TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SƯ PHẠM TIỂU HỌC - MẦM NON
--------
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍNH TỰ LỰC CHO
TRẺ MẪU GIÁO 4 - 5 TUỔI THÔNG QUA TRÒ
CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM
NON HẢI THÀNH - TP ĐỒNG HỚI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON
KHÓA 55
Quảng Bình, tháng 5 năm 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA SƯ PHẠM TIỂU HỌC - MẦM NON
--------
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍNH TỰ LỰC CHO
TRẺ MẪU GIÁO 4 - 5 TUỔI THÔNG QUA TRÒ
CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM
NON HẢI THÀNH - TP ĐỒNG HỚI
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hiền
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện, các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là hoàn toàn trung thực và chưa được
công bố trong công trình nghiên cứu nào.
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hiền
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ...............................................................................1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU .......................................................................................3
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU .......................................................................................3
4. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ......................................................3
4.1. Khách thể nghiên cứu ...............................................................................................3
4.2. Đối tượng nghiên cứu ...............................................................................................3
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC .......................................................................................3
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ..........................................................................................4
6.1 Giới hạn về khách thể nghiên cứu .............................................................................4
6.2 Giới hạn về nội dung nghiên cứu ..............................................................................4
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...............................................................................4
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận ...................................................................4
dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề......47
2.3.2.2. Thực trạng giáo viên sử dụng các biện pháp giáo dục tính tự lực trong việc tổ
chức trò chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi ......................................48
2.2.4 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình giáo dục tính tự lực cho trẻ 4-5 tuổi a,
Thuận lợi ........................................................................................................................52
b, Khó khăn....................................................................................................................52
2.2.5 Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển tính tự lực của trẻ 4-5 tuổi ...............53
CHƯƠNG 3: ..................................................................................................................56
CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TỰ LỰC CHO TRẺ 4-5 TUỔI THÔNG QUA TRÒ
CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ VÀ BƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM ...56
3.1. CƠ SỞ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP ............................................................................56
3.1.1. Cơ sở lý luận: .......................................................................................................56
3.1.2. Cơ sở thực tiễn:....................................................................................................57
3.1.3. Xây dựng một số biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi thông
qua trò chơi đóng vai theo chủ đề..................................................................................57
3.1.3.1. Biện pháp 1: Giúp trẻ nhận biết về tính tự lực .................................................57
3.1.3.2. Biện pháp 2: Kể cho trẻ nghe những câu chuyện về tự lực trong trò chơi đóng
vai theo chủ đề và đàm thoại về những câu chuyện đó .................................................58
3.1.3.3. Biện pháp 3: Dạy một quy trình chơi đóng vai theo chủ đề trọn vẹn ..............58
3.1.3.4. Biện pháp 4: Tạo tình huống ............................................................................59
3.1.3.5. Biện pháp 5: Giáo viên chơi cùng với trẻ với tư cách là bạn chơi ...................61
3.1.4. Sự phối hợp giữa các biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi
thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề .......................................................................63
3.1.5. Điều kiện thực hiện các biện pháp giáo dục tính tự lực trong trò chơi đóng vai
theo chủ đề của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi: ..........................................................................64
3.2. BƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM ..............................................................65
3.2.1. Mục đích thử nghiệm: .........................................................................................65
3.2.2.1. Cơ sở để xác định nội dung thử nghiệm: ..........................................................65
TCĐVTCĐ
Trò chơi đóng vai theo chủ đề
ĐVTCĐ
Đóng vai theo chủ đề
TTL
Tính tự lực
MG
Mẫu giáo
TN
Thực nghiệm
ĐN
Đối chứng
NXB
Nhà xuất bản
DANH MỤC BẢNG
Biểu đồ 2. Nhận thức của giáo viên về các biện pháp giáo dục tính tự lực trong trò chơi
đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi ............................................................46
Biều đồ 3 : So sánh mức độ phát triển tính tự lực của 2 nhóm trước thử nghiệm ........68
trong hoạt động vui chơi ................................................ Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 4: Thể hiện mức độ phát triển tính tự lực của trẻ nhóm thử nghiệm trước và
sau khi thử nghiệm ........................................................................................................72
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết ngay từ tuổi ấu thơ trẻ đã có khả năng tự lập, dần dần nhận
biết được những người thân yêu của mình, sau đó trẻ phân biệt được mối quan hệ giữa
những người xung quanh và vị trí của mình trong gia đình, đó là bản năng sinh tồn mà
con người sinh ra đã có. Trong từng lứa tuổi, khả năng tự lập được hình thành và phát
triển đồng thời phát huy được những năng lực vốn có của trí tuệ nhờ đó trẻ có thể tự
mình làm một việc gì đó mà không cần sự trợ giúp của người khác.
Để tạo điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện, mục đích của giáo dục mầm non là
định hướng cho trẻ khả năng tự lập, góp phần hình thành cho trẻ những cơ sở chuẩn
mực ban đầu về tính cách, phẩm chất cần thiết như: mạnh dạn, tự tin, tự lập, sáng tạo,
linh hoạt, tự giác…đứa trẻ tham gia vào các hoạt động trong đời sống hằng ngày. Từ
những biểu hiện của trẻ chúng ta nhận thấy khả năng tự lập có ảnh hưởng mạnh mẽ,
trực tiếp đến trí tuệ, cảm xúc và trong các hoạt động. Trẻ tự tin, tự kiểm soát, điều
khiển hành vi của mình. Tính tự lập quyết định việc hình thành nhân cách, trí tuệ, cảm
xúc của trẻ. Bởi vậy giáo dục khả năng tự lập cho trẻ ngay từ trường mầm non là một
nhiệm vụ hết sức cần thiết, bởi tính tự lập là một trong những tính cách cơ bản, đóng
vai trò quan trọng giúp trẻ khi trưởng thành có thể bản lĩnh hơn, tự tin hơn, vững vàng
hơn, thành công hơn trong cuộc sống và đặc biệt là trẻ có thể tự lo cho mình thật tốt dù
không có bố mẹ, người lớn bên cạnh hay gặp bất kỳ tính huống khó khăn nào. Giáo
dục khả năng tự lập cho trẻ có ý nghĩa quan trọng trong mọi giai đoạn hình thành nhân
cách và nó sẽ góp phần đặt nền tảng vững chắc đầu tiên về phát triển thể lực, trí tuệ để
mình, trẻ thường xuyên bị động bởi sự tác động không đúng lúc của giáo viên, nhiều
khi giáo viên thường đoán trước ý định của trẻ, thường làm thay trẻ, chưa có những
biện pháp hữu hiệu nhằm tác động để hình thành tính tự lực cho trẻ, do đó làm mất đi
tính tự lực, sự tự tin của trẻ trong quá trình hoạt động. Bên cạnh đó, bản thân trong quá
trình đứng lớp dạy trẻ gặp nhiều khó khăn trong vấn đề giáo dục tính tự lực cho trẻ và
luôn mong muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này.
Trong những lần đi thực hành, thực tế tại các trường mầm non tôi nhận thấy hiệu
quả của quá trình hình thành tính tự lập cho trẻ ở các trường mầm non là chưa cao,
giáo viên chưa có biện pháp giáo dục phù hợp, các biện pháp chưa được chú trọng
thường xuyên, các hình thức tổ chức chưa thực sự phong phú, đặc biệt là giáo dục
mầm non đang thực hiện đổi mới chương trình giáo dục theo hướng lồng ghép, tích
hợp các nội dung giáo dục. Cho nên cần phải có một sự nghiên cứu thật cẩn thận, kỹ
lưỡng, những bước thực hiện phải khoa học, sự kết hợp linh hoạt giữa lí luận và thực
tiễn để có thể đưa ra những biện pháp , hình thức hiệu quả nhằm phát triển tính tự lực
cho trẻ, góp phần tích cực nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện cho trẻ ở trường MN.
2
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài :“Biện pháp giáo
dục tính tự lựccho trẻ mẫu giáo 4 - 5tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở
trường Mầm non Hải Thành - TP Đồng Hới, Quảng Bình”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở tìm hiểu nghiên cứu lý luận, khảo sát, phân tích và đánh giá đúng theo
thực trạng để từ đó đưa ra cácbiện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 4 - 5tuổi
thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đềở trường mầm non Hải Thành
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo
4 - 5tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường Mầm non.
- Phân tích làm rõ thực trạng về :
Nghiên cứuvề biểu hiện của tính tự lực của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi thông qua trò
chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non Hải Thành.
6.3 Thời gian thực hiện
Thực hiện nghiên cứu từ tháng 02. 2017 đế tháng 05. 2017
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài chúng tôi sử dụng 3 nhóm
phương pháp :
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dựng các biện pháp: Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa
các vấn đề lí luận liên quan đến nội dung nghiên cứu.
7.2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp quan sát:
Đối vơi giáo viên: Dự giờ, quan sát, ghi chép cách tổ chức hướng dẫn trò chơi
đóng vai theo chủ đề ở trường Mầm Non.
Đối với trẻ: Quan sát những biểu hiện tính tự lực của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi thông
qua trò chơi đóng vai theo chủ đề: theo dõi kỹ năng đóng vai, hứng thú, thao tác và
hành động trong quá trình chơi của trẻ.
* Phương pháp trò chuyện:
- Trao đổi với giáo viênnhằm thu thập thêm những thông tin cụ thể về trẻ, những
thuận lợi khó khăn trong quá trình giáo dục tính tự lực cho trẻ.
- Trò chuyện trực tiếp với trẻ để theo dõi những diễn biến trong quá trình giao
tiếp của trẻ.
*Phương pháp điều tra: Điều tra bằng phiếu hỏi nhằm khảo sát, tìm hiểu nhận
thức, đánh giá của giáo viên về các biểu hiện tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi
thông quatrò chơi đóng vai theo chủ đề.
4
*Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Sử dụng các biện pháp giáo dục tính tự
lực ở trẻ 4 - 5tuổi thông qua quá trình tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề.
T.I.Ganhelin, Venghenr, ... Các tác giả đều khẳng định tính tự lực không tự nhiên mà
có, những tư chất tự nhiên của con người chỉ là những điều kiện cần thiết cho việc
hình thành tính tự lực dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của người lớn.
Trong tác phẩm tâm lý học của Vengher đã đưa ra khái niệm tính tự lực “là khả
năng suy nghĩ hành động không dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài” [17 , tr. 8]
T.I. Galina đề cập đến tính tự lực trong hành vi đạo đức. Theo tác giả, sự phát
triển của tính tự lực được hình thành trên cơ sở “Hình thức mới của tự ý thức”.
S.L. Rubinstein nghiên cứu tính tự lực trong mối quan hệ với nhiệm vụ đặt ra.
T.I. Galina, R.G.Nhetrave, K.D.Usinxki, T.Guscova, quan tâm nghiên cứu quá
trình hình thành và phát triển tính tự lực ở trẻ nhỏ. Các tác giả đều khẳng định vai trò
của người lớn trong việc phát triển tính tự lực ở trẻ, đồng thời họ cũng nhận định rằng
lao động của trẻ có vai trò hết sức quan trọng đối với việc hình thành và phát triển tính
tự lực.
Nhiều nhà giáo dục học đã quan tâm đến sự hình thành tính tự lực của trẻ lứa tuổi
nhỏ, như: T.Guscova, A.A.Liublinxkaiai, K.D.Usinxki, Acxarina....trên cơ sở nghiên
cứu đặc điểm tính tự lực của trẻ nhỏ, tác giả đã khẳng định sự giúp đỡ tế nhị, đúng
mức của người lớn thông qua hoạt động với đồ vật và vui chơi, tính tự lực sẽ dần dần
hình thành một cách bền vững ở trẻ.
Ở Việt Nam, đã có những công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận của việc giáo
dục tính tự lực cho trẻ thông qua trò chơi ĐVTCĐ. có thể kể đến các tác giả như:
6
- Tác giả Mai Ngọc Liên đã nghiên cứu một số biện pháp giáo dục tính tự lực của
trẻ 24-36 tháng thông qua hoạt động tự phục vụ và cho rằng “Ngay từ lứa tuổi còn rất
nhỏ (2 tuổi) cần giáo dục cho trẻ tính tự lực bằng cách động viên khuyến khích trẻ, cho
trẻ luyện tập kỹ năng tự phục vụ, sử dụng các trò chơi, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ
tự phục vụ bản thân và hoạt động tự phục vụ là phương tiện hữu hiệu nhất để giáo dục
tính tự lực cho trẻ lứa tuổi ấu nhi”. [10]
- Tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân cũng đã nghiên cứu một số biện pháp giáo dục
Để phát huy tính tự lực đòi hỏi con người cần có vốn kinh nghiệm kỹ năng, kỹ
xảo nhất định về các lĩnh vực hoạt động, niềm tin vào chính khả năng và sức lực của
bản thân( tự lực cánh sinh). Cũng giống như các phẩm chất tự lập và độc lập, tự lực
cũng đòi hỏi cá nhân có khả năng tự đặt nhiệm vụ, kế hoạch hóa, kiểm tra đánh giá
hành động,sự nỗ lực của ý chí, tính tích cực và tính tự giác cao, có niềm tin vào khả
năng của bản thân. Bản chất thực sự được hình thành trên cơ sở cá nhân có nhu cầu, kỹ
năng và mong muốn tin tưởng vào sức lực của bản thân để thực hiện các nhiệm vụ đặt
ra, từ tìm kiếm các cách thức riêng để giải quyết các nhiệm vụ đó. Tính tự lực cúng
giống như bất cứ phẩm chất nhâncách nào khác của một nhân cách toàn vẹn đều được
hình thành, phát triển trong hoạt động và thông qua hoạt động của con người, trong
sinh hoạt cúng như trong giao tiếp với con người và thế giới xung quanh.
Như vậy: Tính tự lực là một phẩm chất quan trọng của nhân cách được hình
thành trong quá trình hoạt động của cá nhân của các sự vật hiện tượng, với người
khác và với bản thân. Nó đặc trưng cho thái độ tự tin vào khả năng của bản thân,thể
hiện khả năngtự đặt mục đích, nhiệm vụ hành động tự điều khiển điều chỉnh bản thân
và hành động để đặt mục đích đề ra. Nó đòi hỏi sự nỗ lực cao về trí tuệ cũng như thể
lực trong quá trình hoạt động.
Tính tự lực có biểu hiện cụ thể như sau:
- Về nhận thức: Cá nhân nhận thức được tính hợp lý của sự cần thiết phải tự
mình thực hiện các nhiệm vụ đặt ra để thỏa mản nhu cầu của bản thân trng những giai
đoạn phát triển nhất định.
- Về thái độ: Cá nhân luôn đồng tình, ủng hộ những hành vi tự lực, biết phê phán
những thái độ ỷ lại vào người khác.
- Về hành vi: Người có tính tự lực luôn tự giác và có kỹ năng thực hiện tốt yêu
cầu của xã hội và cá nhân trong quá trình hoạt động bằng chính sức lực và ý chí của
mình.
Căn cứ vào các biểu hiện nêu trên mà ta có thể tự đánh giá được mức độ tự giác
của cá nhân trong quá trình hoạt động và sinh hoạt.
2.2.1.2 Đặc điểm phát triển tính tự lực của trẻ mẫu giáo
* Tính tự lực và hành động nội tâm hóa
quanh tán thưởng nữa. Trẻ không còn thích hành động đó nữa và đi tìm hành động
mới, vì kết quả thực hiện hành động đó lại làm mọi người tán thưởng.
Tính tự lực không chuyển từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác và định vị giữa cái
đã được lĩnh hội và cái đang lĩnh hội – tại đây nó được ghi nhận trong ý thức của trẻ
như một phẩm chất đặc biệt, được trẻ tự thừa nhận và gây ra sự tán thưởng của những
9
người xung quanh.Cảm giác đó lần đầu trẻ có được là lúc 2-3 tuổi, và là mốc phát triển
đầu tiên của tính tự lực.
* Tính tự lực và các quá trình tâm lý khác
Các nhà tâm lý – giáo dục học nghiên cứu về tính tự lực của trẻ ở lứa tuổi mầm
non như: B.G.Ananhiep, G.N.Gơdina, M.I.Lixina,. . . cho rằng: Giống như mọi nét
tính cách tính tự lực hình thành trên cơ sở các quá trình tâm lý khác nhauvà tác động
lại chúng. Khi xem tính tự lực như thuộc tính tích hợp của nhân cách, các nhà nghiên
cứu hiện đại nhấn mạnh rằng: vai trò tích hợp của nó thể hiện trong sự thống nhất các
biểu hiện khác nhau của nhân cách thành một xu hướng chung hướng tới tích cực hóa
toàn bộ thực lực, nguồn nguyên liệu và phương tiện để thực hiện một chương trình
hành động đã lựa chọn là không cần sự trợ giúp.
Mức độ phát triển tính tự lực phụ thuộc vào sự phát triển của trẻ, phụ thuộc vào
khả năng thực hiện các hành động trí não và hành động thể chất đang lớn dần của trẻ.
Vì vậy biểu hiện của tính tự lực của trẻ nhỏ sẽ không giống trẻ MG 4-5 tuổi...
Tính tự lực liên quan chặt chẽ tới biểu hiện tích tích cực của cá nhân, ý chí, hành
động, trí tuệ và tình cảm. Muốn phát huy tính tự lực cần phải có kiến thức, kỹ năng, tự
đặt nhiệm vụ, kế hoạch hóa, niềm tin vào sức mạnh, khả năng tự điều khiển và kiểm
tra bản thân, sự nỗ lực của ý chí, tính tích cực tự giác, tính mục đích và tính kỷ luật. Vì
vậy để trẻ có thể tự lực nhất thiết phải phát triển trí tuệ, cảm xúc và ý chí cho trẻ.
Các chức năng tâm lý được hoàn thiện là điều kiện để tạo nền tảng nhân cách ban
đầu của con người, mà trong đó tính tự lực đóng vai trò quan trọng. Mặt khác, tính tự
lực là một trong những điều kiện quan trọng để nảy sinh tính sáng tạo và các thuộc
giờ cũng có vai trò lãnh đạo và những yêu cầu của người lớn. Sự hình thành tính tự lực
ở trẻ trên thực tế là dựa trên cơ sở thực hiện các thói quen, những định hình đã hình
thành từ trước khi đáp ứng những yêu cầu của người lớn.
Rõ ràng, tính tự lực không chỉ phát triển nhờ tiếp thu nội dung, phương tiện,
phương thức hành động. Theo М.I. Lixina thì tính tự lực, tính chủ động của trẻ có
trong sự tương tác giữa trẻ và người lớn là nhờ trẻ lĩnh hội được hình thức giao tiếp
phù hợp với hành động đó. Khác với М.I. Lixina, người nghiên cứu giao tiếp như hoạt
động trong đó người này là đối tượng của người kia, chúng ta đang nói về giao tiếp
trong hoạt động mà đối tượng của nó là một lĩnh vực kinh nghiệm lịch sử - xã hội của
loài người công cụ, ký hiệu, khái niệm...(giao tiếp trong hoạt động nhận thức, hoạt
động vui chơi…) Với nghĩa này, «giao tiếp» cùng nghĩa với «hợp tác», «tương tác
theo nội dung hoạt động» giữa trẻ và người lớn. Thật đáng tiếc, các hình thức cụ thể
của sự hợp tác trong các hoạt động khác nhau chưa được mô tả đầy đủ. Nhưng các nhà
nghiên cứu cũng đã khẳng định: có những hình thức hợp tác khác nhau giữa trẻ và
người lớn. Các nhà nghiên cứu chưa đưa ra đặc thù của từng hình thức, nhưng cũng
11
đưa ra được sự mô tả chung về các hình thức đó: Trẻ tự lực trong hợp tác với người
lớn để khảo sát đồ vật, vui chơi, học tập ở mức mà trẻ có thể chủ động lôi kéo người
lớn vào sự tương tác đó.
Khi xác định hai lối tiếp cận hỗ trợ cho nhau trong nghiên cứu tính tự lực của trẻ,
các nhà nghiên cứu đã xác định được hai nguồn gốc phát sinh hành động tự lực: 1)
lĩnh hội nội dung, phương tiện, biện pháp hành động, 2) lĩnh hội phương thức hợp tác
với người lớn sao cho phù hợp với hành động đó, chủ động trong tổ chức tương tác.
Cần lưu ý: ở mức độ hành động đang nội tâm hóa thì khía cạch thứ hai của tính tự lực
xuất hiện trong hành vi của trẻ sớm hơn khía cạnh thư nhất, tức giao tiếp đi trước sự
lĩnh hội kiến thức và kỹ năng.
Cần lưu ý rằng, trẻ hoàn toàn chưa biết vẫn có thể chủ động tương tác với người
lớn trong hoạt động học tập, tỏ ra suy tư trước mọi vấn đề. Các nhà tâm lý đã thu thập
vật, ở mức độ nào đó trẻ đã không phụ thuộc vào người lớn. Đây mới chỉ là bước đầu
tiên đến tính tự lực chín muồi.
Khi trẻ được 3-4 tuổi bắt đầu ý thức được “cái tôi” của mình. Trẻ rất thích bắt
chước người lớn, thích được hoạt động độc lập, có thói quen vượt qua khó khăn, hoàn
thành công việc. Trẻ tự mặc và cởi quần áo, tự thu dọn đồ chơi, đồ dùng, thực hiện các
hành động với đồ vật mà không cần sự giúp đỡ của người lớn. Tính tự lực được biểu
hiện ra bên ngoài qua hành vi tự phục vụ đã chuyển thành những dấu hiệu tự lực bên
trong, trẻ phân biệt được động cơ hoạt động của mình và của người khác. Tính tự lực
của trẻ 3 - 4 tuổi thể hiện sự không phụ thuộc vào người lớn trong quá trình hành động
để thỏa mãn nhu cầu của bản thân hoặc giải quyết nhiệm vụ trong điều kiện quen
thuộc, những tình huống gần với điều kiện sống của trẻ ( thay đổi ít ). Tính tự lực của
trẻ thể hiện trong các hoạt động mà trẻ chiếm lĩnh. A.A.Liublinxkaia cho rằng: Sự tích
lũy kinh nghiệm thực tiễn trong hành động và sự phát triển xu hướng xã hội đã hình
thành nên nguyện vọng tự lực. Tính tự lực của trẻ 3-4 tuổi còn thể hiện khát vọng mới
không trùng lắp với ý muốn của người lớn.
Các nhà tâm lý đã chỉ ra các dạng hoạt động theo từng lứa tuổi, mà trong đó trẻ
phát triển tâm lý với cường độ cao nhất, và trở nên tự lực “theo lứa tuổi”: tuổi hài nhi –
giao tiếp tình cảm trực tiếp; tuổi âu nhi – hoạt động với đồ vật, mẫu giáo – hoạt động
vui chơi, từ 7 - 14 tuổi – học tập, từ 14 - 18 tuổi – giao tiếp với bạn cùng lứa, từ 18 trở
lên – tự chọn nghề và lao động.
Khi thay đổi hoạt động chủ đạo của lứa tuổi, trẻ lại phải trải qua các mức độ phát
triển tính tự lực mới. Tính tự lực không dịch chuyển từ dạng hoạt động chủ đạo này
sang hoạt động chủ đạo khác.
13
1.2.2 Trò chơi đóng vai theo chủ đề
1.2.2.1 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là một loạt hoạt động trò chơi mà trẻ mô phỏng lại
nhau của hiện thực cuộc sống,ở lứa tuổi sau càng sâu sắc và đa dạng hơn so với lứa
tuổi trước.
Chính vì thế bên cạnh các chủ đề chơi ta phải chú ý đến mặt nội dung chơi. Nội
dung của trò chơi là những hoạt động của người lớn mà đứa trẻ nhận thức và phản ánh
trò chơi của mình. Đó là hoạt động của người lớn với các đồ vật,mối quan hệ giữa
người với người, những yếu tố đạo đức thẩm mỹ. Nội dung trò chơi ta cần xem xét
khía cạnh tiêu cực hay tích cực của mảng hiện thực mà trẻ em tái tạo bởi lẽ đời sống
xã hội của người lớn hết sức phong phú và phức tạp.Bên cạnh những việc tốt,người tốt
còn có nhiều việc tiêu cực xen lẫn vào. Điều này cũng được phản ánh nhạy bén vào trò
chơi của trẻ.Nếu không kịp thời quan tâm, giáo dục thì trẻ sẽ có những trò chơi tiêu
cực như: cải nhau hoặc những cảnh đáng nhau, tranh giành nhau…
Vai trò của người giáo dục không những giúp trẻ có được những chủ đề chơi
ngày càng phong phú, rộng lớn mà cón giúp trẻ nắm được những hành động của người
lớn trong cuộc sống thực,hiểu được những mối quan hệ qua lại giữa người lớn trong xã
hội theo chức năng của mỗi người và đặc biệt là giúp trẻ phân biệt được cái tốt cái
xấu,cái đúng,cái sai trong những mối quan hệ ấy,nhằm giúp trẻ tạo được cái hay,cái
đẹp trong mảng hiện thực xung quanh và tránh bắt chước những hành vi sai trái thô
bạo mà trong xã hội vẫn còn tôn tại.
* Vai chơi và hành động chơi: Như chúng ta đã biết, trò chơi đóng vai theo chủ
đề xuất hiện là để thỏa mãn nhu cầu của trẻ muốn được như người lớn. Trong thực tế
trẻ chưa thực hiện một chức năng xã hội của một con người nào đó mà trẻ đã trông
thấy bằng cách nhập vai vao một lúc là ướm mình vào vị trí của người lớn và bắt
chước hành động của người đó.Vai chơi là yếu tố quan trọng đẻ tạo nên trò chơi. Đóng
vai có ý nghĩa là tái tạo lại hành động của một người lớn với đồ vật trong những mối
quan hệ nhất định với những người xung quanh.Trong vui chơi trẻ nhận làm chức năng
xã hội của một người nào đó,thường là chức năng mang tính chất nghề nghiệp như : lái
xe, dạy học,chữa bệnh, bán hàng…Đây chính là con đường để trẻ xâm nhập vào cuộc
sống của người lớn xung quanh.