền
bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự .............................................. 58
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực tiễn áp dụng các quy
định về quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành
phố Hà Nội............................................................................................... 66
KẾT LUẬN CHUNG .................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 75
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
BCVND
Bào chữa viên nhân dân
BLHS
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
Tự bào chữa
TGVPL
Trợ giúp viên pháp lý
TGPL
Trợ giúp pháp lý
TP
Thẩm phán
TTHS
Tố tụng hình sự
VAHS
Vụ án hình sự
VKS
Viện kiểm sát
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng thống kê tình hình thụ lý, giải quyết án hình sự sơ thẩm
pháp luật của BC; giáo dục pháp luật, quyền được thông tin pháp luật chưa được
chú trọng; thủ tục nhờ NBC còn có những bất cập; tranh tụng tại phiên tòa chưa
được bảo đảm...
1
Vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài về “Quyền bào chữa của bị cáo
trong tố tụng hình sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội” là rất cần thiết nhằm góp
phần làm rõ thêm về mặt lý luận cũng như các quy định của pháp luật về quyền bào
chữa của bị cáo, nâng cao chất lượng tranh tụng trong xét xử, hướng tới xây dựng
một nền tư pháp hiện đại, trong sạch, vững mạnh.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Tính cho đến thời điểm nghiên cứu có thể chia các công trình nghiên cứu về
quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự thành hai nhóm lớn sau:
Thứ nhất, Về tài liệu nghiên cứu là luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, đề tài
nghiên cứu khoa học gồm có công trình: Luận án tiến sĩ luật học “Thực hiện quyền
bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Hoàng Thị
Sơn, năm 2003; “Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo” của tác giả Bùi Bảo Trâm, năm 2008; Luận văn thạc sĩ “Quyền con
người và vấn đề bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo ở Việt Nam” của tác
giả Đỗ Thị Hường, năm 2011; “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” của TS Lại Văn Trình, năm 2011...
Thứ hai, Về tài liệu nghiên cứu là bài viết tạp chí gồm có: “Những hạn chế
trong việc thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ” của tác giả
Hoàng Thị Minh Sơn, đăng trên tạp chí luật học năm 2008; “Quyền bào chữa của
người bị buộc tội theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” của tác giả Tôn Thiện
Phương đăng trên tạp chí Kiểm sát, năm 2016; “Đảm bảo quyền bào chữa theo quy
định của Hiến pháp 2013 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015” của tác giả Hà Thái
Thơ và Huỳnh Xuân Tình đăng trên tạp chí Lý luận chính trị, năm 2016; “Đảm bảo
quyền bào chữa của pháp nhân bị buộc tội” của tác giả Đỗ Tiến Dũng đăng trên Tạp
của quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam; nghiên cứu các chế
định về quyền bào chữa của trong pháp luật tố tụng hình sự ở một số quốc gia trên
thế giới…
Thứ hai, nghiên cứu và phân tích, đánh giá các quy định về quyền bào chữa
của bị cáo trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Thứ ba, đánh giá, phân tích thực tiễn áp dụng về quyền bào chữa của bị cáo
trong thời gian qua trên địa bàn thành phố Hà Nội để làm rõ những mặt hạn chế
trong thực tiễn áp dụng; chỉ ra nguyên nhân của mặt hạn chế về thực tiễn áp dụng
quyền bào chữa của bị cáo trong việc giải quyết vụ án hình sự; đề xuất một số kiến
3
nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về quyền bào
chữa của bị cáo trong trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu là quyền bào chữa của bị cáo được quy định trong
pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về mặt thời gian: Nghiên cứu văn bản pháp luật và một số công trình khoa
học liên quan đến sự hình thành và phát triển của quyền bào chữa của bị cáo pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam thời gian qua, đặc biệt kể từ khi quy định trong Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành.
Về mặt không gian: Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và
thực tiễn về quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố Hà
Nội, thủ đô có mật độ dân số lớn nhất cả nước. Có sự tìm hiểu chế định về quyền bào
chữa của bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự ở một số quốc gia trên thế giới.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong Triết học Mác-Lê Nin, tư tưởng
Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật và áp dụng các quy định pháp
luật về quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự nhìn từ thực tiễn thành phố
Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng
cao hiệu quả thực tiễn áp dụng các quy định về quyền bào chữa của bị cáo nhìn từ
thực tiễn Thành phố Hà Nội.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ QUYỀN BÀO CHỮA
CỦA BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng
hình sự
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của quyền bào chữa của bị cáo trong tố tụng hình sự
Quyền con người là một trong những thành tựu vĩ đại của nhân loại, có giá
trị và ý nghĩa to lớn đối với tất cả mọi người trên thế giới. Quyền con người được
ghi nhận ở hầu hết các văn bản pháp lý quốc tế như: Công ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị (năm 1966); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa (năm 1966); Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (năm 1948)... Quyền con
người không hoàn toàn tuyệt đối đối với mỗi con người cụ thể, nó có thể bị giới hạn
theo quy định của luật pháp nhằm đảm bảo quyền con người của mọi người, giá trị
đạo đức, lợi ích chung của cộng đồng, xã hội. Một trong những quyền con người cơ
bản là quyền tự bảo vệ mình trước bất kỳ sự xâm phạm nào. Khẳng định con người
có thể phòng ngừa, ngăn chặn hay chống lại bất kỳ hành vi nào xâm phạm tới họ
trong khuôn khổ pháp luật.
Pháp luật Việt Nam thừa nhận và tôn trọng các quyền con người của mọi
người dân. Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm
2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con
“quyền TBC và nhờ NBC” của người bị buộc tội nói chung và của BC nói riêng
trong TTHS. Việc đưa ra khái niệm quyền TBC và nhờ NBC của người bị buộc tội
nói chung và của BC nói riêng trong TTHS là cần thiết nhằm hiểu rõ khái niệm này
trong xây dựng pháp luật và trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Trong nghiên cứu lý
luận, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số quan điểm về khái niệm quyền bào chữa
trong TTHS nhưng vẫn chưa có sự thống nhất và còn nhiều tranh luận.
Quan điểm thứ nhất ủng hộ theo quan điểm của nhà luật học Xô viết
Stragovic M.S cho rằng: “Quyền bào chữa là tổng hoà các hành vi tố tụng hướng
tới việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can (bị cáo) không có lỗi hoặc nhằm làm
giảm trách nhiệm của bị can (bị cáo)” và “Quyền bào chữa của bị can (bị cáo) là
tất cả các quyền năng tố tụng mà pháp luật quy định cho bị can (bị cáo) để bảo vệ
khỏi mọi sự buộc tội và được bị can (bị cáo) sử dụng để bác bỏ sự buộc tội, để đưa
7
ra các lý lẽ và chứng cứ trong việc biện minh hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm của
mình”. [50, tr.196]
Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền bào chữa được hiểu rộng hơn, nó không
chỉ dừng lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hay làm giảm
trách nhiệm của bị can mà nó còn được thể hiện trong cả việc đảm bảo các quyền và
lợi ích được pháp luật bảo vệ của bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan
tới việc làm giảm trách nhiệm của bị can trong vụ án. [18, tr.5]
Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền bào chữa còn thuộc về người bị tình nghi
phạm tội, người bị kết án, bị hại, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự và người đại
diện hợp pháp của họ hay NBC, giám định viên, nhân chứng... nếu quyền và lợi ích
của họ bị xâm phạm.
Quan điểm thứ tư theo PGS.TS Phạm Hồng Hải cho rằng: “Quyền bào
chữa trong BLTTHS là tổng hoà các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can,
BC, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm
phạm tội nhẹ hơn, do đó, quyền này chỉ thuộc về người bị buộc tội.
Thứ hai, người bị hại, nguyên đơn dân sự… là người bị thiệt hại về thể chất,
tinh thần hoặc vật chất, họ không bị Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng buộc
tội, do đó, quyền bào chữa không thuộc về họ. Họ chỉ có quyền khai báo những gì
họ biết về hành vi phạm tội (buộc tội) và chứng minh những thiệt hại liên quan đế
họ do hành vi phạm tội gây ra, vì vậy, quyền TBC và nhờ NBC luật TTHS không
đặt ra đối với các chủ thể này.
Thứ ba, người bị kết án là người đã được TA tuyên bố là có tội bằng bản án
đã có hiệu lực pháp luật. Tôi cho rằng, về cơ bản, quyền TBC và nhờ NBC thì luật
TTHS cũng không đặt ra đối với người bị kết án, trừ trường hợp đặc biệt và chỉ
trong trường hợp cần thiết khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được xem
xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là
thủ tục đặc biệt, là thủ tục TA xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật chứ không phải là một cấp xét xử. Tuy nhiên, để bảo đảm cho HĐXX ra quyết
định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm một cách đúng đắn, khoản 2 Điều 383 BLTTHS
năm 2015 quy định “Trường hợp xét thấy cần thiết hoặc có căn cứ sửa một phần
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, TA phải triệu tập người bị kết án, NBC
… tham gia phiên tòa giám đốc thẩm”. Như vậy, ở thủ tục đặc biệt này, quyền TBC
9
và nhờ NBC của người bị kết án chỉ được đặt ra trong trường hợp cần thiết và nếu
họ được TA triệu tập.
Về nội dung của quyền TBC và nhờ NBC bao gồm cả việc bảo vệ các quyền
và lợi ích khác của đối tượng hưởng quyền không trực tiếp liên quan tới việc bác bỏ
sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ trong vụ án theo quan điểm thứ hai,
thứ sáu và thứ bảy là chưa phù hợp. Bởi với định hướng tôn trọng, bảo vệ quyền
con người của người bị buộc tội trong TTHS nên các hoạt động tố tụng luôn mang
những yếu tố bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nói chung cho người bị buộc tội.
nguyên tắc tranh tụng... Như vậy, có thể nhận thấy rất ít các nghiên cứu về quyền
TBC và nhờ NBC theo làm rõ giá trị quyền con người mà chưa chú trọng đến
nghiên cứu qui phạm pháp luật về quyền TBC và nhờ NBC. Hoặc các nghiên cứu
dưới dạng tìm hiểu các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS, ví dụ từng chủ thể cụ thể
như người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can
hoặc BC trong khi việc nghiên cứu này có những ý nghĩa vô cùng quan trọng đối
với mỗi thời điểm, giai đoạn giải quyết VAHS. Quyền TBC và nhờ NBC là vô cùng
cần thiết khi BC bước vào giai đoạn xét xử VAHS, việc đưa ra lời khai, chứng cứ,
chứng minh sự vô tội, phản bác lại các lập luật buộc tội của bên buộc tội trước
HĐXX... giúp BC có thể tránh phải chịu tội oan, sai.
Bị cáo là cá nhân hoặc pháp nhân đã bị TA có quyết định đưa ra xét xử. Sau
khi nhận hồ sơ và quyết định truy tố (bản Cáo trạng) của Cơ quan công tố, TA xem
xét thấy rằng đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử mà không phải trả hồ sơ để điều tra
bổ sung, không có căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án thì TA ra quyết định đưa vụ
án ra xét xử. Từ thời điểm này bị can trở thành BC trong TTHS. Về bản chất người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, BC là một
người nhưng ở mỗi thời điểm, giai đoạn tố tụng khác nhau mà có tên gọi khác nhau.
Có thể thấy bị cáo gắn với giai đoạn xét xử VAHS, giai đoạn vô cùng quan trọng với
hoạt động tranh tụng tại phiên tòa và hoạt động xét xử, đưa ra phán quyết của TA
trong việc giải quyết VAHS. Quyền TBC và nhờ NBC trong giai đoạn này có ảnh
hưởng và ý nghĩa to lớn trong việc bác bỏ sự buộc tội của Cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng có thẩm quyền, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho chính BC.
Đặc điểm để phân biệt quyền bào chữa của bị cáo khác với quyền bào chữa
của người bị buộc tội, quyền bào chữa của bị can. Theo đó bị cáo là cá nhân hoặc
pháp nhân đã bị TA có quyết định đưa ra xét xử. Sau khi nhận hồ sơ và quyết định
truy tố (bản Cáo trạng) của Cơ quan công tố, TA xem xét thấy rằng đủ điều kiện
11
đưa vụ án ra xét xử mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, không có căn cứ
hợp nhất định như không có khả năng TBC, người dưới 18 tuổi, người bị xét xử về
tội phạm có mức hình phạt cao... thì Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ
định NBC cho người bị buộc tội.
Thứ ba, bảo đảm quyền TBC và nhờ NBC thể hiện tính dân chủ xã hội chủ
nghĩa trong TTHS. Xuyên suốt quá trình từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, quyền
TBC và nhờ NBC của người bị buộc tội được bảo đảm. Người bị buộc tội, NBC cho
người bị buộc tội có các quyền cơ bản như thu thập chứng cứ, trình bày quan điểm,
ý kiến, tranh luận... Đặc biệt tại phiên tòa công khai, bình đẳng, tranh tụng, có đầy
đủ các bên tham gia tố tụng và tiến hành tố tụng thì BC và NBC của BC càng có
điều kiện thuận lợi để thực hiện quyền của mình.
Thứ tư, bảo đảm quyền TBC và nhờ NBC của người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, BC góp phần tích cực vào việc bảo
vệ pháp luật, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào hoạt động của hệ thống
tư pháp. Ngoài ra việc bảo đảm quyền TBC và nhờ NBC còn góp phần vào việc xác
định sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm trong quá trình tố tụng không để lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội, bảo đảm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển về quyền bào chữa của bị cáo trong pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.1 Quyền bào chữa của bị cáo từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến
trước khi BLTTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành.
Từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ được thành lập,
nhiệm vụ chính của thời kỳ này là chống thù trong giặc ngoài, xây dựng Chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam,
đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Về quyền TBC và nhờ
NBC chưa được quan tâm đúng mức, kể cả từ phía bản thân người bị buộc tội, của
BC nói riêng lẫn từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đồng thời nghề
bào chữa cũng chưa phát triển, số lượng LS từ thời Pháp thuộc là rất hạn chế và ít
tung tiền ra mua kỹ thuật về sản xuất”. Theo quy định của pháp luật, “Cán bộ tư
pháp phải tự kiểm nghiệm, đảm bảo cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử phải công
khai, minh bạch, dân chủ, công tâm, khách quan; vừa đấu tranh kiên quyết, kịp thời
với các loại tội phạm, vừa không được làm oan cho bất cứ người nào, thực hiện có
hiệu quả Chiến lược Cải cách tư pháp trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp
14
quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tuy nhiên, trong vụ án này, hồ sơ vụ án được
xây dựng không khách quan, cố tình suy diễn theo chiều hướng buộc tội nhưng
chẳng những không được Cơ quan truy tố phát hiện, khắc phục mà họ còn đồng tình
rất cao với Cơ quan điều tra.
Mặc dù ở giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra và truy tố có sự định
kiến với hành vi của Tạ Đình Đề, quyền TBC trong giai đoạn này của ông không
được đảm bảo nhưng tại phiên tòa xét xử BC Tạ Đình Đề, TP Phùng Lê Trân đã thể
hiện thái độ độc lập trong xét xử của TA. HĐXX đã phân tích dựa trên các chứng cứ
tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai tại phiên tòa của BC, quá trình tranh luận của
LS Hoàng Thế Kế với KSV để đưa ra kết luận. LS Hoàng Thế Kế tranh luận: “Qua
nghiên cứu các số liệu mà cáo trạng nêu ra để quy kết tội cho các BC, trong đó có
nhiều khoản chi liên quan đến công tác xây dựng cơ bản. Nhưng các vấn đề liên quan
đến công tác xây dựng cơ bản đã được Cơ quan điều tra tách ra vụ án khác. Do vậy,
VKS dùng số liệu ấy để quy kết cho Tạ Đình Đề và các BC là chưa có cơ sở”. LS tiếp
tục bào chữa cho BC Tạ Đình Đề bằng việc chỉ ra những lý lẽ không có căn cứ của
KSV: “Các số liệu về chi sai nguyên tắc chế độ mà cáo trạng quy kết là dựa vào bản
báo cáo của Đoàn Thanh liên bộ. Nhưng nghiên cứu kỹ báo cáo đó cho thấy không
rõ do ai lập, ai là trưởng đoàn? Do vậy, nó không có giá trị pháp lý. Vì vậy, những số
liệu mà VKS lấy đó làm căn cứ quy kết cho các BC cũng không có cơ sở pháp lý…”.
Về hành vi tham ô của Tạ Đình Đề, LS bào chữa cho rằng: “Số tiền 4.800 đồng
không phải chi cho các cá nhân mà căn cứ vào các chứng từ chi khẳng định số tiền
đó đã được chi cho công tác quản lý, khen thưởng trong 4 năm hoạt động của Ban
một trong số các nguyên nhân có sự không bảo đảm quyền tự bào chữa và nhờ
người bào chữa cho họ. Điển hình là vụ án Huỳnh Văn Nén ở tình Bình Thuận. Ông
Huỳnh Văn Nén bị kết án về tội giết người và cướp tài sản. Mặc dù phải chấp hành
hình phạt tù nhưng bị án này và người thân vẫn không ngừng kêu oan. Ông
Nén được xác định là người bị các cơ quan tố tụng của tỉnh Bình Thuận tuyên án
oan trong hai vụ án giết người. Đó là mức án 5 năm tù cho tội không tố giác tội
phạm trong vụ án giết bà Dương Thị Mỹ (vụ án Vườn điều) và mức chung thân cho
vụ án giết bà Lê Thị Bông. Qua đấu tranh truy xét, cơ quan tố tụng xác định ông
Nén là hung thủ duy nhất giết bà Lê Thị Bông, một người cùng xã với ông. Tại
phiên tòa sơ thẩm, ông Huỳnh Văn Nén nhận tội, nhưng đến phiên phúc thẩm ông
phản cung, nói toàn bộ lời khai của mình trước đây là do bị bức cung, nhục hình
16
nên phải nhận tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nén đã cởi áo của mình cho HĐXX
và những người tham dự phiên tòa xem. Tuy nhiên, những lời tố cáo của ông không
được HĐXX chấp nhận, do đó, bản án chung thân là bản án có hiệu lực mà ông Nén
phải thi hành. Như vậy, có thể thấy tại phiên tòa phúc thẩm, quyền TBC của BC
Huỳnh Văn Nén đã không được đảm bảo. HĐXX đã không chú ý đến lời phản cung
của BC mà đã bỏ qua, tiếp tục kết án chung thân đối với Huỳnh Văn Nén. Khi BC
kêu oan, HĐXX phúc thẩm phải lật lại các chứng cứ, quá trình điều tra để làm rõ
những lời BC kêu oan, đảm bảo tính khách quan, công bằng cũng như bảo đảm
quyền bào chữa của BC. Chính sự chủ quan của các CQTHTT trong suốt quá trình
giải quyết vụ án đã dẫn đến việc oan sai cho BC Huỳnh Văn Nén. Tháng 10/2014,
quyết định giám đốc thẩm của Tòa hình sự TA nhân dân tối cao hủy bản án chung
thân của Huỳnh Văn Nén, giao cơ quan điều tra điều tra lại. Sau nhiều nỗ lực của
các cá nhân, LS và Đại biểu Quốc hội, ông Nén đã được đình chỉ điều tra. Sau
hai lần gia hạn điều tra, ngày 22/10/2015 ông Huỳnh Văn Nén được tại ngoại để
chữa bệnh. Ngày 28/11/2015, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Thuận trao quyết
định đình chỉ điều tra bị can đối với ông Huỳnh Văn Nén, chấm dứt 17 năm 5 tháng
Trong giai BLTTHS năm 2003 có hiệu lực thi hành, qua phân tích các vụ án,
có thể thấy quyền TBC và nhờ người khác bào chữa ở một khía cạnh nào đó vẫn
chưa thực sự được tôn trọng và bảo đảm. Việc các CQTHTT liên tục gây khó khăn
cho quá trình bào chữa của BC còn xảy ra ở khá nhiều nơi, đặc biệt là vấn đề về
trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận NBC và vấn đề công nhận giá trị của tài liệu
chứng cứ mà bên gỡ tội đưa ra.
Vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang là một trong những vụ án điển
hình mà ở đó nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của BC bị vi phạm nghiêm trọng.
Vào tháng 8/2003, một phụ nữ 31 tuổi ở xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, Bắc
Giang chết với nhiều vết đâm chém trên người. Cơ quan điều tra xác định nạn nhân
bị giết. Sau đó ông Chấn bị khởi tố về tội Giết người. Tháng 3 năm 2004, TA nhân
dân tỉnh Bắc Giang tuyên án tù chung thân với ông Chấn. Tham gia bào chữa cho
ông Nguyễn Thanh Chấn tại phiên tòa phúc thẩm ngày 27/7/2004, ngoài LS Nguyễn
Đức Biền (Đoàn LS tỉnh Bắc Giang) còn có LS Bùi Văn Thấm (Đoàn LS Hà Nội).
Để bào chữa cho BC Nguyễn Thanh Chấn, tại phiên tòa, LS Bùi Văn Thấm đã trình
bày những căn cứ mà án sơ thẩm đã kết tội BC cần được xem xét lại như thời gian
chị Hoan bị giết ông Chấn đang ở quán bán hàng, lời kêu oan của BC tại phiên tòa,
18
biên bản khám nghiệm hiện trường, hung khí gây án và đặc biệt là phản bác lại án
sơ thẩm. Án sơ thẩm nêu: BC không đưa ra được những chứng cứ để chứng minh
cho hành vi không phạm tội của mình, lời nại của BC tại phiên tòa chỉ nhằm trốn
tránh trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên lý do trên là không đúng vì Điều 63 BLTTHS
quy định: Khi điều tra, truy tố và xét xử VAHS, cơ quan điều tra, VKS và TA phải
chứng minh có hành vi phạm tội xảy ra hay không và ai là người phạm tội... Do đó,
nghĩa vụ chứng minh không thuộc về BC mà trách nhiệm của các CQTHTT. Như
vậy, có thể thấy LS bào chữa cho BC Nguyễn Thanh Chấn đã đưa ra những lý lẽ
trên cơ sở các tình tiết và chứng cứ của vụ án để cho HĐXX phúc thẩm thấy những
căn cứ để kết tội BC ở TA cấp sơ thẩm là chưa vững chắc và chưa có cơ sở thuyết