1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN THỊ KIM YẾN
GIÁO DỤC KĨ NĂNG HOẠT ĐỘNG NHÓM
CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI
THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Mã số: 9.14.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Hòa
Hà Nội - 2020
1
2
LỜI CẢM ƠN
Với tất cả tấm lòng kính trọng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS. Nguyễn Thị Hòa đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp em trong suốt thời
gian học tập và nghiên cứu. Cô đã trực tiếp, tận tình, động viên và tạo mọi điều kiện
tốt nhất để em hoàn thành luận án này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy, Cô giáo Khoa Giáo dục Mầm non,
4
5
DANH MỤC BẢNG
5
6
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
6
7
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
Việc hình thành kĩ năng hoạt động nhóm (KNHĐN) cần được bắt đầu càng
sớm càng tốt, vừa tạo thành công cụ sống cho trẻ, vừa góp phần giúp trẻ phát triển
hoàn thiện nhân cách. Hơn nữa, 5 - 6 tuổi là giai đoạn nhân cách phát triển mạnh và
được định hình về cơ bản. Điều 22, Luật Giáo dục nước ta quy định [46] “Mục tiêu
của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ,
hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một”
nhằm thực hiện mục tiêu trên, nhà giáo dục không chỉ chú ý đến việc truyền thụ
kiến thức đơn lẻ mà quan tâm đến cách dạy, cách làm việc cùng nhau giữa cô và trẻ,
giữa trẻ với nhau.
Trẻ 5-6 tuổi đang chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa nhà trường phổ thông, với
hoạt động chủ đạo là học tập; ở đó đòi hỏi các em phải có sự phối hợp, cùng nhau
thực hiện có hiệu quả các hoạt động hay nhiệm vụ học tập; đồng thời, thông qua đó
phát triển được “năng lực hợp tác" – năng lực cốt lõi cần hình thành ở học sinh phổ
thông. Tuy nhiên, thực tế đang cho thấy, khả năng hoạt động nhóm của trẻ mầm non
nói chung còn nhiều hạn chế, khi đứng trước những tình huống hay vấn đề cần có
sự phối hợp với nhau, nhiều em tỏ ra khá lúng túng. Trong khi đó, trường mầm non
lại là môi trường có điều kiện hết sức thuận lợi để rèn KNHĐN cho các em, thông
qua việc tổ chức các hoạt động giáo dục, hoạt động vui chơi cho trẻ.
Rèn luyện để phát triển KNHĐN cho trẻ 5- 6 tuổi sẽ góp phần hình thành và
phát triển các phẩm chất và giá trị sống tích cực như: tôn trọng, tự tin, hòa bình,
trách nhiệm, khoan dung, kỷ luật... chính là sự chuẩn bị tâm thế sẵn sàng cho trẻ đi
học lớp 1, tránh những “thất bại học đường" từ những năm đầu đời của các em.
Có nhiều cách để giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong đó có trò chơi, đặc
biệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề (ĐVTCĐ). Trò chơi ĐVTCĐ là môi trường
9
thuận lợi để giáo dục KNHĐN cho trẻ. Đây là hoạt động chủ đạo của trẻ lứa tuổi
mẫu giáo, trong quá trình chơi trẻ được tự do thể hiện ý tưởng của mình, cùng
nhau tìm kiếm phương tiện để thực hiện nhiệm vụ của trò chơi, tự điều khiển hành
10
4. Giả thuyết khoa học
Trong quá trình chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non, trẻ 5-6 tuổi đã
có một số KNHĐN cơ bản, tuy nhiên các kĩ năng thoả hiệp và giải quyết mâu thuẫn,
xung đột, kĩ năng lắng nghe, tôn trọng và nhường nhịn bạn bè còn nhiều hạn chế.
Giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi đã có những hiệu quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn
nhiều thiếu sót. Nếu đề xuất và sử dụng hợp lí một số biện pháp giáo dục KNHĐN như
hướng dẫn trẻ thảo luận, trao đổi ý kiến để thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm chơi;
tạo tình huống chơi để giúp trẻ thiết lập mối quan hệ giữa các vai chơi, nhóm chơi,
hướng dẫn trẻ cách giải quyết xung đột, mâu thuẫn để thực hiện nhiệm vụ chơi đến
cùng... thì KNHĐN trong khi chơi ĐVCCĐ của trẻ sẽ tốt hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi
ĐVTCĐ ở trường mầm non.
5.2. Khảo sát thực trạng giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi
ĐVTCĐ ở các trường mầm non tại tỉnh Đắk Lắk.
5.3. Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6
tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở các trường mầm non tại tỉnh Đắk Lắk.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Quá trình giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường
mầm non.
6.2. Giới hạn về địa bàn và khách thể khảo sát thực trạng, thực nghiệm
6.2.1. Giới hạn về địa bàn khảo sát thực trạng, thực nghiệm
Các trường mầm non trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột và các huyện của
tỉnh Đắk Lắk (bao gồm 6 trường mầm non ở Thành phố Buôn Ma Thuột (Mầm non
Khánh Xuân, Mầm non Tân An, Mầm non Thành Công, Mầm non Tân Lập, Mầm
non Thắng Lợi, Mầm non 10/3) và 5 trường Mầm non ở các huyện (Mầm non Hoa
Pơ Lang - huyện Buôn Đôn; Mầm non Vàng Anh - huyện Ea H'Leo; Mầm non
Vành Khuyên - huyện Lắk; Mầm non Hoa Sim - huyện M'Đrắk; Mầm non Sơn Ca huyện Ea Súp).
tổ chức các hoạt động giáo dục hướng tới "vùng phát triển gần nhất" của trẻ để giúp
trẻ đạt được những năng lực cao hơn. Trong khi nghiên cứu xây dựng các biện pháp
giáo dục KNHĐN trong trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ 5-6 tuổi luận án phải dựa trên sự
phát triển chung của trẻ và sự phát triển KNHĐN của trẻ 5-6 tuổi.
12
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
7.2.1.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích, tổng hợp các tài liệu trong và
ngoài nước về trẻ mẫu giáo, về KNHĐN của trẻ mẫu giáo, giáo dục KNHĐN cho
trẻ mẫu giáo trong trò chơi ĐVTCĐ.
7.1.1.2. Phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa lí luận: Hệ thống hóa các quan
điểm và lí thuyết giáo dục KNHĐN có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xác định
hệ thống khái niệm và quan điểm, xây dựng khung lí thuyết, đường lối phương pháp
luận và thiết kế điều tra, thiết kế thực nghiệm khoa học.
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường
mầm non làm cơ sở đề xuất một số biện pháp giáo dục KNHĐN cho trẻ 5 – 6 tuổi
trong trò chơi ĐVTCĐ.
7.2.2.2. Phương pháp chuyên gia
Thu thập ý kiến của các chuyên gia về các tiêu chí đánh giá, các bài tập khảo
sát; tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6
tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non.
7.2.2.3. Phương pháp điều tra viết
Sử dụng phiếu điều tra bằng bảng hỏi (Anket) đối với GVMN nhằm tìm hiểu
nội dung, phương pháp, hình thức, biện pháp, các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục
KNHĐN cho trẻ từ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ tại một số trường mầm non,
đánh giá kết quả giáo dục KNHĐN cho trẻ từ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ tại
mềm SPSS.
8. Những luận điểm bảo vệ
8.1. Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đã có KNHĐN trong trò chơi ĐVTCĐ.
8.2. Trò chơi ĐVTCĐ là môi trường giáo dục có nhiều thuận lợi cho việc giáo
dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
8.3. GV giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn trẻ trong trò chơi ĐVTCĐ tạo cơ
hội, điều kiện để giáo dục và phát triển KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
14
9. Đóng góp mới của luận án
9.1. Đóng góp về mặt lí luận
Bổ sung và làm phong phú thêm lí luận về giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi
trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non, trong đó trọng tâm là các khái niệm về
giáo dục KNHĐN cho trẻ, vai trò của trò chơi ĐVTCĐ đối với việc giáo dục
KNHĐN cho trẻ, đặc điểm KNHĐN của trẻ, biện pháp giáo dục KNHĐN cho trẻ
trong trò chơi ĐVTCĐ.
9.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp tư liệu về thực trạng giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi trong trò
chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non tại tỉnh Đắk Lắk, từ đó giúp các trường mầm non
có cơ sở để điều chỉnh quá trình giáo dục kịp thời.
- Các biện pháp giáo dục KNHĐN rẻ 5-6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ ở trường
mầm non được đề xuất là một tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác nghiên cứu,
đào tạo, bồi dưỡng GVMN ở khu vực Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung.
Ngoài ra có thể vận dụng sáng tạo các biện pháp này ở các trường mầm non có điều
kiện giáo dục tương đương để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ.
10. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo nội
dung luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan và cơ sở lí luận về giáo dục KNHĐN cho trẻ 5-6 tuổi
nhiều thế hệ...[86].
Ngoài ra, các tác giả Hansen và Kaufmann (2000) cho rằng sự hợp tác của trẻ
5 tuổi ở trường mẫu giáo giúp trẻ: cảm thấy tốt, phát triển tính sáng tạo và cảm giác
năng suất hiệu quả, phát triển chiến lược đối phó với các vấn đề của cuộc sống, phát
triển cảm giác hạnh phúc và cảm nhận mình thuộc về nơi nào đó. Trẻ học được những
kĩ năng mới, vui chơi, cười, thư giãn, làm quen với nhau và tương tác với nhau trong
quá trình hoạt động trong nhóm [83, tr.89].
Tác giả Hoàng Thị Mai đã định nghĩa “hoạt động nhóm là sự phối hợp và hoạt
động cùng nhau của một nhóm trẻ trong một hoạt động nào đó”. Đồng thời, tác giả
16
chỉ rõ vai trò của GV khi hướng dẫn trẻ học tập, xác định các kĩ năng cần thiết của
trẻ khi tham gia vào nhóm hoạt độn nhằm phát triển các kĩ năng như kĩ năng giao
tiếp, chia sẻ thông tin [33, tr.61].
Nhìn chung, các tác giả trên đều cho rằng KNHĐN có vai trò quan trọng trong
quá trình giáo dục trẻ, giúp trẻ thích ứng trong các mối quan hệ, cùng bạn chia sẻ,
giúp đỡ và tương tác với nhau.
1.1.1.2. Nghiên cứu về khái niệm kĩ năng hoạt động nhóm
Lisa Trumbauer [99], Janet R. Moyles [85], Kristina R. Olson [97], Cao Thị
Cúc [7]... chỉ rõ KNHĐN là kĩ năng hành động phối hợp cùng người khác bao gồm:
biết bàn bạc, phân chia trách nhiệm cho nhau và cùng cố gắng hoàn thành nhiệm vụ
được giao. Trong nhóm chơi, mỗi trẻ cần nhận thức rõ vị trí và vai trò của mình,
biết làm chủ hành vi của bản thân, hiểu và phục tùng quy định của nhóm để nhằm
đạt được mục tiêu chung. Đây là cơ sở để nhìn nhận KNHĐN là các kĩ năng phối
hợp của con người nhằm đạt được mục đích và kết quả chung có giá trị. Sự phối
hợp, thỏa thuận của các thành viên của tác động qua lại tồn tại từ thời điểm tiếp
nhận mục đích hoạt động cùng nhau và kết thúc ở giai đoạn đạt được kết quả.
Newman, Richard S. [104] chỉ rõ KNHĐN là kĩ năng biết bàn bạc, phân chia
trách nhiệm cho nhau và cùng cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao; mỗi trẻ
R. E. Slavin [115] chỉ ra rằng, để tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát triển
KNHĐN một cách hiệu quả cần đảm bảo các điều kiện cụ thể như: Xác định rõ: Số
thành viên của mỗi nhóm? Vai trò, nhiệm vụ của từng thành viên trong nhóm?
Những điều kiện để duy trì mối quan hệ tích cực trong nhóm? Các thành viên trong
nhóm cần được làm quen với nhau để có thể giao tiếp thoải mái cùng nhau; Đảm
bảo các phương tiện, điều kiện cần thiết để duy trì sự hợp tác trong nhóm; Những
vấn đề đưa ra thảo luận trong nhóm phải thực sự rõ ràng và cấp thiết, thu hút được
sự quan tâm của mọi người; Có sự giám sát thường xuyên quá trình hoạt động của
nhóm: chỉ dẫn và giúp đỡ khi cần thiết sao cho mỗi thành viên tuân thủ nghiêm túc
những nội quy chung trong quá trình làm việc; Đánh giá chính xác hiệu quả hoạt
động nhóm nhằm khẳng định những ưu điểm và chỉ ra thiếu sót, hạn chế, từ đó xây
dựng kế hoạch để trẻ cùng nhau tự điều chỉnh và hoàn thiện ở lần làm việc tiếp
theo.
- Nghiên cứu về yêu cầu đối với GV trong việc tổ chức giáo dục KNHĐN cho
trẻ mẫu giáo.
Qua thực tế tổ chức hoạt động nhóm của bản thân và đồng nghiệp, Edgar H.
Schein [81] cho rằng, để rèn luyện ở người học kĩ năng làm việc nhóm, GV cần giúp
trẻ xác định được vị trí, vai trò và trách nhiệm của họ trong nhóm. Trong một nhóm
18
hoạt động, tùy vào khả năng và nhu cầu riêng mà mỗi thành viên có thể giữ một
trong các vai trò như: người quản trị hành chính (chịu trách nhiệm về phương tiện
làm việc của nhóm); người lãnh đạo nhóm (biết tập hợp các thành viên để cùng
hướng tới mục tiêu chung, đảm bảo cho nhiệm vụ được hoàn thành đúng tiến độ…);
người “khích lệ tinh thần” của nhóm; thư ký nhóm; kiểm soát viên; báo cáo viên.
Quá trình hình thành KNHĐN là quá trình chuyển vào trong nhờ có quan hệ
với người xung quanh và hợp tác với bạn bè. Theo thuyết “sự hợp tác tập thể” của
L.X. Vưgôtxky (1934): “Trong sự phát triển của trẻ, mọi chức năng tâm lí cao cấp
đều xuất hiện hai lần: lần thứ nhất như là một hoạt động tập thể, một hoạt động xã
- Nghiên cứu về phương pháp, hình thức giáo dục KNHĐN cho trẻ mẫu giáo
Rachel Harrar đã chú ý đến việc hình thành KNHĐN cho trẻ bằng các
phương pháp, biện pháp dạy học thích hợp. Theo ông GV cần tạo điều kiện cho trẻ
tự chọn bạn học nhóm và giải tán nhóm. Điều này giúp trẻ có những nhận định khi
nhận xét về các bạn và được nghe các bạn nhận xét về chính hoạt động của mình,
từ đó người học [106]. v
Kurt Lewin [98, tr.126] đề ra “thuyết phụ thuộc lẫn nhau trong lịch sử xã hội”
hay còn gọi là thuyết tương tác xã hội” dựa trên cơ sở của Kurt Koffka, người đã đề
ra khái niệm “Nhóm là phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên”. Ông
nhấn mạnh muốn hình thành các nhóm thì cần phải tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau của
các thành viên. Đặc biệt ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cách thức ứng xử
trong nhóm khi nghiên cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên trong các
nhóm dân chủ. Ông đã đi đến kết luận rằng đề hoàn thành mục tiêu chung của một
nhóm thì phải thúc đẩy sự hoạt động nhóm, phải có sự cạnh tranh.
Nguyễn Hữu Châu [5] cho rằng: "dạy học hợp tác là việc sử dụng các nhóm
nhỏ để học sinh làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân
cũng như của người khác". Học tập hợp tác dựa vào ba loại nhóm, đó là: chính thức,
không chính thức và nhóm học tập nền tảng. "Nhóm hợp tác chính thức gồm những
học sinh cùng nhau làm việc để đạt được các mục tiêu chung bằng cách đảm bảo
rằng mỗi thành viên của nhóm đều hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Nhóm học
hợp tác không chính thức là những nhóm đặc biệt, không theo thể thức cố định nào,
có thể tồn tại trong vài phút đến một tiết học. Các nhóm học tập nền tảng thường
kéo dài (ít nhất đến một năm), gồm nhiều thành phần hỗn hợp, số thành viên ổn
định và mục đích căn bản là để các thành viên ủng hộ, khuyến khích lẫn nhau nhằm
đạt được thành công trong học tập. Các nhóm hợp tác nền tảng tạo cho học sinh mối
quan hệ mật thiết trong thời gian dài, cho phép các thành viên có điều kiện giúp đỡ,
khuyến khích và hỗ trợ lẫn nhau trong thực hiện các nhiệm vụ học tập để đạt được
kết quả tối ưu".
cũng giải quyết những nhiệm vụ khác nhau được giao trên lớp. Trong quá trình đó
chúng ta cần xem xét đặc điểm làm việc với trẻ mẫu giáo lớn trong từng giai đoạn
thì mới đưa ra các tác động phù hợp và đạt hiệu quả.
21
Foyle và Lyman (1988) [82, tr.93] xác định các bước cơ bản liên quan đến
việc thực hiện thành công các hoạt động nhóm trong hoạt động học tập như: GV xác
định nội dung được giảng dạy, và các tiêu chí xác định trẻ có thể làm chủ được
những nội dung đó; GV xác định được phương pháp học tập hợp tác hiệu quả nhất,
và kích thước/ quy mô của nhóm; trẻ được chia thành các nhóm; Lớp học được sắp
xếp để tạo thuận lợi cho sự tương tác giữa các nhóm; Các quy trình thực hiện sẽ được
dạy hoặc được đánh giá khi cần thiết để đảm bảo rằng các nhóm hoạt động được
thực hiện trôi chảy.
Như vậy, quy trình tổ chức hoạt động nhóm cho trẻ mẫu giáo được thực hiện
thông qua các giai đoạn, các bước cụ thể. Ở mỗi giai đoạn, mỗi bước lại có những
yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể.
1.1.3. Nghiên cứu giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ mẫu giáo trong trò
chơi đóng vai theo chủ đề
- Nghiên cứu vai trò của trò chơi ĐVTCĐ trong giáo dục KNHĐN cho trẻ mẫu giáo
LX. Vưgotxky (1978), nhà tâm lí học người Nga, đã khởi xướng lí thuyết về
văn hóa xã hội, cho rằng: "yếu tố xã hội và văn hóa tác động đến sự phát triển nhận
thức của trẻ em". Đồng thời, ông nhấn mạnh hoạt động chơi, giúp trẻ phát triển các
kĩ năng xã hội. Thông qua trò chơi trẻ sẽ biết cách giao tiếp, chia sẻ... Theo
Vưgotsky, GV cần động viên trẻ hỗ trợ lẫn nhau trong khi chơi và nâng cao nhận
thức cho trẻ thông qua các hoạt động khám phá. Nhờ đó trẻ sẽ có cơ hội để hoạt
động trong “vùng phát triển gần nhất”. Những kĩ năng chưa phát triển ở trẻ sẽ được
thúc đẩy khi chúng cùng nhau làm việc [60].
Bên cạnh đó, các tác giả A.N.Leonchiev, L.X.Vưgotxky, D.B.Enconhin, cũng
nhấn mạnh đến tính hợp tác trong khi chơi là hình thức hợp tác đầu tiên của hoạt
các mối quan hệ qua lại giữa con người, tạo điều kiện cho trẻ được rèn luyện, điều
chỉnh hành vi của mình theo những chuẩn mực xã hội. Công trình nghiên cứu về trò
chơi của tập thể cán bộ nghiên cứu giáo dục mẫu giáo trường Đại học dưới sự lãnh
đạo của A.P.Uxôva đã chỉ rõ sự hiện diện của hai loại quan hệ trong quá trình chơi.
Một loại quan hệ được xác định bởi nội dung trò chơi (quan hệ giữa các vai chơi).
Loại quan hệ khác đó là những mối quan hệ thực mà các cháu quan hệ với nhau,
bạn bè, thoả thuận với nhau về trò chơi, về phân vai chơi… A.P.Uxôva [59] cho
rằng những mối quan hệ đi kèm trò chơi là cơ sở để hình thành xã hội trẻ em. Chính
xã hội trẻ em đã tác động mạnh mẽ đến việc hình thành KNHĐN ở trẻ.
D.B.Encônhin đã xác định được thành phần cấu trúc của trò chơi và sự phát triển
của nó ở lứa tuổi Mầm non. Ông nhấn mạnh đến tính xã hội trong trò chơi. Những
23
nghiên cứu này là cơ sở để sử dụng trò chơi trong việc giáo dục các loại kĩ năng cho
trẻ mẫu giáo. Các tác giả đều cho rằng trò chơi thúc đẩy các mối quan hệ của trẻ ở
trường lớp và với mọi người xung quanh. Vì vậy, một trong những yếu tố ảnh
hưởng đến trò chơi của trẻ em là môi trường xã hội ở xung quanh trẻ.
A.I. Xôrôkina [63], A.N.Leonchiev [30], A.P.Uxôva [59] đều khẳng định trò
chơi là hình thức hoạt động, là con đường chủ yếu để hình thành hành vi xã hội của
bản thân trẻ và hình thành thái độ của các em đối với cuộc sống và đối với nhau.
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết [54] đã phân tích vai trò chủ đạo của trò chơi
ĐVTCĐ đối với việc hình thành và phát triển nhân cách như tính chủ định, phẩm
chất ý chí, ngôn ngữ, tưởng tượng, phát triển những phẩm chất đạo đức hành vi phù
hợp với những chuẩn mực đạo đức xã hội. Chính thông qua trò chơi trẻ đã học được
cách làm người. Đồng thời tác giả cũng khẳng định vai trò của người lớn trong việc
hướng dẫn trẻ lựa chọn nội dung cho trẻ chơi, hướng dẫn cho trẻ chơi.
Tác giả Ngô Công Hoàn [16] đã khẳng định vui chơi là hoạt động của trẻ Mẫu
giáo và việc thay đổi vai chơi linh hoạt, mềm dẻo trong các trò chơi là cơ sở, nền tảng
phát triển đặc điểm ứng xử hợp lí theo tình huống, hoàn cảnh sau này của trẻ, tạo cơ
chung. Trên cơ sở nhận định đó, Nguyễn Ánh Tuyết [55];[56] đã đưa ra một số biện
pháp tổ chức nhóm chơi cho trẻ và thiết lập mối quan hệ bạn bè với nhau khi chơi,
như: tạo ra những tình huống buộc trẻ thấy cần phải có sự phối hợp hành động; giúp
trẻ lập kế hoạch chơi; phát huy tính tự quản và tinh thần trách nhiệm của trẻ khi
chơi; dạy trẻ nghĩ tốt về bạn bè và cách giải quyết khi xảy ra xung đột trong quá
trình trẻ chơi.
Dưới góc độ tâm lí học, Lê Xuân Hồng (1996) nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp
và trò chơi trong nhóm chơi không cùng độ tuổi, việc hình thành nhóm với các độ tuổi
khác nhau. Các trò chơi được tác giả chọn nghiên cứu đặc điểm giao tiếp của trẻ gồm:
trò chơi ĐVCCĐ, trò chơi xây dựng - lắp ghép, trò chơi học tập và trò chơi vận động.
Qua đó, tác giả phát hiện sự tích cực chủ động hợp tác giữa trẻ với nhau trong vui chơi,
đặc biệt là giữa các trẻ không cùng độ tuổi với nhau. Tác giả khẳng định, trong nhóm
trẻ không cùng độ tuổi, các quan hệ giữa trẻ với nhau được mở rộng, tạo ra nhiều tình
huống muôn màu, muôn vẻ kích thích trẻ giao tiếp, hợp tác với nhau, thúc đẩy nhanh
sự hình thành, phát triển nhân cách [20]. Vì vậy trong quá trình trẻ chơi, GV cần tạo ra
các nhóm chơi phong phú và đa dạng đặc biệt là các nhóm chơi không cùng độ tuổi để
giúp trẻ hình thành và phát triển KNHĐN.
Các tác giả Lê Xuân Hồng [20], Hoàng Mai (2000) [32] đề cập đến việc cần
phát triển các kĩ năng cần thiết cho trẻ mầm non. Trong các kĩ năng cần phát triển
cho trẻ, KNHĐN là một nhiệm vụ trong tâm của ngành mầm non với mục tiêu
chung là thúc đẩy sự phát triển KNHĐN của trẻ bằng cách giúp trẻ học cách hòa