GIÁ TRỊ CỦA BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO - Pdf 66

Đã nhiều thập kỷ nay, Bình Ngô đại cáo được đưa vào chương trình dạy-học môn Văn
(sau gọi là môn Ngữ văn) ở cấp cuối trường phổ thông. Thường thì người ta cứ mặc
nhiên dạy- học nó như một văn bản văn chương mà không mấy người đặt ra vấn đề
phải chăng nội dung dạy- học đó phù hợp với tính chất môn học hay đã lấn sân sang
môn học khác, môn Lịch sử chẳng hạn, và cùng với điều đó lại có thể bỏ sót một số
giá trị văn chương nào đó bởi trước tác này mang tính chất nguyên hợp, không chỉ là
“văn sử bất phân” mà ngay ở phần văn cũng là tổng hoà của nhiều loại văn: văn
nghị luận, văn tự sự, văn trữ tình… Và mặc dầu bản hùng văn này đã được nhiều
người nghiên cứu dưới các góc độ, đạt được nhiều thành tựu, song vẫn có những vấn
đề cần phải nhận thức lại.
Bình Ngô đại cáo trước hết là một văn kiện lịch sử. Cuối năm 1427 (cũng có những
tài liệu cổ cho rằng đầu năm 1428) được lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô
đại cáo và văn bản này được công bố tháng 4 năm 1428 bố cáo cho toàn quân dân
biết sự nghiệp bình Ngô đã hoàn toàn thắng lợi, quân thù đã thảm bại và phải cút
khỏi nước ta, một vận hội mới đã mở ra cho giang sơn xã tắc. Chỉ với tư cách văn
bản quan phương Bình Ngô đại cáo mới được đưa vào bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn
thư(1) chứ không phải vì nó là tác phẩm văn chương xuất sắc của một bề tôi. Tuy
nhiên, các thể loại văn chương Việt Nam thời trung đại-như viện sĩ Đ.X. Likhatsôp
nhận thấy ở thể loại văn học Nga cổ- “là để phục vụ nhằm thoả mãn cả một kết hợp
phức tạp những nhu cầu xã hội và tồn tại gắn liền với điều đó trong một sự lệ thuộc
với nhau rất chặt chẽ”(2), nên từ khi ra đời, Bình Ngô đại cáo không phải chỉ được
tiếp nhận chủ yếu như một văn bản hành chính mà còn như một kiệt tác văn
chương.
Cáo là một thể trong loại văn chiếu lệnh, loại văn được người xưa coi trọng nhất.
Luận ngữ ghi lời của đức Khổng Tử khen nước Trịnh cẩn trọng khi soạn thảo loại văn
bản này: Tử viết: “Vi mệnh, Tỳ Thầm thảo sáng chi. Đông Lý Tử Sản nhuận sắc chi
Thế Thúc thảo luận chi. Hành nhân Tử Vũ tu sức chi” (Đức Khổng Tử nói rằng: “Khi
nước Trịnh làm tờ từ mệnh gửi cho nước khác, ông Tỳ Thầm khởi thảo, ông Thế Thúc
khảo cứu bàn bạc, quan hành nhân là ông Tử Vũ sửa chữa thêm bớt, ông Tử Sản ở
đất Đông Lý trau chuốt lại”). Tỳ Thầm, Thế Thúc, Tử Vũ, Tử Sản là những người tài
nổi tiếng đương thời, cả bốn người hợp sức lại để viết cho thấy thái độ của người

đoạn đầu (Nhân nghĩa chi cử… quyết hữu minh trưng). Đoạn này như một định nghĩa
rất tiêu biểu về quốc gia phong kiến, được đánh giá là cống hiến có ý nghĩa thế giới,
khiến cho các thế hệ sau thán phục, tự hào. Đây là thành tựu đột xuất của lịch sử tư
tưởng Việt Nam thời ấy, nhưng với Nguyễn Trãi, là thành tựu tất yếu vì tất cả mọi ý
niệm đó đều đã có trong Quân trung từ mệnh tập, đây chỉ là tập đại thành. Thành
quả đó do ba nguyên nhân. Trước hết do tài năng siêu việt của nhà trí thức-người
anh hùng Nguyễn Trãi vì chính ông chứ không ai khác đã từ tầm cao thời đại, khái
quát những giá trị to lớn của đất nước và đồng bào, của văn hoá Việt. Nguyên nhân
thứ hai thuộc thời đại đầy biến động to lớn, khiến vấn đề dân tộc dân chủ được đặt
ra cực kỳ gay gắt. Người trí thức Nguyễn Trãi đã được tôi luyện trong hoàn cảnh đó,
ông nhìn thấy giang sơn và dân nước mình trong máu và nước mắt trước khi thấy họ
trong hào quang chiến thắng. Với một chút hài hước có thể nói nguyên nhân thứ ba
thuộc “công” của giặc Minh. Chính vì trong thời gian dài phải thường xuyên đương
đầu với kẻ thù mạnh, thâm độc và gian xảo như giặc Minh khiến tư duy Nguyễn Trãi
thêm sắc sảo. Chẳng hạn luận điểm vĩ đại của ông Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân
chính là để phản bác luận điệu xảo trá của quân Minh, vạch rõ bộ mặt thật của
chúng đằng sau chiêu bài nhân nghĩa “hưng diệt kế tuyệt”, tư tưởng này đã được bộc
lộ cụ thể hơn ở Hựu đáp Phương Chính thư (số 5)(3), Tái phục Phương Chính thư (số
8).
Giá trị văn chương của Bình Ngô đại cáo thấm nhuần ở toàn bộ tác phẩm do người
viết luôn nhìn nhận sự vật, hiện tượng cùng với một trí tuệ sắc sảo là một tâm hồn
tinh nhạy, con tim giàu cảm xúc. Điều này thể hiện kín đáo nhưng mạnh mẽ ở ngay
cả đoạn đầu, đoạn chứa đựng những khái quát về lịch sử dài lâu và quang vinh của
đất nước, đoạn chứa đựng những tư tưởng lớn của một bản tuyên ngôn độc lập.
Niềm tự hào to lớn, kiêu hãnh vì được làm con dân của một dòng giống anh hùng và
văn hiến được tác giả thể hiện cô đúc qua những phó từ ngắn gọn: thực (Ngã Đại
Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang = Nước Đại Việt ta thật là nước văn hiến)(4),
ký (Sơn xuyên chi phong vực ký thù = Núi sông bờ cõi đã chia), diệc (Nam Bắc chi
phong tục diệc dị = Phong tục Bắc Nam cũng khác). Ở những đoạn sau, khi lên án tội
ác quân xâm lược, kể lại những khốn khó của nghĩa quân buổi đầu dựng nghiệp,

với bản lĩnh cao mới tạo nên được. Nguyễn Trãi rất linh hoạt chính ở chỗ đầy bó buộc
này. Nhạc tính của câu văn Bình Ngô đại cáo đa dạng, phù hợp với nội dung câu văn
tự sự, trữ tình hay nghị luận. Ông tuyên ngôn bằng câu súc tích, chắc nịch Ngã Đại
Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang. Miêu tả tội ác quân thù, ông lại sử dụng thủ
pháp trùng điệp, như cố ghi hết tội ác to lớn, trời không dung, đất không tha của
chúng. Chúng tôi quả rất băn khoăn trước nhận định: “Cáo thường được viết bằng
văn biền ngẫu”(5). Nhận định này có thể làm cho người dạy- học Bình Ngô đại cáo ở
trường phổ thông trung học hình dung theo hai hướng. Một là cho rằng ở nước ta,
ngoài “thiên cổ hùng văn” này còn có những bản cáo khác nữa, thực ra, trong những
bộ quốc sử hiện còn đều không nói tới các bản đại cáo nào khác. Đọc sử sách cũ đôi
khi chúng ta gặp cụm từ “đại cáo thiên hạ” thì chỉ với ý nghĩa là nhà vua hoặc triều
đình, hoặc người đứng đầu một phong trào ban bố rộng rãi điều gì đó, còn không dễ
mà có được những bản đại cáo như thời kỳ đầu của nhà Hậu Lê. Phải có điều kiện
song hành, bên cạnh một chiến công chính nghĩa lừng lẫy còn phải có một thiên tài
văn chính luận. Ngoài thời Lê Lợi và Nguyễn Trãi, chúng ta thấy còn có thời Quang
Trung Nguyễn Huệ và Ngô Thì Nhậm. Biết đâu vị hoàng đế anh hùng và thiên tài họ
Ngô từng nghĩ đến điều này, nhưng đứng trước Bình Ngô đại cáo các vị lại có cảm
nghĩ như Lý Bạch xưa lên lầu Hoàng Hạc cảm xúc dồi dào mà ngần ngại không đề
thơ vì có thơ Thôi Hiệu trên đầu! Ngoài ra người dạy- học Ngữ văn ở phổ thông trung
học có thể sẽ hình dung rằng trước Bình Ngô đại cáo, ở Trung Quốc thể văn này đã
được viết bằng văn biền ngẫu và cùng với nó, đã có hình thức hoàn chỉnh, và theo
cách ứng xử của văn chương thời trung đại, Nguyễn Trãi chỉ còn “lắp” câu chữ của
mình vào. Thực ra, cho đến nay khi nói về thể cáo, ngoài Bình Ngô đại cáo các
chuyên gia văn học trung đại Việt Nam cũng chỉ nhắc đến các bài cáo trong Thượng
Thư. Các văn bản trong Thượng Thư ra đời trước công nguyên nhiều thế kỷ(6) còn
văn biền ngẫu xuất hiện thời Hán, Ngụy và thịnh hành thời Lục triều. GS. Mai Quốc
Liên cho rằng: “Nguyễn Trãi đã với tay ra hàng hai mươi thế kỷ để dùng lại một thể
loại cổ xưa hầu như đã chết trong văn học Trung Quốc- cáo- và đưa vào đó một nội
dung hoàn toàn mới”(7). Thật vinh dự cho Nguyễn Trãi và Bình Ngô đại cáo vì đã làm
nên sự độc đáo trong văn học trung đại Việt Nam là chỉ một tác phẩm làm nên một

Thần nhân chi sở cộng phẫn,
Thiên địa chi sở bất dung.
(Lẽ nào trời đất dung tha, Ai bảo thần nhân chịu được). Khi nhìn lại khó khăn chồng
chất của buổi đầu khởi nghĩa, Nguyễn Trãi cho rằng: Cái thiên dục khốn ngã, dĩ
giáng quyết nhiệm/ Cố dư ích lệ chí, dĩ tế vu gian (Trời thử lòng giao cho mệnh lớn,
Ta gắng chí khắc phục gian nan). Ở đoạn miêu tả cảnh hai bên giao tranh đẫm máu,
tác giả viết: Phong vân vị chi biến sắc/ Nhật nguyệt thảm dĩ vô quang (Ghê gớm
thay sắc phong vân phải đổi, Thảm đạm thay ánh nhật nguyệt phải mờ). Còn câu
văn bị đánh giá tiêu cực, thậm chí bị lược bỏ là ở đoạn cuối, cắt nghĩa nguyên nhân
của chiến công bình Ngô vĩ đại. Chúng ta đã thấy ở cảm nhận của Nguyễn Trãi thể
hiện trong suốt bản đại cáo, lực lượng siêu hình luôn song hành, tương giao với con
người. Ở thế kỷ XV mà không thụ cảm thế giới như vậy thì mới là lạ. Xoá bỏ hoặc
đánh giá tiêu cực câu văn đó là chỉ phủ nhận một khâu trong cả chuỗi mắt xích, hơn
nữa theo chúng tôi, đây lại là trường hợp dễ được người ngày nay cảm thông nhất.
Suốt bản đại cáo Nguyễn Trãi đã trình bày một cách hệ thống và biện chứng những
yếu tố vật chất và tinh thần đưa đến toàn thắng của quân ta, thảm bại của kẻ thù,
bởi vậy câu văn này không nhằm phủ nhận sự nỗ lực chiến đấu hy sinh để chiến
thắng của quân dân ta trong hàng chục năm trời, nó chủ yếu biểu lộ lòng tri ân tổ
tiên, là một cách khẳng định chính nghĩa tất thắng (những điều đã trở thành nội
dung đạo lý Việt Nam). Ngày nay tất nhiên các văn bản quan phương không còn viết
như thế nhưng trong rất nhiều tình huống của đời sống, người Việt Nam thuộc nhiều
tầng lớp còn trữ tình theo cách đó. Câu văn làm cho tính chất biểu cảm của văn bản
thêm đậm đà, giá trị văn chương càng nổi bật.
Đã có mấy cách giải thích về chữ Ngô trong Bình Ngô đại cáo, trong đó có người cho
rằng Nguyễn Trãi sử dụng cách gọi của dân gian, “Nguyễn Trãi đã dùng một từ mà
nhân dân quen dùng”, “để chỉ quân Trung Quốc, người Trung Quốc xấu xa, tàn ác,
với hàm ý khinh bỉ, phê phán”(9). Cách hiểu này đầu tiên do một nhà nghiên cứu
văn học dân gian nêu lên trong dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi (1980)
và được một số nhà nghiên cứu tán đồng. Bản thân chúng tôi cũng có lúc tin như thế
nhưng về sau, khi có điều kiện đọc trước tác của Nguyễn Trãi nhiều hơn, kết hợp với

in gần kề Bình Ngô đại cáo, nếu giải thích chữ Ngô trong bản đại cáo là cách định
danh biểu thị sự khinh bỉ thì không thuyết phục được người dạy- học.
Tóm lại, chỉ căn cứ vào Bình Ngô đại cáo thì sự đối lập sắc thái ý nghĩa giữa hai cách
gọi Minh và Ngô không rõ, và tìm hiểu những văn bản trước đó được tập hợp trong
Quân trung từ mệnh tập thì chưa có sự đối lập này.
Ngoài những trường hợp đã được các nhà nghiên cứu dẫn ra, chúng tôi thấy thêm vài
trường hợp gọi người phương Bắc là Ngô với ý khinh thị. Đây là một câu trong bài
Dăn đời phú (khuyết danh):


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status