Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tập thơ chú bò tìm bạn của nhà thơ phạm hổ - Pdf 41

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======

TRẦN THỊ HẰNG

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA TẬP THƠ
CHÚ BÒ TÌM BẠN CỦA NHÀ THƠ PHẠM HỔ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. LÊ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo,
cô giáo trong Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong
Khoa Giáo dục tiểu học, Giáo dục mầm non và đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc tới cô Tiến sĩ Lê Thị Lan Anh - ngƣời trực tiếp chỉ bảo tận
tình để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này.
Chúng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các cán bộ quản lí thƣ viện
Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho chúng tôi
hoàn thành khóa luận của mình.
Qua đây, tôi cũng xin gửi tới ban Giám hiệu và các cô giáo trƣờng Mầm
non Tích Sơn - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc, trƣờng Mầm non Tiên Phú - Phù
Ninh- Phú Thọ cùng các bạn sinh viên K38MN - GDMN lời cảm ơn chân

1.1.1 Khái niệm về từ .................................................................................. 7
1.1.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn ............................................... 7
1.1.3 Ý nghĩa cuả tập thơ “Chú bò tìm bạn” đối với việc phát triển vốn
từ cho trẻ mẫu giáo lớn ............................................................................. 10
1.2 Một số cơ sở lí luận ................................................................................ 28
1.2.1 Cơ sở tâm lí ...................................................................................... 28
1.2.2 Cơ sở sinh lí ..................................................................................... 31
1.2.3 Cơ sở ngôn ngữ học ......................................................................... 32
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ
THÔNG QUA TẬP THƠ CHÚ BÒ TÌM BẠN CỦA NHÀ THƠ .................. 35
PHẠM HỔ....................................................................................................... 35
2.1 Thông qua hoạt động ngoài trời dạy trẻ làm quen với các tác phẩm văn
học ................................................................................................................ 35


2.2 Thông qua hoạt động cho trẻ tham gia vào góc học tập và sách ........... 40
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................... 44
3.1 Mục đích điều tra ................................................................................... 44
3.2 Nội dung điều tra.................................................................................... 44
3.3 Phƣơng pháp điều tra ............................................................................. 44
3.4 Cách thức điều tra .................................................................................. 44
3.5 Phân tích kết quả điều tra ....................................................................... 47
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................................. 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 56


MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Bƣớc vào thế kỉ thứ 21 là thế kỉ của đỉnh cao trí tuệ và sự phát triển toàn
diện và hội nhập thế giới. Chính vì thế mà con ngƣời là trung tâm của sự phát

Phạm Hổ đã tạo đƣợc một sự nghiệp văn chƣơng phong phú bao gồm: thơ,
truyện, kịch. Dù viết theo thể loại nào thì Phạm Hổ cũng đều đạt đƣợc những
thành công quan trọng.
Nói riêng về thơ, theo thống kê Phạm Hổ có khoảng 20 tập thơ. Đó là sự
đóng góp không hề nhỏ cho nền thơ ca dành cho thiếu nhi. Bởi nhƣ ông đã
từng nói: “Nếu đƣợc sống một lần nữa, tôi vẫn xin đƣợc viết cho các em, bởi
đó là cả một hạnh phúc của đời tôi”. Và một trong số đó tập thơ đặc sắc nhất
phải kể tới là tập thơ Chú bò tìm bạn. Thông qua những bài thơ ngộ nghĩnh,
vui tƣơi, dễ hiểu, dễ nhớ, giàu tƣởng tƣợng ông đã dẫn các em vào thế giới
vạn vật xung quanh mình từ cái bình dị nhất, thân thuộc nhất mà trìu mến tới
lạ thƣờng.
Đọc những bài thơ trong tập thơ Chú bò tìm bạn ta nhƣ sống lại những
ngày trẻ thơ, những kí ức con trẻ trong trẻo, ngọt ngào vụt đi không bao giờ
có thể quay trở lại, khiến ta có chút tiếc nuối, bâng khuâng. Qua đó, ta cũng
cảm nhận đƣợc tình cảm của nhà thơ Phạm Hổ dành cho trẻ mầm non sâu sắc
đến nhƣờng nào. Những bài thơ nhƣ: Bắp cải xanh, đàn gà con, chú bò tìm
bạn... đã trở nên quen thuộc và đã đƣợc đƣa vào chƣơng trình giáo dục mầm
non. Cũng nhờ những vần thơ dễ nhớ, dễ thuộc ấy mà góp phần rất lớn trong
việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo. Đặc biệt, lứa tuổi mẫu giáo lớn là lứa
tuổi mà trẻ đã cảm nhận về thơ ca sâu sắc hơn, có thể thuộc và hiểu những tác
phẩm thơ ngọt ngào ấy một cách tƣơng đối đầy đủ.
Tuy nhiên, việc áp dụng những bài thơ trong tập thơ Chú bò tìm bạn của
nhà thơ Phạm Hổ nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn vào trong các

2


bài dạy ở các trƣờng mầm non còn rất hạn chế và chƣa đạt hiệu quả, chƣa
hay, chƣa hấp dẫn.Vì thế, là giáo viên mầm non chúng tôi mong muốn tìm
hiểu rõ hơn về việc sử dụng ngôn ngữ trong thơ ông để có thế truyền những

cho giáo viên mầm non dạy trẻ thuộc thơ nhanh hơn và giúp trẻ có tình yêu
với thơ ca cũng nhƣ nắm đƣợc những ý sâu sắc của thơ ca.
Tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn “Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non”,
NXB Đại học Sƣ phạm, 2014, cũng chú trọng đến dạy nói cho trẻ, phát triển
ngôn ngữ thông qua các thành phần ngữ pháp Tiếng Việt đó là giáo dục chuẩn
mực ngữ âm Tiếng Việt, hình thành và phát triển vốn từ, dạy trẻ các mẫu câu
Tiếng Việt , phát triển lời nói mạch lạc, phát triển vốn từ nghệ thuật thông qua
tác phẩm văn học, để tạo tiền đề tốt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một.
Nhà thơ Vũ Duy Thông cũng nhận xét về thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi
rằng, đây là con ngƣời yêu trẻ đến mức đắm đuối không bao giờ no chán, một
ngƣời luôn khao khát tìm đến trẻ để hiểu và yêu chúng hơn nữa, một con
ngƣời vốn không đóng vai một thầy giáo nghiêm nghị cắt lời răn dạy phải trái
mà là một ngƣời bạn chân thành của trẻ.
Lã Thị Bắc Lý cũng nhận ra sức mạnh của ngòi bút Phạm Hổ ở chỗ ông
đã tìm ra đƣợc chìa khóa mở cửa của tâm hồn trẻ thơ, giáo dục trẻ thơ bằng
con đƣờng tình cảm nhẹ nhàng mà hiệu lực, thơ Phạn Hổ là chiếc cầu nối giữa
trẻ thơ và cuộc sống.
Nhà phê bình Nguyễn Xuân Nam trên báo văn nghệ số 373 năm 1970 đã
đánh giá cao tập thơ Chú bò tìm bạn của Phạm Hổ ở chỗ: mỗi bài thơ của ông
viết cho các em không chỉ là một bài học mở rộng dần con mắt mà còn là một
điều thú vị, hình thành thị hiếu tốt cho trẻ.
Và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau đã đi tìm hiểu sâu về
phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn. Tựu chung lại, các nhà khoa học đều
muốn trẻ phát triển ngôn ngữ, mở rộng vốn từ và nâng cao chất lƣợng dạy và

4


học của nền giáo dục mầm non. Tuy nhiên, cho tới thời điểm này vẫn chƣa có
một ai và chƣa có một công trình khoa học nào đi sâu vào đề tài “ Phát triển

- Phƣơng pháp điều tra
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận thì khóa luận gồm có ba chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua
tập thơ Chú bò tìm bạn của nhà thơ Phạm Hổ
Chƣơng 2: Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua
tập thơ Chú bò tìm bạn của nhà thơ Phạm Hổ
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm

6


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA TẬP THƠ CHÚ BÒ TÌM BẠN CỦA
NHÀ THƠ PHẠM HỔ
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về từ
Trong cuốn Cơ sở tiếng Việt, Hữu Đạt đã đƣa ra định nghĩa về từ nhƣ
sau: Từ chính là hệ thống vốn từ của một ngôn ngữ. Nói cách khác, từ vựng
là tập hợp tất cả các từ ngữ cố định trong một ngôn ngữ theo một hệ thống
nhất định [1;85].
Từ tiếng Việt gồm một số âm tiết cố định bất biến mang theo những đặc
điểm ngữ pháp nhất định, ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong
hệ thống ngôn ngữ và nhỏ nhất để tạo thành câu.
1.1.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ mẫu giáo lớn đã trong giai đoại trƣởng thành vì thế mà trẻ có nhu cầu
rất lớn về nhận thức, trẻ khát khao đƣợc tìm hiểu, khám phá thế giới xung
quanh mình. Các nhà nghiên cứu giáo dục đều khẳng định rằng phát triển vốn
từ là nền tẳng quan trọng để phát triển ngôn ngữ, có ý nghĩa quan trọng quyết
định đến mọi mặt sau này của trẻ.

đƣợc nhiều hơn các lứa tuổi khác: trạng từ đƣợc mở rộng; đã biết sử dụng các
quan hệ từ nhƣ: nếu, thì, thế mà, xong là, và, để, vì... Trẻ 5 - 6 tuổi đã biết sử
dụng từ số 1 đến số 10 và sử dụng đƣợc các từ không xác định: bao nhiêu,
vài, những, các... Trẻ đã sử dụng chính xã hơn các phó từ: đã, đang, sẽ, vẫn,
còn, rất, hơi... các tình thái từ: à, nhỉ, nhé... Trẻ biết sử dụng nhiều từ đơn hơn
từ ghép; trẻ hiểu từ láy và biết sử dụng chúng. Trẻ đã hiểu đƣợc một số từ có
ý nghĩa khái quát, biết sử dụng một số từ ghép mang tính gợi cảm và những từ
có nghĩa đối lập: bé xíu - to đùng, béo mẫm - gầy nhom, chua chua - ngọt

8


ngọt... các từ chỉ tính chất không gian(rộng lớn, mênh mông, bát ngát...), từ
chỉ tốc độ (nhanh, chậm...), từ chỉ màu sắc (xanh lơ, đỏ tươi...) đƣợc trẻ sử
dụng chính xác. Trẻ đã hiểu và biết sử dụng các khái niệm chỉ thời gian (hôm
qua, ngày mai, ngày kia...), từ đồng nghĩa (tàu hỏa - xe lửa, to - lớn...), từ có
tính chất gợi cảm, có hình ảnh và màu sắc khác nhau ( bé tí, bé xíu, be bé...).
Trẻ đã biết sử dụng các đại từ thích hợp với hoàn cảnh nói, ví dụ: nói với bạn
thì xƣng “tôi”, lúc tức giận thì xƣng “tao”, khi rủ rê thì “chúng mình”. Trẻ
mẫu giáo lớn đã biết xƣng hô đúng với các đối tƣợng gần gũi: em, tôi, tớ,
mình, người ta...
Trong khi sử dụng ngôn ngữ, trẻ đã bắt đầu hiểu nghĩa của từ và nguồn
gốc của nó. Ví dụ: Trẻ giải thích “Con của con bò là con bê vì nó hay kêu bê
bê”. Trẻ có thể dùng ngôn ngữ để thể hiện mối quan hệ qua lại nhiều mặt của
các sự vật, hiện tƣợng trong cuộc sống mà trẻ nhận thức đƣợc, bƣớc đầu có sự
khái quát và đƣa ra kết luận nhƣ: “Muối thì mặn còn đƣờng thì ngọt”, “Bố là
đàn ông còn mẹ là đàn bà”. Có thể nói rằng trẻ đã nắm đƣợc các loại từ có
tiếng mẹ đẻ và đủ để trẻ diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày. Ý nghĩa
của vốn từ với trẻ cũng phong phú hơn và khả năng năng nắm bắt vốn từ của
trẻ cũng phát triển hơn.

Tính từ tập truyện đầu tiên “Em Tre” (1949) đến năm 1933, Phạm Hổ đã
có 11 tập thơ, 9 tập truyện, 4 vở kịch viết cho các em. Ngoài ra ông có 8 tập
thơ, văn viết cho ngƣời lớn. Trong những năm kháng chiến chống Pháp,
Phạm Hổ hoạt động văn nghệ ở khu V. Thơ ông đƣợc in ở hai tập “ Em vẽ
Bác Hồ” (1948) và “Lúa non” (1954). Ở hai tập sáng tác phục vụ kịp thời và
có ý nghĩa tập dƣợt này đã bắt đầu bộc lộ thiên hƣớng viết cho thiếu nhi của
ông.
Và quả vậy, lĩnh vực mà ông thành công hơn cả là văn thơ viết cho thiếu
nhi. Điều đó, giúp ông có một vị trí trong nền văn học thiếu nhi hiện đại ở
nƣớc ta. Có thể kế các tập truyện dành cho các bạn đọc nhỏ tuổi là: Bê và sáo,

10


Viết thư cho cha, Chuyện hoa chuyện quả, Chú bò tìm bạn, Từ không đến
mười...
Năm 1966 Nhà Xuất bản Kim Đồng đã cho ra mắt tập Chú bò tìm bạn
gồm những bài văn và thơ của Phạm Hổ đƣợc tuyển chọn từ những truyện đã
xuất bản từ năm 1955 đến năm 1995, trong đó có một số bài đã đƣợc dịch và
giới thiệu ở Nga, Ukraina, Trung Quốc, Pháp, Đức, Hungari...
Phạm Hổ là một cây bút viết cho thiếu nhi rất thành công. Thơ ông giàu
trí tƣởng tƣợng, vui tƣơi, ngộ nghĩnh, dễ đọc, dễ nhớ hợp với tâm lí trẻ thơ.
Ông dựng lại những trò chơi của trẻ nhƣ: chồng nụ, chồng hoa, dung dăng
dung dẻ, nu na nu nống... cung cấp cho trẻ thơ nhiều truyện rất thật mà lạ vô
cùng của thiên nhiên, đời sống, có tác dụng thẩm mĩ, bồi dƣỡng việc hình
thành nhân cách của các em ngay từ lứa tuổi mẫu giáo, từ yêu thƣơng cây cỏ,
loài vật, đến quan hệ giữa ngƣời với ngƣời.
Viết cho các em, ngòi bút Phạm Hổ khá linh hoạt với những cách chuyển
đổi từ góc nhìn đến giọng điệu, lúc giọng trẻ thơ nói với nhau, lúc là giọng
của các cháu trò chuyện với thế giới thiên nhiên, và cũng có lúc là giọng của

vun đắp cho các em từ cây cỏ, loài vật đến con ngƣời. Từ quan hệ với ngƣời
thân trong gia đình đến cộng đồng xã hội. Ông còn khích lệ các em hãy tin
yêu và có trách nhiệm với cuộc sống.
Có thể nói, dù viết cho thiếu nhi hay viết cho ngƣời lớn, dù ở thể loại thơ
hay truyện, kịch, dù sáng tác hay phê bình... ngƣời đọc cũng luôn luôn thấy
ở Phạm Hổ một tâm hồn thơ đa dạng.
1.1.3.2 Ý nghĩa của tập thơ “Chú bò tìm bạn” đối với việc phát triển vốn
từ cho trẻ mẫu giáo lớn
a) Yếu tố ngôn ngữ trong tập thơ “Chú bò tìm bạn”
Qua khảo sát 60 bài thơ trong tập thơ Chú bò tìm bạn của Phạm Hổ
(NXB Kim Đồng, 1958), chúng tôi nhận thấy có tới 35 trên tổng số 60 bài thơ
có nội dung nói về thiên nhiên kì thú, cung cấp những vốn từ thiên nhiên gần

12


gũi xung quanh trẻ. Thiên nhiên với sự đông đúc, nhộn nhịp của các loài chim
chóc, muông thú, loài hoa, củ, quả... Bằng tài năng của mình Phạm Hổ đã
mang cho trẻ thơ những vần thơ trong sáng, ngọt ngào, tự nhiên và vô cùng
gần gũi.
Bảng 1.1
Bảng khảo sát các yếu tố ngôn ngữ trong tập thơ “ Chú bò tìm bạn” của nhà thơ
Phạm Hổ:

Số

Vốn từ về thế giới Vốn từ về

Vốn


Côn
Thú Trùng

quả

tự
nhiên
1

Chú bò tìm bạn

+

2

Ngựa con

+

3

Bê đòi bú

+

4

Sáo đậu lưng trâu

+

10

Ngủ rồi

+

11

Bướm em hỏi chị

+

+

13


12

Chơi ú tìm

+

13

Gấu đen

+

14


Khế

+

21

Na

+

22

Ổi

+

23

Vải

+

24

Dứa

+

25


+
+
+

+

+

trứng
31

Rình xem mặt trời

+

32

Thuyền giấy

+

33

Bé đi cày

+

34



của Bác Hồ
39

Những món đồ chơi

+

40

Thả diều lên

+

41

Bí bò mặt đất

42

Con quay

+

43

Giặt áo

+


Những vì sao

+

49

Rừng tự do

+

50

Tàu dài

+

51

Chú vịt bông

+

52

Bác lái xe

+

53


+

+

nho nhỏ
59

Đôi dép thần kì

60

Trăng sáng

+
+

15


Nhìn vào bảng thống kê có thể thấy: Tập thơ Chú bò tìm bạn bao gồm:
- 14/60 bài có nói tên các con vật điển hình nhƣ: gấu, trâu, bò, ngựa, bê, thỏ,
chó, mèo, gà, ngỗng, vịt, đom đóm, bướm, sáo.
- 6/60 bài nói tên các loại cây: bắp cải, tre, lúa, mía, xoan, bí.
- 1/60 bài nói tên các loại củ: củ cà rốt.
- 10/60 bài nói tên các loại quả: thị, khế, na, ổi, vải, dứa, đu đủ, dưa đỏ, dừa.
- 3/60 bài nói tên các hiện tƣợng tự nhiên: mặt trời, trăng, sao.
Đây có thể là con số không nhỏ góp phần vào công tác giáo dục để rèn
luyện về phƣơng diện ngôn ngữ cho trẻ em nói chung và trẻ lứa tuổi mầm non
nói riêng.
b) Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua thế giới loài vật ngộ nghĩnh, đáng yêu

Thỏ chạy, trăng chạy
Thỏ dừng, trăng dừng,
Thỏ con ngẩng mặt,
Nhìn trăng lạ lùng:
- “ Trăng ơi! Có phải
Trăng cũng có chân?”.
(Thỏ con và mặt trăng)
Sự ngây thơ của con trẻ thƣờng ham thích muốn biết Vì sao thế này? Vì
sao thế kia?. Những thắc mắc ấy đƣợc nhà thơ biến tấu đi thành những từ ngữ
thật dễ thƣơng làm sao:

17


- Mẹ uống sữa lúc nào
Mà sữa đầy vú mẹ?
Còn con bú nhiều thế
Sữa lại chạy đi đâu?
Ơ kìa, mẹ không nói
Lại cứ cười là sao?
( Bê hỏi mẹ)
Tiếp đến, trong bài thơ Chơi ú tim, tác giả đã giới thiệu cho các em về một
chú Chó tuy hơi ngốc một chút nhƣng tính các cực kì đáng yêu giống hệt nhƣ
lứa tuổi trẻ em thông qua trò chơi trốn tìm:
Rủ nhau chơi trốn tìm
Giờ đến phiên chó trốn
Mèo đảo mắt nhìn quanh,
Chó nấp đâu giỏi gớm!
...
- Không mình nấp giỏi thật

quanh đàn gà con:
Coi chừng bọn nó:
Cáo, quạ, diều hâu
...
Mẹ lại ngoái đầu
Nhìn sâu bụi thấp...
(Gà nở)
Thông qua câu chuyện “Gà con và quả trứng” Phạm Hổ đã đem đến cho
trẻ nhở những nhận thức về giống loài. “Một quả trứng lại biến đƣợc thành gà
con”? Đó là một điều lạ lẫm mà chú gà nhỏ lạ lẫm, thắc mắc hỏi mẹ:

19


Tròn nhẵn trứng hồng
Quả gì thế mẹ?
Và điều bí ẩn đó đã đƣợc gà mẹ ân cần giải thích:
Chính là con đó
Những ngày trước xa
Con nằm trong ổ
Lớn dần chui ra...
Làm sao có thể tƣởng tƣợng đƣợc: Lòng trắng, lòng đỏ/ Thành mỏ,
thành chân... cho nên chú gà con thắc mắc nhƣ vậy cũng là điều dễ hiểu. Sau
này khôn lớn chắc gà sẽ hiểu dần:
Mẹ nói đúng đấy
Lớn, con hiểu dần,
Nhiều chuyện rất thật
Mà lạ vô cùng.
(Gà con và quả trứng)
Thành công của Phạm Hổ không dừng lại ở những câu chuyện nhỏ xinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status