TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tiểu luận môn: Thiên Văn Học Tên đề tài: Giáo viên hướng dẫn: Ths. Trần Quốc Hà
Nhóm thực hiện:
Nguyễn Hải Âu
Võ Thị Hoa
Nguyễn Thị Thúy Liễu
Phương Nghĩa
Nguyễn Thị Yến Nhi
Lê Thanh Nhẫn
Đàng Thị Kim Sắc
Đỗ Thị Thanh
Đỗ Thị Hồng Thấm
Nguyễn Thị Phương Thảo (8-4)
Hoàng Thị Thanh Thảo
Nguyễn Thị Phương Thảo (29-1)
Nguyễn Thị Kiều Thu
Nguyễn Thanh Ngọc Thuỷ
Đoàn Thị Minh Thư
II.3. Ứng dụng: .....................................................................................................16
III. HIỆN TƯỢNG NHẬT THỰC NGUYỆT THỰC:...................................... 17
III.1. Nhật thực .....................................................................................................17
III.1.1. Nhật thực là gì?.......................................................................................17
III.1.2. Các loại nhật thực: ..................................................................................17
III.1.3. Quan sát nhật thực: .................................................................................20
III.2. Nguyệt thực: ................................................................................................23
III.2.1. Nguyệt thực là gì?...................................................................................23
III.2.2. Các loại nguyệt thực: ..............................................................................23
III.2.3. Quan sát nguyệt thực : ............................................................................24
III.3. Nguyên nhân xảy ra hiện tượng nhật thực nguyệt thực và chu trình nhật
thực nguyệt thực: ..................................................................................................24
III.3.1. Nguyên nhân xảy ra nhật thực - nguyệt thực: .........................................25
III.3.2. Chu kì nhật nguyệt thực: .........................................................................27
IV. HIỆN TƯỢNG BIẾN ĐỔI MÀU SẮC TRÊN BẦU TRỜI:....................... 28
Tiểu luận môn thiên văn học GVHD:Th.S Trần Quốc Hà
Trang 2
V.2.3. Tại sao bảy sắc cầu vồng lại được sắp sếp theo thứ tự như vậy?...............43
V.2.4. 4/ Tại sao cầu vồng có dạng một vòng cung? ...........................................43
V.2.5. Vùng Alexandre là gì? .............................................................................44
V.2.6. Tại sao không đến được chân cầu vồng? ..................................................45
V.3. Một số cầu vồng đặc biệt: ..............................................................................45
VI. HIỆN TƯỢNG MẶT TRỜI GIẢ: .............................................................. 49
VI.1. Giới thiệu hiện tượng:..................................................................................49
VI.1.1. Hiện tượng mặt trời giả là gì? .................................................................49
VI.1.2. Các nơi xuất hiện mặt trời giả:................................................................49
VI.2. Giải thích hiện tượng:..................................................................................51
VI.2.1. Halo:.......................................................................................................51
VI.2.2. Quầng sáng halo được hình thành như thế nào? ......................................53
VI.2.3. Mặt trời giả hình thành như thế nào?.......................................................60
Tài liệu tham khảo............................................................................................ 62
I. HIỆN TƯỢNG MÂY DẠ QUANG:
I.1. Giới thiệu hiện tượng:
Những đám mây dạ quang (Noctilucent
Cloud hay Night-shining Cloud) là những đám
mây cao trong bầu khí quyển (85km) khúc xạ
ánh sáng vào lúc trời mờ tối (hoàng hôn hay
bình minh) khi mặt trời đã lặn. Lúc đó mây dạ
quang toả sáng bầu trời mà không thấy một
nguồn sáng rõ rệt nào cả. Những hình ảnh
hoàng hôn kỳ thú trên bầu trời về đêm đã trở
thành một trong những thú vui thư giãn phổ biến trên toàn thế giới.
Dù mây dạ quang trông giống như ở ngoài không gian, nhưng thực ra chúng
vẫn ở trong tầng giữa khí quyển trái đất (độ cao từ 50 đến 85 km). Tầng này không
những rất lạnh (-125
0
C) mà còn rất khô - khô gấp 100 triệu lần không khí ở hoang
mạc Sahara.
Mây dạ quang là hiện tượng tương đối mới lần
đầu tiên được mô tả vào năm 1885, hai năm sau sự
kiện phun trào của đảo núi lửa Krakatoa (Indonesia).
Núi lửa đã phun một trùm tro bụi và mảnh vụn lên bầu
khí quyển Trái Đất đạt tới độ cao 80 km. Sự kiện này
đã ảnh hưởng tới khí hậu và thời tiết toàn cầu trong nhiều năm và có lẽ đã tạo ra những
đám mây dạ quang đầu tiên.
Ảnh hưởng của vụ phun trào núi lửa Krakatoa dần dần cũng mất đi, nhưng
những đám mây tích điện màu xanh lục bất thường thì vẫn còn lại. Chúng náu mình
trong tầng giữa mỏng manh của Trái Đất – đây là vùng khí quyển bên trên với áp lực
nhỏ hơn 10.000 lần áp lực trong nước biển. Chúng xuất hiện thường xuyên nhất vào
các tháng mùa hè từ 50 đến 70 độ Bắc và Nam. Một thế kỷ trước đây, chúng bị hạn
chế ở những vĩ độ trên 50, phải đến những nơi như Anh, Scandinavi và Nga, khu vực
tiên các đám mây sáng rực này
được quan sát từ mặt đất, trên bầu trời
Budapest, Hungary hôm 15/06/2007.
(Ảnh:LiveScience
)Vào ngày 11/06/2007, chiếc
cameracủa vệ tinh nhân tạo AIM
(Aeronomy of Ice in the Mesosphere ) đã
cung cấp dữ liệu đầu tiên về những đám
mây dạ quang ở Bắc cực thuộc khu vực
châu Âu và Bắc Mỹ. Màu trắng và xanh
sáng hiển thị cấu trúc đám mây dạ quang,
màu đen là những nơi không có dữ liệu.
(Ảnh: LiveScience)
Tiểu luận môn thiên văn học GVHD:Th.S Trần Quốc Hà
Trang 6
I.2. Giải thích hiện tượng:
Tro núi lửa Krakatoa có thể là nguyên nhân của năm 1885, nhưng không thể giải
thích được cho hiện tượng của ngày nay. Những đám mây gần trái đất có thể lấy bụi từ
bão gió sa mạc, nhưng thật khó mà bốc bụi lên đến tận tầng giữa của khí quyển. Điều
này có thể là do bụi vũ trụ. Mỗi ngày trái đất tiếp xúc với hàng tấn thiên thạch - những
mẩu vụn chất thải từ các sao chổi và hành tinh nhỏ. Đa số chúng có kích thước phù
hợp với các đám mây dạ quang.
Một nhà vật lý học plasma Paul M. Bellan – giáo sư vật lý ứng dụng tại Viện công
nghệ California (Caltech) cuối cùng đã tìm ra lời giải đáp cho đặc điểm kỳ lạ của
những đám mây dạ quang, chấm dứt bí ẩn kéo dài nhiều thập kỷ. Ông cho biết : “Phạm
Giáo sư Bellan nói: “Nếu có các hạt băng phủ kim loại trong mây dạ quang thì
rađa sẽ phản ứng rất mạnh. Hiện tượng này không phải là tổng hợp của các phản ứng
đối với từng hạt băng. Trên thực tế các hạt băng không gây ra phản ứng mạnh đến thế.
Điều mấu chốt chính là các đường gợn sóng của đám mây có chứa hạt băng phủ kim
loại đã phản xạ cùng nhau và củng cố cho nhau, hiện tượng này giống như một đoàn
diễu hành đều bước qua cầu và khiến cây cầu rung chuyển”.
Kết luận:
Mây dạ quang được cấu tạo từ những tinh thể nước đá nhỏ xíu, tương đương với
kích thước của các phân tử khói thuốc lá. Ánh mặt trời phản chiếu từ những tinh thể
này khiến cho chúng có màu xanh đặc trưng. Các hạt băng trong mây dạ quang được
bao phủ bởi một lớp kim loại mỏng có thành phần bao gồm Natri và sắt. Natri và sắt ở
đâu ra ?
Do tro bụi và mảnh vụn phun trào từ núi lửa lên bầu khí quyển Trái Đất đạt tới
độ cao vào cỡ 80 km.
Nguyên tử Natri và sắt thu thập được trong tầng khí quyển bên trên sau khi sao
băng siêu nhỏ nổ tung trên bầu trời. Các nguyên tử kim loại này định cư trong lớp hơi
nước mỏng ở ngay trên độ cao nơi xảy ra mây dạ quang.
************** Tiểu luận môn thiên văn học GVHD:Th.S Trần Quốc Hà
Trong thiên văn học, cực quang là một hiện tượng quang học được đặc trưng
bởi sự thể hiện đầy màu sắc của ánh sáng trên bầu trời về đêm. Các dải sáng này liên
tục động và thay đổi làm cho chúng trông giống như những dải lụa màu trên bầu trời.
Đây có thể coi là một trong những hình ảnh đẹp của tự nhiên.
Biểu hiện:
Màu sắc cực quang:
Những dải ánh sáng màu hồng, lam,
vàng, tím… rực rỡ và biến ảo khôn
lường. Tia này vừa tắt đi, tia khác lại
xuất hiện, nhảy múa, lung linh đủ màu
sắc...
Phần lớn các cực quang có màu
vàng ánh lục nhưng đôi khi các tia cao
sẽ có màu đỏ ở đỉnh và dọc theo gờ
Tại Juneau, Alaska,
Mỹ
Bắc cực quang ở Alaska
Nam cực
quang trên
Trường đại học công nghệ Helsinki đã thực hiện việc kiểm tra và ghi âm các âm
thanh này. Theo báo Kaleva, người ta đã ghi nhận có các tiếng kêu rền, tiếng ầm và
tiếng nổ khi có các cực quang vùng cực với mức độ sáng cao.
Cực quang trong văn hoá nhân gian:
Trong thần thoại Bullfinch năm 1855 của Thomas Bulfinch đã có khẳng định rằng
trong thần thoại Na Uy có kể :
Các Valkyrie là các cô gái đồng trinh tựa chiến binh cưỡi ngựa được trang bị áo
giáp và giáo. Khi họ đi về phía mục tiêu của mình, áo giáp của họ tỏa ra ánh sáng lập
Tiểu luận môn thiên văn học GVHD:Th.S Trần Quốc Hà
Trang 11
lòe kỳ lạ, nó chiếu sáng toàn bộ bầu trời phương bắc, tạo ra cái mà con người gọi là
"bắc cực quang" hay "ánh sáng phương bắc".
Trong khi nó là một khái niệm gây ấn tượng thì lại không có gì trong văn học của
Na Uy cổ hỗ trợ việc xác nhận nó. Mặc dù cực quang là phổ biến ở Scandinavia và
Iceland ngày nay, nhưng khả năng là cực bắc của địa từ trường đã ở xa một cách
đáng kể với khu vực này trong các thế kỷ trước khi có các tư liệu về thần thoại Na Uy,
điều này giải thích sự thiếu vắng các mối liên quan.
Thay vì thế, tư liệu cổ nhất của người Na Uy về norðrljós được tìm thấy trong biên
niên sử của người Na Uy Konungs Skuggsjá có vào khoảng năm 1250. Người ghi chép
sử đã nghe về hiện tượng này từ những đồng bào trở về từ Greenland, và ông ta đã
đưa ra ba giải thích có khả năng nhất: Đại dương được bao quanh bằng các ngọn lửa
bao la hay ánh sáng mặt trời có thể đến được tới phần đêm của thế giới hoặc các sông
băng có thể tích trữ năng lượng để cuối cùng chúng trở thành huỳnh quang.
Tên gọi cổ trong ngôn ngữ của người Scandinavia cho ánh sáng phương bắc được
dịch ra như là ánh sáng cá trích. Người ta tin rằng ánh sáng phương Bắc là sự phản
chiếu màu sắc của các đàn cá trích lớn lên bầu trời.
Trong tiếng Phần Lan, tên gọi của ánh sáng phương Bắc là revontulet, lửa của cáo.
Theo truyền thuyết, những con cáo tạo ra lửa sống ở Lapland, và revontulet là các tia
lửa tạo ra khi chúng phất đuôi của chúng lên trên trời.
của Mặt Trời. CQ khi xuất hiện
mạnh thường đi kèm với những
thay đổi trong địa từ và kéo theo
giao thoa sóng vô tuyến, sóng điện thoại…Thời kỳ mạnh, yếu của CQ có liên quan
chặt chẽ tới chu kỳ hoạt động của mặt trời. Khi mặt trời ở đỉnh chu kỳ, (hoạt động
mạnh nhất), nó bức xạ nhiều hơn mức bình thường. Dòng hạt mang điện va chạm
nhiều hơn với khí quyển, do đó, CQ sẽ xuất hiện rất nhiều và kỳ vĩ.
CQ được sinh ra do sự tương tác của các hạt mang điện tích từ gió mặt trời với lớp
trên của bầu khí quyển và với từ trường của hành tinh. Vì thế chúng là rõ nét nhất ở
các vĩ độ cao gần các cực từ.
Nguồn gốc:
Nguồn gốc của các CQ là khoảng 149 triệu km tính từ Trái Đất về hướng Mặt Trời.
Các hạt cao năng lượng từ Mặt Trời được đưa vào không gian cùng với gió mặt trời
nóng và luôn luôn tồn tại. Luồng gió này đâm với tốc độ siêu thanh về phía Trái Đất
thông qua khoảng không gian liên hành tinh với vận tốc dao động trong khoảng 300
đến trên 1.000 km/s, mang theo cùng với nó là từ trường mặt trời. Gió mặt trời làm
nhiễu loạn từ trường của Trái Đất để tạo ra quyển từ chứa đầy plasma và có hình dạng
Hình ảnh cực quang trên Trái Đất
Hình ảnh
cực quang
trên Sao
Thổ
Ảnh chụp
của nam cực
quang, chụp
từ tàu vũ trụ
trên quỹ đạo
vào tháng 5
năm 1991,
Bản chất vật lý:
Cực quang có thể sinh ra bằng tương tác của các hạt
cao năng lượng (thông thường là điện tử) với các
nguyên tử trung hòa trong lớp trên của khí quyển Trái
Đất. Các hạt cao năng lượng này có thể kích thích (do
va chạm) các điện tử hóa trị được liên kết với nguyên
tử trung hòa. Các điện tử bị kích thích sau đó có thể trở
về trạng thái thấp năng lượng nguyên thủy của chúng
và trong quá trình đó giải phóng ra các photon (ánh
Kristian Birkeland và
thực nghiệm mô hình
Trái Đất của ông.
Tiểu luận môn thiên văn học GVHD:Th.S Trần Quốc Hà
Trang 14
sáng). Quá trình này giống như sự phóng điện plasma trong đèn neon.
Một trong những nhà khoa học đầu tiên tiến hành mô hình hóa CQ là Kristian
Birkeland (người Na Uy). Mô hình từ trường trái đất của ông, chỉ ra rằng các điện tử
cao năng lượng đâm trực tiếp vào mô hình trái đất được dẫn dắt về phía các cực từ và
sinh ra các vòng ánh sáng xung quanh các cực. Ông cũng giả thiết xa hơn nữa "Các
dòng điện như thế được hình dung là có thể tồn tại chủ yếu nhờ các hiệu ứng thứ cấp
của các hạt tích điện từ mặt trời bị lôi kéo vào không gian" (năm 1908). Các dòng điện
như vậy sau này đã được ủng hộ lớn trong bài báo của Hannes Alfvén. Năm 1969,
Milo Schield, Alex Dessler và John Freeman, sử dụng tên gọi "các dòng điện
Birkeland" lần đầu tiên, mà sự tồn tại của chúng cuối cùng đã được xác nhận năm
1973 nhờ vệ tinh Triad của hải quân.
Màu sắc cực quang:
Màu cụ thể nào đó của CQ phụ thuộc vào loại khí cụ thể của khí quyển và trạng thái
tích điện của chúng cũng như năng lượng của các hạt đâm vào khí của khí quyển. ôxy
sát.
Biến động Mặt Trời:
Mặt Trời là ngôi sao với một số đặc trưng dao động lớn theo thang thời gian từ vài
giờ đến hàng trăm năm. Hướng của từ trường liên hành tinh cũng như vận tốc và mật
độ của gió mặt trời được điều chỉnh bởi hoạt động của Mặt Trời. Chúng có thể thay
đổi rất mạnh và ảnh hưởng tới hoạt động của địa từ trường. Khi hoạt động của địa từ
trường tăng lên thì rìa dưới của ôvan CQ thông thường sẽ dịch chuyển tới các vĩ độ
thấp hơn. Tương tự, sự phun trào của Mặt Trời cũng xảy ra đồng thời với sự mở rộng
của các ôvan cực quang. Nếu từ trường liên hành tinh có hướng ngược với địa từ
trường thì nó làm tăng luồng năng lượng vào trong quyển từ và do đó làm tăng luồng
năng lượng trong vùng cực của Trái Đất. Điều này sẽ tạo ra hệ quả là sự tăng cường
hoạt động của CQ.
Các nhiễu loạn trong quyển từ Trái Đất gọi là bão từ. Các trận bão từ này có thể tạo
ra sự thay đổi đột ngột trong độ sáng và chuyển động của cực quang, gọi là các bão từ
phụ. Các dao động từ trường của các trận bão từ và bão từ phụ này có thể sinh ra các
thay đổi lớn trong các lưới điện và đôi khi làm hỏng các thiết bị điện trong lưới điện,
tạo ra sự mất điện hàng loạt. Chúng cũng ảnh hưởng tới hoạt động của liên lạc viễn
thông bằng sóng vô tuyến theo các hệ thống vệ tinh-mặt đất và các hệ thống hoa tiêu.
Các trận bão trong quyển từ có thể kéo dài vài giờ hay vài ngày, và các bão từ phụ có
thể diễn ra vài lần trong ngày. Mỗi trận bão phụ có thể giải phóng hàng trăm TJ năng
lượng, nhiều ngang với lượng điện năng tiêu thụ ở Mỹ trong 10 giờ. Tiểu luận môn thiên văn học GVHD:Th.S Trần Quốc Hà
Trang 16
II.3. Ứng dụng:
Du lịch cực quang:
ảnh chuyên nghiệp Jeff Hapeman khi
ông tới ngắm sao trên hồ Superior tại
Michigan, Hoa Kì.
Tiểu luận môn thiên văn học GVHD:Th.S Trần Quốc Hà
Trang 17
III. HIỆN TƯỢNG NHẬT THỰC NGUYỆT THỰC:
III.1. Nhật thực
III.1.1. Nhật thực là gì?
"Nhật thực" là hiện tượng khi Mặt Trăng đi qua giữa Trái Đất và Mặt Trời và che
khuất hoàn toàn hay một phần Mặt Trời khi quan sát từ Trái Đất.
Khái niệm "Nhật thực" có thể được mở rộng ra không chỉ cho việc ánh sáng Mặt
Trời chiếu xuống Trái Đất bị che khuất, mà có thể là hiện tượng ánh sáng từ một ngôi
sao tỏa sáng nào đó (định tính) chiếu xuống một hành tinh đang quay trong quỹ đạo bị
chi phối của nó, bị che khuất bởi một thiên thể nào đó.
Điều này chỉ có thể xảy ra tại thời điểm sóc trăng non được quan sát thấy từ Trái
Đất, khi Mặt Trời và Mặt Trăng giao hội.
Do mặt trăng cùng trái đất tự quay từ tây sang đông, bởi vậy nhật thực bao giờ cũng
bắt đầu xuất hiện từ phía tây.
III.1.2. Các loại nhật thực:
Lý do để có một số kiểu nhật thực là sự phụ
thuộc vào quỹ đạo hình elíp của Mặt Trăng quanh Trái
Đất.
Một trong những sự trùng hợp đáng lưu tâm
nhất trong tự nhiên là:
Mặt Trời nằm cách xa khoảng 400 lần so với
khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng.
Mặt Trời cũng có đường kính lớn gấp khoảng
Nhật thực hình khuyên: xảy ra khi Mặt Trăng ở xa
Trái Đất nhất (gần điểm viễn địa), Mặt Trời và Mặt Trăng
nằm chính xác trên một đường thẳng và kích cỡ biểu kiến
của Mặt Trăng nhỏ hơn kích cỡ biểu kiến của Mặt Trời,
không thể che khuất hoàn toàn Mặt Trời .Vì thế Mặt Trời
vẫn hiện ra như một vòng đai rực rỡ bao quanh Mặt Trăng.
Nhật thực lai: là một kiểu trung gian giữa nhật thực
toàn phần và nhật thực hình khuyên. Ở một số điểm trên Trái
Đất, nó được quan sát thấy là nhật thực toàn phần; ở những
nơi khác nó lại là nhật thực hình khuyên.
Thuật ngữ chung cho nhật thực toàn
phần, hình khuyên hay nhật thực lai là
nhật thực trung tâm.
nhật thực một phần
Khi nhật thực toàn phần xảy ra,
mặt trăng che khuất hẳn mặt trời
Tiểu luận môn thiên văn học GVHD:Th.S Trần Quốc Hà
Trang 19
Nhật thực một phần: xảy ra khi Mặt Trời và Mặt Trăng không nằm chính xác
trên cùng một đường thẳng, và Mặt Trăng chỉ che khuất một phần của Mặt Trời. Hiện
tượng này thường được quan sát thấy ở nhiều nơi trên Trái Đất bên ngoài đường đi của
Quan sát nhật thực:
Nhật thực chỉ có thể quan sát thấy tại các vùng trên Trái Đất đang là ban ngày.
Ở các điều kiện thông thường, Mặt Trời quá sáng tới mức rất khó nhìn trực tiếp vào
đó. Tuy nhiên, trong khi xảy ra nhật thực, khi đa phần Mặt Trời bị che khuất, mọi
người cảm thấy dễ nhìn hơn nên cũng thường cố sức quan sát hiện tượng.Thật ra, nhìn
vào Mặt Trời khi nhật thực đang diễn ra cũng nguy hiểm như khi nhìn trực tiếp vào nó,
ngoại trừ chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn khi Mặt Trời bị che khuất "toàn bộ",
(toàn bộ chỉ xuất hiện khi đĩa Mặt Trời bị che khuất hoàn toàn— nó không xảy ra
trong nhật thực hình khuyên). Quan sát đĩa Mặt Trời thông qua bất kỳ một hình thức
trợ giúp quang học như ống nhòm, kính thiên văn, hay thậm chí là một kính ngắm
quang học máy ảnh còn nguy hiểm hơn.
Quan sát nhật thực một phần và nhật thực hình khuyên:
Theo dõi Mặt trời trong khi nhật thực một phần hay hình khuyên(và khi nhật thực
toàn phần xảy ra mà chúng ta đang đứng ở ngoài bóng đen) yêu cầu chúng ta phải có
thiết bị bảo vệ mắt đặc biệt, hoặc các cách theo dõi gián tiếp.
Đĩa mặt trời có thể xem bằng cách sử dụng những thiết bị lọc để ngăn chặn ảnh
hưởng có hại của bức xạ Mặt trời. Kính râm là không đủ an toàn, vì chúng không ngăn
chặn được các bức xạ của tia hồng ngoại nguy hiểm và không nhìn thấy, đủ để gây ra
hỏng mắt. Bạn chỉ được dùng những bộ lọc ánh sáng mặt trời được thiết kế và được
chứng nhận để xem trực tiếp đĩa Mặt trời.
Cách an toàn nhất để xem đĩa Mặt trời là cách quan sát gián tiếp. Điều này có thể
thực hiện được bằng cách đưa hình ảnh của đĩa Mặt trời lên trên một tờ giấy trắng
hoặc tấm bìa trắng bằng cách dùng một cặp kính hiển vi (che thấu kính của một chiếc),
một kính viễn vọng, hoặc một tấm bìa cứng khác có khoan một lỗ nhỏ (đường kính
khoảng 1mm), thường được gọi là lỗ châm kim. Hình ảnh nhận được này của Mặt trời
có thể xem được một cách an toàn. Kỹ thuật này có thể được sử dụng để quan sát các
Chu kỳ 1 nhật thực
Tiểu luận môn thiên văn học GVHD:Th.S Trần Quốc Hà
Sao Thuỷ) — có thể được quan sát thấy gần điểm mọc hay lặn của mặt trời trên đường
chân trời nơi không thể nhìn thấy được nếu không xảy ra nhật thực.
• Sự xảy ra đồng thời của nhật thực và sự vượt ngang qua của một hành
tinh:
Tiểu luận môn thiên văn học GVHD:Th.S Trần Quốc Hà
Trang 22
Trên nguyên tắc, việc xảy ra đồng thời của nhật thực và sự lướt qua của một hành
tinh là có thể. Nhưng các hiện tượng đó cực kỳ hiếm bởi thời gian diễn ra của chúng
rất ngắn. Lần xảy ra đồng thời hai hiện tượng nhật thực và sự lướt qua của Sao Thuỷ
được diễn ra diễn ra ngày 5 tháng 7 năm 6757, và nhật thực với sự lướt qua của Sao
Kim sẽ diễn ra ngày 5 tháng 4 năm 15232.
Chỉ 5 giờ sau khi Sao Kim lướt qua bề mặt Mặt Trời ngày 4 tháng 6 năm 1769 đã
xảy ra một vụ nhật thực toàn phần, có thể quan sát thấy từ Bắc Mỹ, Châu Âu và ở Bắc
Á là nhật thực một phần. Đây là khoảng thời gian chênh lệch nhỏ nhất giữa hai hiện
tượng trong quá khứ lịch sử.
Hiện tượng thường xảy ra hơn —nhưng vẫn khá hiếm— là sự giao hội của bất cứ
hành tinh nào (đặc biệt không chỉ riêng Sao Thủy và Sao Kim) tại thời điểm diễn ra
nhật thực toàn phần, khi xảy ra hiện tượng đó hành tinh sẽ được quan sát thấy ở rất gần
Mặt Trời đang bị che khuất, mà nếu không xảy ra nhật thực nó sẽ chìm khuất trong
ánh sáng chói của Mặt Trời.
Ảnh hưởng gây hại mắt:
Nhìn trực tiếp vào quyển sáng của Mặt Trời (đĩa sáng
của chính Mặt Trời), thậm chí chỉ trong vòng vài giây, có
thể gây tổn thương nghiêm trọng cho võng mạc mắt, bởi
vì số lượng lớn những tia bức xạ nhìn thấy và không nhìn
thấy được ra quyển sáng này phát ra. Tổn thương có thể
dẫn tới giảm thị lực vĩnh viễn, thậm chí gây mù loà. Võng
mạc không nhạy cảm với cảm giác đau, và những hậu quả
khi võng mạc bị tổn thương có thể chưa xuất hiện trong
Trời chiếu tới Trái Đất sẽ để lại phía sau vùng bóng đen và vùng nửa tối.
Nguyệt thực bán phần: Khi Mặt Trăng đi vào vùng nửa tối ta có bán Nguyệt
thực (Nguyệt thực bán dạ ). Quan sát hiện tượng này ta chỉ thấy Mặt Trăng tối đi một
chút so với bình thường. thường khó nhìn thấy bằng mắt thường do ánh chói của Mặt
Trời giảm thiểu.
Nguyệt thực toàn phần : Khi Mặt Trăng đi qua và nằm hoàn toàn trong vùng
bóng đen ta có Nguyệt thực toàn phần. Quan sát Mặt Trăng trong hiện tượng này ta
thấy lần lượt xuất hiện tất cả các pha của các trường hợp trước. Đặc biệt hơn khi Mặt
Trăng nằm hoàn toàn trong vùng bóng đen ta sẽ thấy nó có màu đỏ sẫm(do khi có
hiện tượng nguyệt thực toàn phần xảy ra tia Mặt Trời trước khi đến được Mặt Trăng đã
chiếu vào chóp bóng của Trái Đất và bị khí quyển Trái Đất khúc xạ. Các tia sáng bước
sóng ngắn đã bị cản lại hết, chỉ còn các tia có bước sóng dài (đỏ, cam) xuyên qua, do
đó, Mặt Trăng thường hiện ra dưới màu đỏ nhạt. )
Tùy thuộc vào đường đi của Mặt Trăng trong vùng nửa tối mà thời gian quan sát
được Nguyệt thực nhiều hay ít.
Tiểu luận môn thiên văn học GVHD:Th.S Trần Quốc Hà
Trang 24
Nguyệt thực một phần: Khi Mặt Trăng tiếp giáp với vùng bóng đen ta có
Nguyệt thực một phần. Quan sát hiện tượng này ta sẽ thấy cung tròn của bóng Trái Đất
hiện rõ trên Mặt Trăng. Chính nhờ hiện tượng này mà Aristos đã phát hiện ra Trái Đất
có hình cầu.
III.2.3. Quan sát nguyệt thực :
Nguyệt thực thường diễn ra vào các đêm rằm, khi Mặt trăng đi vào vùng tối phía
sau Trái đất. Lúc này Mặt trăng không còn được Mặt trời chiếu sáng trực tiếp nên
không sáng như bình thường. Khi Mặt trăng đi vào vùng bóng nửa tối sẽ diễn ra
nguyệt thực bán dạ, và khi vào vùng tối sẽ có nguyệt thực toàn phần hoặc một phần.