1
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN DANH TỪ
CHO TRẺ MẪU GIÁO BÉ THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH
CHỦ ĐỀ: “MỘT SỐ LOẠI QUẢ”.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
Người hướng dẫn: PGS- TS Lã Thị Bắc Lý
Học viên : NGÔ THỊ MAI
Lớp : K11C- Quảng Yên
SBD : 46
2
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô
giáo trường Đại học sư phạm Hà Nội. Các thầy giáo,
cô giáo ở khoa Giáo dục Mầm non đã giúp đỡ em
trong khoá học này.
Đặc biệt Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối
với:
PGS.TS LÃ THỊ BẮC LÝ
Người đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình
làm bài tập tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã
giúp đỡ động viên, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành bài
tập tốt nghiệp này.
Quảng Yên, ngày 10 tháng 8 năm 2015
Học viên
Ngô Thị Mai
MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU:…………………………………………………………4
3
Hồ Chí Minh đã nói: " Hiền dữ phải đâu là tính sẵn , phần nhiều do giáo dục
mà nên" Đúng vậy, một con người khi mới sinh ra không phải đã có sẵn nhân
cách, không phải đã là một con người phát triển toàn diện. Một đứa trẻ khi mới
chào đời cho đến khi trưởng thành, để trở thành một con người thực thụ,có ích
cho xã hội, nó phải trải qua một tiến trình phát triển lâu dài. Trong tiến trình phát
triển lâu dài đó có sự đóng góp không nhỏ của nền giáo dục. Giáo dục - Đào tạo
là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của toàn Đảng , toàn dân và toàn xã hội. Nó góp
phần tạo nên nhân cách của con người. Đặc biệt là giáo dục Mầm non, khi sinh
ra đứa trẻ mới chỉ là một thực thể bé nhỏ nhưng muốn đứa trẻ đó phát triển thành
người thì không thể thiếu sự giao tiếp, sự tác động trực tiếp của người lớn. Mà
như chúng ta đã biết phương tiện của giao tiếp chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ có
vai trò vô cùng quan trọng, nó là phương tiện để con người nhận thức thế giới
xung quanh, ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển tình cảm xã hội, đạo đức,
thẩm mĩ cho trẻ. Quan trọng hơn cả ngôn ngữ còn là công cụ giúp trẻ hoà nhập
với cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng, ngôn ngữ là phương
tiện quan trọng nhất để trẻ lĩnh hội nền văn hoá dân tộc, để trẻ giao lưu với những
người xung quanh. Ngôn ngữ giúp trẻ tư duy, tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm
hồn, hình thành , phát triển nhân cách cho trẻ. Đối với trẻ mầm non, để phát triển
được ngôn ngữ thì nhiệm vụ phát triển vốn từ quan trọng. Việc phát triển ngôn
ngữ nói chung và phát triển vốn từ nói riêng cho trẻ Mầm non được thực hiện
thích hợp trong tất cả các hoạt động ở trường Mầm non. Một trong những hoạt
động đem lại hiệu quả đó là hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
Chính vì lý do trên mà em chọn đề tài:” Một số biện pháp phát triển danh từ
cho trẻ mẫu giáo bé qua hoạt động khám phá Môi trường xung quanh chủ đề”
Một số loại quả”
II. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận thực tiễn liên quan đến phát triển vốn từ
cho trẻ Mầm non, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp thích hợp để phát triển vốn
từ cho trẻ nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tăng cường vốn ngôn ngữ cho trẻ.
10.000 xinap. Ngay từ khi lọt lòng, số lượng nơron vỏ đại não đã được hình
thành ổn định. Từ 0-2 tuổi diễn ra quá trình phức tạp hóa dần dần mối liên hệ
giữa các nơron. Từ 1 đến 3 tuổi là thời kì hoàn chỉnh hóa hệ thần kinh về hình
thái và chức năng. Từ 3 tuổi trở đi, trọng lượng của não tăng chủ yếu là do tăng
số sợi thần kinh, phát triển các sợi thần kinh. Vào khoảng từ 5 đến 6 tuổi các
vùng liên hợp trên vỏ não đã tương đối hoàn chỉnh. Người ta cũng đã xác định
được là hoạt động thần kinh hướng tâm (cảm giác) hoàn chỉnh vào khoảng 6 đến
7 tuổi còn hoạt động thần kinh li tâm (vận động) hoàn chỉnh muộn hơn vào lúc 2
đến 5 tuổi.
Vỏ não có 52 vùng chức năng khác nhau trong đó có những vùng chỉ con
người mới có: vùng hiểu chữ viết, vùng hiểu tiếng nói. Bán cầu đại não điều
khiển, điều hòa và phối hợp hoạt động của toàn bộ cơ thể.
Chức năng ngôn ngữ: trên đại não có những vùng chuyên biệt phụ trách chức
năng ngôn ngữ.
Chức năng tư duy: chủ yếu do đại não đảm nhận khả năng tư duy liên quan
đến sự phát triển của đại não đặc biệt là vỏ não, do bán cầu đại não rất phát triển
và có ngôn ngữ nên con người có khả năng tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng.
2. Đặc điểm của bộ máy phát âm.
Mỗi người sinh ra đã có sẵn bộ máy phát âm, đó là một trong những điều kiện
vật chất quan trong nhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ; nếu như trong cấu
tạo của nó có một sựu khiếm khuyết nào đó (chẳng hạn như hở hàm ếch, lưỡi
ngắn, sứt môi…) thì việc hình thành lời nói cũng hết sức khó khăn.
6
Khi sinh ra không phải mỗi người đã có ngay một bộ máy phát âm hoàn
chỉnh. Chính lứa tuổi mầm non là giai đoạn hoàn thiện dần dần bộ máy đó; sự
xuất hiện và hoàn thiện dần của hai hàm răng, sự vận động của môi, lưỡi, của
hàm dưới….Quá trình đó diễn ra tự nhiên theo các quy luật sinh học. Tuy nhiên,
bộ máy phát âm hoàn chỉnh mới chỉ là tiền đề vật chất. Cùng với thời gian, quá
trình học tập, rèn luyện một cách có hệ thống sẽ làm cho bộ máy phát âm đáp
ứng được nhu cầu thực hiện các chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ.
X.Vưgôtxki cho rằng sự hình thành tư duy chủ yếu thuộc về sự lĩnh hội ngôn
ngữ, tên gọi, chức năng các đồ vật, sự kiện, hiện tượng xung quanh trẻ.
+ Ngôn ngữ là ký hiệu tượng trưng về các sự vật, hiện tượng do vậy chúng mang
tính khái quát. Theo A.V. Daporozet thì khi trẻ nắm được trung bình 1600 từ thì
hàng loạt đặc trưng của tư duy xuất hiện: thao tác so sánh, thao tác phân tích,
thao tác tổng hợp.
+ Tư duy của trẻ phát triển đi từ khái quát trên cơ sở những dấu hiệu bên ngoài
của đồ vật đến khái quát những dấu hiệu bản chất của đồ vật, hiện tượng cụ thể.
+ Ở trẻ đã xuất hiện một số dạng phán đoán, suy lý đơn giản gắn liền với các sự
kiện, hiện tượng mà trẻ tri giác được gắn với hoàn cảnh cụ thể.
+ Tư duy của trẻ mang tính chất cụ thể, hình ảnh, cảm xúc.
+ Ở giai đoạn này tư duy của trẻ chủ yếu là tư duy hành động - trực quan, đồng
thời phát triển tư duy hình ảnh - trực quan, mầm móng tư duy từ ngữ – lôgic xuất
hiện.
III. Cơ sở giáo dục học.
Phương pháp phát triển ngôn ngữ liên quan chặt chẽ với giáo dục học mầm
non. Đó là mối quan hệ của cái chung và cái riêng. Giáo dục học mầm non
nghiên cứu những vấn đề chung nhất như: mục đích, nội dung, nhiệm vụ, các
hình thức, phương pháp dạy học và các tổ chức hoạt động giáo dục ở tuổi mầm
non. Phương pháp phát triển ngôn ngữ được coi như một bộ phận của khoa học
Giáo dục Mầm non, một lĩnh vực cụ thể của giáo dục học mầm non.
Phương pháp phát triển ngôn ngữ cũng có mục đích, nội dung, nhiệm vụ,
phương pháp cụ thể như các bộ môn phương pháp khác của Giáo dục học Mầm
non. Phát triển ngôn ngữ được tích hợp trong tất cả các hoạt động giáo dục và
dạy học ở trường mầm non. Nắm vững giáo dục học mầm non, giải quyết tốt mối
quan hệ giữa các môn học, tận dụng các cơ hội có được, giáo viên mầm non có
thể nâng cao chất lượng dạy hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Giáo dục học là cơ sở để xác định nội dung và phương pháp tốt nhất để phát
triển ngôn ngữ cho trẻ.
1. Quan điểm giáo dục hiện đại.
hội kiến thức trong một môi trường mà ở đó tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội đan
quyện vào nhau tạo thành một môi trường sống phong phú.
Giáo dục tích hợp theo chủ đề dựa trên quan điểm tiến bộ lấy trẻ là trung tâm,
khai thác tiềm năng vốn có của trẻ. Giáo dục cần dựa vào các đặc điểm cá nhân,
phù hợp với hứng thú, nhu cầu nguyện vọng và năng khiếu trên tinh thần tự do tự
9
nguyện, chủ động tích cực tham gia hoạt động của trẻ. Phát huy tính tích cực,
sáng tạo trong các hoạt động của chúng ở trường mầm non.
Theo quan điểm tích hợp, nội dung giáo dục trẻ hướng theo các chủ đề gần
gũi với cuộc sống thực của trẻ và được đan xen, đan cài, lồng ghép trong các hoạt
động giáo dục đa dạng, phong phú trên cơ sở lấy hoạt động chủ đạo (chủ yếu là
hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo) làm hoạt động công cụ để tích hợp các hoạt
động khác của trẻ ở trường mầm non. Đồng thời, tăng cường cho trẻ được trải
nghiệm và khám phá thế giới xung quanh bằng các giác quan, kích thích trẻ tư
duy tích cực, vận dụng các kiến thức kĩ năng, lựa chọn và đưa ra quyết định trong
hoàn cảnh có ý nghĩa đối với cuộc sống thực của chúng, trên cơ sở đó phát triển
ngôn ngữ, tư duy và tưởng tượng cho trẻ.
Quan điểm giáo dục tích hợp đòi hỏi giáo viên phải quan tâm đến tiềm năng
phát triển của đứa trẻ hơn là tạo ra cơ hội tương ứng tích cực có hiệu quả. Trong
quá trình hợp tác hoạt động, cô và trẻ cùng tham gia khám phá, cùng học, cùng
chơi, cùng trao đổi, thỏa thuận, cùng học cách giải quyết các vấn đề và cùng đi
đến những kết luận cụ thể. Thông qua các hoạt động tích cực của cá nhân trẻ mà
chủ yếu là thông qua các hoạt động chủ đạo ở các lứa tuổi mầm non, đứa trẻ sẽ
phát triển nhân cách của mình một cách tích cực và tổng hòa nhất.
VI. Cở sở ngôn ngữ.
1. Danh từ Tiếng việt.
Khái niệm: Danh từ là những từ chỉ người, sinh vật, sự vật, sự việc, khái
niệm,
Đặc điểm: Danh từ là một từ loại lớn, bao gồm một số lượng từ rất lớn và đóng
vai trò quan trọng trong họat động nhận thức, tư duy và giao tiếp của con người.
được truyền lại qua các đối tượng, hiện tượng, sự kiện diễn ra xung quanh trẻ;
cho phép trẻ có cơ hội tham gia vào các hoạt động và giao tiếp với các đối tượng
trong môi trường xung quanh để hình thành kĩ năng kĩ xảo, đồng thời trẻ cũng
được rèn luyện kỹ năng phát âm, rèn luyện câu theo cấu trúc ngữ pháp và từ đó
vốn từ của trẻ sẽ tăng lên rất nhanh tạo điều kiện phát triển ngôn ngữ mạch lạc
cho trẻ.
1. Nội dung của hoạt động khám phá môi trường xung quanh.
* Khám phá môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên xung quanh trẻ chứa đựng các yếu tố cần thiết để hình
thành ở trẻ biểu tượng về tự nhiên hữu sinh và tự nhiên vô sinh, giáo dục tình
cảm tốt của trẻ đối với chúng. Từ khi sinh ra, trẻ đã tiếp cận với các yếu tố của
môi trường tự nhiên ( không khí, nước, ánh sáng, động vật, thực vật….). Theo
quá trình lớn lên, phạm vi tiếp xúc của trẻ với các yếu tố này ngày càng rộng dần.
Hơn thế nữa, các yếu tố trong môi trường tự nhiên không tồn tại một cách độc
lập với nhau mà trong mối quan hệ thống nhất. Vì vậy, trong quá trình hướng dẫn
trẻ làm quen với môi trường xung quanh không chỉ sử dụng các phương tiện trên
11
một cách độc lập mà còn tùy thuộc vào khả năng nhận thức của trẻ, cần cho trẻ
tiếp cận với các đối tượng trên trong môi trường sống thật của nó với các mối
quan hệ và sự phụ thuộc. Trong trường mầm non, cần phải tạo ra môi trường tự
nhiên với không gian mở rộng dần tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc thường
xuyên với môi trường tự nhiên: góc thiên nhiên và vườn trường.
* Khám phá môi trường xã hội.
Môi trường xã hội là phương tiện tác động đến trẻ, nuôi dưỡng tâm hồn và trí
tuệ trẻ. Môi trường xã hội là những sự kiện, yếu tố, con người cụ thể, các mối
quan hệ xảy ra trong một giai đoạn nhất định của xã hội loài người. Quá trình
phát triển của mỗi cá nhân phụ thuộc vào kinh nghiệm xã hội mà họ đã tích lũy
được thông qua mối quan hệ này. Về nội dung môi trường xã hội chứa đựng tất
cả những điều cần thiết để cụ thể hóa biểu tượng của trẻ và giáo dục tình cảm cho
chúng. Chức năng chính của nó là chỉ ra cho trẻ thấy mối quan hệ diễn ra trong
2.3. Phương pháp dùng lời.
Là phương pháp giáo viên dùng lời để giải thích một vấn đề hay tính chất,
đặc điểm nào đó của sự vật hiện tượng, nhằm giúp trẻ nhận thức đúng đắn về sự
vật hiện tượng ấy. Phương pháp này thường được sử dụng trong sự kết hợp chặt
chẽ với phương pháp trực quan để làm cho tri giác của trẻ sáng tỏ hơn. Lời giải
thích của giáo viên chính xác, rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu và có sức truyền cảm.
Giảng giải phải kết hợp với hình ảnh cụ thể để trẻ dễ dàng tiếp thu được tri thức.
2.4. Phương pháp đàm thoại:
Là phương pháp đặt ra những câu hỏi đã được lựa chọn, nhằm kích thích hoạt
động nhận thức và gợi ý cho trẻ dựa vào tri thức đã biết, đã quan sát để trả lời câu
hỏi. Phương pháp này được sử dụng nhiều trong dạy học ở trường mầm non và
không chỉ có tác dụng củng cố, mở rộng, hệ thống hoá tri thức trẻ đã tiếp thu mà
còn kiểm tra được tri thức của trẻ.
Đối với giáo viên: câu hỏi phải được sắp xếp theo một hệ thống phức tạp dần
theo trình tự của bài, phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và vừa sức với trẻ, không
nên đặt câu hỏi đóng. Cần đặt câu hỏi chung cho cả lớp suy nghĩ, sau đó mới gọi
cá nhân nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của cả lớp. Khi trẻ trả lời, cô phải
chú ý nghe câu trả lời của trẻ.
Đối với trẻ: Trả lời to, rõ ràng, ngắn gọn, trả lời thành câu một cách tự nhiên
không rụt rè và độc lập.
- Qua đàm thoại giáo viên dễ dàng nắm bắt được mức độ tiếp thu của trẻ
+ Hoàn thiện những vốn từ mà trẻ đã nhận thức được trong các hoạt động
+ Làm giàu vốn từ và rèn luyện ngôn ngữ nói, trẻ có thái độ ứng xử với mọi
người xung quanh và các câu hỏi cần đặt theo một trình tự từ dễ đến khó, từ đơn
giản đến phức tạp.
+ Đặt câu hỏi cho cả lớp suy nghĩ, cô cần khuyến khích những trẻ còn rụt rè,
nhút nhát mạnh dạn tham gia trả lời các câu hỏi mang tính chất gợi mở .
2.5. Phương pháp luyện tập (thực hành)
13
Là phương pháp hướng dẫn trẻ sử dụng các tri thức đã biết vào việc giải
lượng nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Do vậy, tỷ lệ huy động năm sau cao hơn năm
trước. Nhà trường đã làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục và tham mưu với các
cấp lãnh đạo đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học. Xây
14
dựng kế hoạch bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ giáo viên. Đến nay, sau hơn ba
mươi năm xây dựng và trưởng thành với sự phấn đấu của nhà trường, cùng với
sự quan tâm của Ủy ban nhân dân, lãnh đạo Phòng Giáo dục - Đào tạo thị xã
Quảng Yên. Đảng Ủy và Ủy ban nhân dân phường Phong Hải, cơ sở vật chất nhà
trường đã được đầu tư đầy đủ với các phòng học, phòng chức năng kiên cố, các
trang thiết bị phục vụ cho dạy và học đầy đủ, phong phú, hấp dẫn trẻ đến trường.
Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên tăng lên cả số lượng và chất lượng. Nhà
trường đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh công nhận trường Mầm non
đạt chuẩn Quốc Gia mức độ 1. Trường có 2 điểm lẻ trong đó có 1 điểm được xây
kiên cố 3 tầng với 4 phòng học và khu vực bếp nấu ăn phục vụ học sinh ăn bán
trú.
2. Những đặc điểm chính của nhà trường.
Thuận lợi :
Nhà trường được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo thị xã Quảng Yên, Đảng
Uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân phường Phong Hải. Đặc biệt có sự
quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Phòng Giáo dục- Đào tạo thị xã Quảng
Yên. Sự nhiệt tình yêu nghề mến trẻ của đội ngũ cán bộ giáo viên trong nhà
trường, có sự quan tâm ủng hộ của nhân dân địa phương.
Khó khăn :
Thu nhập kinh tế của nhân dân địa phương còn thấp, đời sống chủ yếu dựa
vào nông nghiệp và đánh bắt hải sản. Nên việc điều tra huy động trẻ ra lớp nhà
trường cũng gặp nhiều khó khăn, nhận thức về giáo dục mầm non của một số
người dân còn hạn chế. Họ quan niệm rằng trẻ các độ tuổi 3,4 tuổi chưa cần thiết
đi học. Dành riêng cho trẻ 5 tuổi vào học trước để trẻ lên lớp 1. Do vậy tỷ lệ trẻ 3
tuổi và nhà trẻ đi học chưa cao.
Cơ sở vật chất Khu C, cũng còn gặp khó khăn.
đủ đồ dùng đồ chơi ngoài trời tạo nên môi trường Xanh – Sạch – Đẹp và an toàn
cho các cháu khi vui chơi.
Bếp ăn được cải tạo luôn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, được Trung tâm
Y tế thị xã Quảng Yên, cấp giấy chứng nhận Bếp ăn đủ điều kiện an toàn vệ sinh
thực phẩm.
*Chức năng nhiệm vụ được giao :
Nhà trường tiếp nhận và quản lý trẻ em trong độ tuổi từ 24 tháng tuổi đến 5
tuổi.
Tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ theo chương trình chăm sóc
giáo dục mầm non do Bộ giáo dục và Đào tạo quy định. Quản lý tốt giáo viên,
nhân viên và học sinh, không có học sinh nào bị tai nạn thương tích hay bị ngộ
độc thực phẩm trong nhà trường. Quản lý và sử dụng tốt đất đai, trường sở, trang
thiết bị và tài chính theo qui định của pháp luật. Có kế hoạch phối hợp tốt với các
bậc cha mẹ trẻ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ. Kết hợp chặt chẽ
17
với các tổ chức xã hội trong địa phương để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ trong nhà trường.
II. Nội dung điều tra.
1. Điều tra nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ nói chung và
phát triển danh từ cho trẻ nói riêng ở trường Mầm non Phong Hải.
2. Điều tra những biện pháp giáo viên đã thực hiện để phát triển vốn danh từ cho
trẻ mầm non thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh với chủ đề:
“ Một số loại quả”.
3. Điều tra vốn từ của trẻ mẫu giáo bé thông qua hoạt động khám phá môi trường
xung quanh với chủ đề: “Một số loại quả”.
III. Đối tượng điều tra.
*4 giáo viên dạy lớp mẫu giáo bé.
STT HỌ VÀ TÊN TRÌNH ĐỘ THÂM NIÊN
01 Bùi Thị Bích ĐH 3 năm
Nữ Trung bình
14 Ngô Văn Trường
Nam Trung bình
15 Lê Huy Hoàng
Nam Trung bình
16 Vũ Hải Phong
Nam Trung bình
17 Bùi Thị Yến Ngọc
Nữ Trung bình
18 Phạm Anh Khoa
Nam Trung bình
19 Lê Huyền My
Nữ Trung bình
20 Ngô Gia Minh
Nam Trung bình
21 Lê Hà Phương
Nữ Trung bình
22 Lê Thị Thu Phương
Nữ Trung bình
23 Nguyễn Tiến Đạt
Nam Trung bình
24 Nguyễn Thị Thanh Hương
Nữ Trung bình
25 Trần Hoàng Bảo Chân
Nữ Trung bình
26 Đặng Gia Ngân
Nữ Trung bình
27 Bùi Huy Long
Nam Trung bình
28 Nguyễn Hồng Quân
Câu 5: Để thực hiên tốt tiết dạy phát triển danh từ cho trẻ thông qua một số loại
quả cô cần chuẩn bị những gì?
Trả lời…………………………………………………
Câu 6. Trong quá trình cho trẻ khám phá về một loại quả cô thường sử dụng
những phương pháp nào để phát triển danh từ cho trẻ? (Có thể chọn nhiều
phương án)
- Phương pháp đàm thoại (1) - Phương pháp sử dụng trò chơi (2)
- Phương pháp trực quan (3) - Phương pháp thực hành (4)
- Ý kiến khác: ……………………………………………
Câu 7: Hãy cho biết trong các phương pháp cô đã sử dụng, phương pháp nào
hiệu quả nhất trong việc phát triển danh từ cho trẻ và làm cho trẻ ít mệt mỏi, căng
thẳng? Cô đã thực hiện như thế nào?
Trả lời ……………………………………………………………
Câu 8: Trong quá trình hướng dẫn trẻ làm quen với một số loại quả cô đã sử
dụng những hình thức nào ?
20
a) Tổ chức dạy trong tiết học (1) b) Tổ chức kết hợp với các hoạt
động khác (2)
c) Tổ chức kết hợp đi dạo, đi tham quan. (3)
d) Các hình thức khác:…………………………………………………….
Câu 9. Việc sử dụng công nghệ thông tin đã đem lại kết quả như thế nào trong
việc phát triển danh từ cho trẻ hiện nay?
a. Tốt (1) b. Khá (2)
c.Trung bình (3) d. Yếu (4)
Câu 10: Cô đã gặp những thuận lợi và khó khăn gì trong việc dạy trẻ phát triển
danh từ qua chủ đề một số loại quả.
Trả lời: ………………………………………………………….
2. Phương pháp sử dụng bảng từ
STT DANH TỪ
1 Quả hồng
3. Phương pháp Quan sát.
a)Đối với giáo viên: Quan sát cách giáo viên tổ chức các hoạt động như: Hoạt
động học, hoạt động ngoài trời, hoạt động góc…
b)Đối với trẻ: Cho trẻ trực tiếp tri giác các sự vật, điều này rất quan trọng đối
với trẻ, bởi tư duy chủ yếu của trẻ là tư duy trực quan hình tượng. Nội dung của
việc cho trẻ làm quen với một loại quả là cho trẻ nhận biết và phân biệt được một
số đặc điểm nổi bật của nó như: tên gọi, lợi ích. Khi cho trẻ quan sát, đồ dùng
trực quan để minh hoạ phải đẹp, chính xác, điều này giúp trẻ có khả năng nhận
biết kiến thức sâu sắc hơn. Với phương pháp này tôi đã xây dựng biện pháp sau:
- Sử dụng phim, tranh ảnh và vật thật kết hợp với lời nói (trong quá trình này
kết hợp cho trẻ gọi tên và giải thích theo sự gợi mở của cô).
4. Phương pháp đàm thoại
a) Đối với giáo viên: Trao đổi với giáo viên về cách thức tổ chức các hoạt động
trong ngày nhằm phát triển danh từ về một số loại quả cho trẻ.
Các giáo viên đã sử dụng phương pháp này vào các hoạt động như thế nào? Hệ
thống câu hỏi được sắp xếp ra sao? Sử dụng các tình huống nhằm khơi gợi khả
năng ngôn ngữ của trẻ như thế nào?
b) Đối với trẻ: Trao đổi và gợi mở với trẻ về một số vấn đề trong việc khám phá
môi trường xung quanh về một số loại quả. Phương pháp này nhằm kích thích
hoạt động nhận thức của trẻ, vì vậy đòi hỏi trẻ phải tham gia trao đổi suy nghĩ
cảm nhận riêng của mình. Ở phương pháp này tôi đã xây dựng một số biện pháp
sau:
Sử dụng hình ảnh và vật thật để đi vào một hệ thống câu hỏi như về tên gọi
và lợi ích của một số loai quả
Trao đổi gợi mở bằng một số hệ thống câu hỏi thiên về ngôn ngữ khám phá
một số loại quả :
22
Câu 1: Con đã được ăn những quả gì?
Câu 2: Ngoài những quả được ăn ra con còn biết những quả gì nữa?
Câu 3: Bên ngoài quả thường có gì?
của ai ?
23
4/4 giáo viên đều ý thức bổn phận và trách nhiệm của mình là giúp trẻ phát
triển toàn diện, đặc biệt là việc phát triển danh từ cho trẻ.
Câu 5: Để thực hiên tốt tiết dạy phát triển vốn từ cho trẻ thông qua một số loại
quả cô cần chuẩn bị những gì?
4/4 giáo viên trả lời: Cần chuẩn bị tranh ảnh, câu từ chỉ về bức tranh, đồ
dùng thực hành, mô hình, sơ đồ và hệ thống câu hỏi gần gũi với trẻ mang tính mở
rộng danh từ.
2/4 giáo viên chuẩn bị thêm các trò chơi vui nhộn, phù hợp với lứa tuổi và
đề tài dạy.
2. Kết quả những biện pháp giáo viên đã sử dụng để phát triển danh từ cho trẻ
mầm non thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh với chủ đề:
“ Một số loại quả”.
Câu 6. Trong quá trình cho trẻ khám phá về một số loại qủa cô thường sử dụng
những phương pháp nào để phát triển danh từ cho trẻ?
4/4 Giáo viên đã sử dụng phương pháp trực quan, đàm thoại và phương pháp
sử dụng trò chơi.
Câu 7: Hãy cho biết trong các phương pháp cô đã sử dụng, phương pháp nào
hiệu quả nhất trong việc phát triển danh từ cho trẻ và làm cho trẻ ít mệt mỏi, căng
thẳng? Cô đã thực hiện như thế nào?
4/4 giáo viên đã sử dụng phương pháp quan sát, đàm thoại và phương pháp
sử dụng trò chơi.
3/4 Giáo viên đã thực hiện việc dùng từ để đàm thoại với trẻ và cho trẻ trả
lời xem câu từ trẻ trả lời như thế nào. Sau đó các giáo viên điều chỉnh từ cho trẻ
thường xuyên vì vậy danh từ của trẻ phát triển rất tốt.
Câu 8: Trong quá trình hướng dẫn trẻ làm quen với một số loại quả cô đã sử dụng
những hình thức nào ?
4/4 giáo viên đã sử dụng hình thức tổ chức dạy trong tiết học, tổ chức kết
hợp với các hoạt động khác và tổ chức kết hợp đi dạo, đi tham quan
phương pháp trực quan hình ảnh… sử dụng thành thạo và biết vận dụng các
biện pháp mọi lúc mọi nơi cho trẻ. Đồng thời, các giáo viên đã chuẩn bị tranh
ảnh, vật thật, tình huống phục vụ cho tiết dạy rất tốt, đã chú ý nhiều đến phần
hoạt động của trẻ, dùng các tình huống hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ, đã phát
huy được tính tích cực cho trẻ. Hệ thống câu hỏi giáo viên đưa ra phù hợp với trẻ.
Qua các tiết dạy, giáo viên đã cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cho trẻ về
một số nghề dịch vụ khá đầy đủ.
Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số vấn đề:
- Giáo viên xử lý tình huống chưa khoa học,
- Trẻ phát âm thiếu chính xác một số từ nhưng giáo viên chưa chú ý sửa sai.
3. Kết quả điều tra vốn danh từ của trẻ thông qua hoạt động khám phá môi
trường xung quanh với chủ đề: “Một số loại quả”.
STT HỌ VÀ TÊN TRẺ DANH TỪ
25