TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
===o0o===
ĐINH THỊ THU
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ
CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA
TẬP THƠ “BÀI CA TRÁI ĐẤT” CỦA
ĐỊNH HẢI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành:Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. Lê Thị Thùy Vinh
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trƣờng Đại học Sƣ
phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô
giáo trong tổ bộ môn phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ em
trong quá trình học tập tại trƣờng và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa
luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo TS. Lê Thị Thùy Vinh - ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo em trong quá
trình học tập, nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này.
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu xót và
hạn chế. Kính mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo
và các bạn để đề tài đƣợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1.1.3. Cơ sở sinh lí học .................................................................................. 9
1.1.4. Cơ sở ngôn ngữ học ........................................................................... 11
1.1.5. Các khái niệm cơ bản ......................................................................... 13
1.5.1. Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non .................................................. 13
1.5.2. Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn. .......................... 17
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ của nhà thơ Định Hải................ 20
1.2.2. Khảo sát thực trạng………………………………………………….22
Chƣơng 2. BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO
LỚN THÔNG QUA TẬP THƠ “BÀI CA TRÁI ĐẤT” CỦA ĐỊNH HẢI ...... 27
2.1. Từ ngữ trong tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà thơ Định Hải .............. 27
2.1.1. Yếu tố ngôn ngữ trong tập thơ “Bài ca trái đất” ............................ 27
2.1.2. Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua thế giới trẻ thơ hồn nhiên, ngộ
nghĩnh qua tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà thơ Định Hải ..................... 29
2.1.3. Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua thế giới trẻ thơ hồn hậu, trong sáng,
đậm chất nhân văn qua tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà thơ Định Hải ...... 33
2.2. Các biện pháp phát triển vốntừ qua tập thơ “Bài ca trái đất” của nhà
thơ Định Hải ................................................................................................. 35
2.2.1. Biện pháp đọc thơ cho trẻ nghe ...................................................... 36
2.2.2. Biện pháp đàm thoại ....................................................................... 40
2.2.3. Biện pháp giải nghĩa của từ ............................................................ 41
2.2.4. Dạy trẻ học thuộc thơ...................................................................... 45
KẾT LUẬN .................................................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 48
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
nghề, đƣợc bao thế hệ nhỏ tuổi đón nhận, yêu mến. Với tập thơ nổi tiếng “Bài
ca trái đất”, Định Hải đã ghi dấu ấn riêng qua việc vẽ nên thế giới trẻ thơ
sống động, vừa hồn nhiên, ngây thơ vừa mang chiều sâu triết lí. Tựu chung đó
là nghệ thuật chan chứa tình yêu thƣơng, lòng nhân ái, sự bao dung giữa con
ngƣời với con ngƣời, giữa con ngƣời với thế giới tự nhiên. Trong thế giới ấy
cây cỏ, động vật cũng đƣợc thổi một luồng sinh khí trở nên sống động, có hồn
nhƣ trong bài thơ “Cái nụ”, “Con vịt”, “Con chó và con mèo”. Đọc “Bài ca
trái đất”, bạn đọc không chỉ bắt gặp trong đó thế giới trẻ thơ hồn nhiên, ngộ
nghĩnh mà còn cảm nhận đƣợc nét đẹp hồn hậu, trong sáng và đậm chất nhân
văn. Sáng tác đã mang đến cho thế giới trẻ thơ những ƣớc mơ, khát vọng về
cuộc sống tốt đẹp, nhân ái, góp phần tạo dựng và giáo dục phẩm chất, những
đức tính tốt cho các em. Điều này đƣợc thể hiện qua những vần thơ ấm áp, nói
lên tình yêu gia đình, yêu mến công việc lao động cũng nhƣ có những ƣớc
mơ, khát vọng của tuổi thơ.
Từ những lí do trên, chúng tôi đã mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua tập thơ “Bài ca trái đất”
của Định Hải” với mong muốn tìm hiểu rõ hơn việc sử dụng từ ngữ trong thơ
Định Hải để giúp trẻ phát triển vốn từ nói riêng và ngôn ngữ nói chung, từ đó
truyền những cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ thơ Định Hải đến với các em.
2. Lịch sử vấn đề
Từ lâu vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ mẫu giáo
lớn là vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu.
Ở Việt Nam, từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vấn đề này cũng
đƣợc quan tâm. Một số hội nghị khoa học ở Trung Ƣơng cũng nhƣ địa
phƣơng đã hƣớng vào nội dung việc thảo luận nâng cao chất lƣợng giảng dạy
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non.
2
tập thơ đã khai thác các khía cạnh: hồn nhiên, ngộ nghĩnh, giàu tƣởng tƣợng
của trẻ em; nhận thức của các em về mối quan hệ gia đình, ý thức lao động,
tình cảm bạn bè.
Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn nhận xét khá đầy đủ về Định Hải và quá
trình sáng tác thơ viết qua thiếu nhi qua bài viết Nhà thơ Định Hải (Tạp chí
nhà văn, 6 - 2001). Nguyễn Trọng Hoàn đã nhận xét: “Cảm hứng bao trùm
lên nội dung và các tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà thơ Định Hải là tình
yêu thương con người, tình yêu thiên nhiên, tình yêu loài vật. Trong thơ ông,
khát vọng lớn nhất của tuổi thơ là khát vọng hòa bình, là tình hữu nghị”.
Và còn rất nhiều những công trình nghiên cứu khác đi vào tìm hiểu về
ngôn ngữ và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo ở các độ tuổi, các giai đoạn.
Tựu chung lại các nhà khoa học đều muốn trẻ đƣợc phát triển về mặt ngôn
ngữ, nâng cao chất lƣợng dạy và học của ngành giáo dục mầm non nói riêng
và của ngành giáo dục nƣớc ta nói chung. Tuy nhiên cho đến thời điểm này
chƣa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về
đề tài thơ Định Hải đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non. Với đề
tài này, chúng tôi đã tìm đƣợc hƣớng đi riêng, dựa trên sự tìm hiểu, đánh giá
và thực nghiệm của chính bản thân.
3. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu
giáo lớn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn.
- Phạm vi nghiên cứu: trong khuôn khổ khóa luận chúng tôi nghiên cứu
sự phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn qua tập thơ“Bài ca trái đất”của nhà
thơ Định Hải.
4
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở tâm lí học
Con ngƣời khác xa con vật nhờ có ngôn ngữ. Ngôn ngữ là phƣơng tiện
vừa là điều kiện để con ngƣời hoạt động và giao lƣu. Trong hoạt động học tập
ngôn ngữ là công cụ có giá trị, có tác dụng vô cùng to lớn.ngôn ngữ vừa là
công cụ hiện thực hóa tƣ duy, lĩnh hội tri thức vừa nói lên khả năng trí tuệ của
con ngƣời. ngôn ngữ và tƣ duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động
qua lại với nhau, ngƣời có tƣ duy tốt sẽ nói năng mạch lạc, trôi chảy; nếu trau
dồi ngôn ngữ tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo điều kiện cho tƣ duy phát triển tốt.
Đứng ở góc độ tâm lí học, các nhà ngôn ngữ thấy rằng: việc tiếp thu
ngôn ngữ có nhiều điểm khác so với tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực
khác. Ngôn ngữ đƣợc hình thành rất sớm. Ngay từ giai đoạn hài nhi, ở trẻ đã
hình thành những tiền đề của sự lĩnh hội ngôn ngữ. Nhu cầu giao tiếp với
ngƣời lớn ngày càng tăng làm nảy sinh khả năng nói nói năng của trẻ. Trẻ
không có ý thức về ngôn ngữ nhƣng bằng cách bắt chƣớc có tính bản năng, trẻ
em sẽ đƣợc học nói của những ngƣời xung quanh mình.
Sự phát triển mọi mặt của trẻ mẫu giáo chƣa hoàn thiện, còn non nớt.
Hoạt động học tập đòi hỏi sự căng thẳng về trí tuệ và thể lực, đòi hỏi sự chú ý
có chủ định kéo dài, đòi hỏi sự hoạt động nhiều mặt của trẻ. Trẻ 5 - 6 tuổi,
chú ý không chủ định phát triển mạnh, chú ý đã có chủ định đã xuất hiện
nhƣng còn hạn chế. Đặc điểm trí nhớ của trẻ mẫu giáo là tính trực quan hình
tƣợng, tính không chủ định nhờ tác động một cách tự nhiên của những ấn
tƣợng hấp dẫn bên ngoài.Trí nhớ trực quan phát triển mạnh hơn trí nhớ từ ngữ
- logic. Ghi nhớ máy móc là đặc điểm nổi bật, trẻ ghi nhớ những sự vật hiện
6
tƣợng, cụ thể dễ dàng hơn nhiều so với những lời giải thích dài dòng. Vào
cuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ có một bƣớc biến đổi về chất: ghi nhớ có
chủ định xuất hiện và phát triển mạnh. Biểu tƣợng của trí nhớ ở trẻ mẫu giáo
chiếm lĩnh. Đến tuổi mẫu giáo lớn, khi ngôn ngữ trở thành phƣơng tiện của tƣ
duy và cho phép trẻ giải những bài toán trí tuệ mà không cần sử dụng trực tiếp
hành động và biểu tƣợng. Lúc này trẻ bắt đầu tập làm quen, lĩnh hội những
khái niệm đơn giản, khái niệm trừu tƣợng.những khái niệm đó là những tri
thức về các dấu hiệu chung và bản chất của sự vật cũng nhƣ hiện tƣợng trong
hiện thực đã đƣợc khái quát lại bằng các từ. Trẻ biểu hiện năng lực trí tuệ qua
hoạt động tổng hợp của lời nói, qua quan sát, chú ý và suy nghĩ bằng năng lực
ghi nhớ liên tƣởng và khả năng giải quyết các nhiệm vụ thông qua vui chơi
sáng tạo. Tƣ duy trực quan giải thích việc trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ có
vốn từ biểu danh là chủ yếu. Tƣ duy trừu tƣợng và tƣ duy logic xuất hiện ở
tuổi thứ năm và cho phép trẻ em lĩnh hội những khái niệm đầu tiên- đó là
những khái niệm về sự vật, hiện tƣợng gần gũi xung quanh trẻ.
Việc cho trẻ tiếp xúc nhiều với thơ và việc giáo dục đạo đức trẻ thông
qua nội dung các bài thơ là hai hƣớng đi song song nhất quán, thúc đẩy, hỗ trợ
phát triển cho trẻ và dần hình thành nhân cách trẻ thơ.
1.1.2. Cơ sở giáo dục học
Dạy học ở trƣờng mẫu giáo là quá trình phát triển có hệ thống, có kế
hoạch, có mục đích các năng lực nhận thức cửa trẻ, trang bị cho trẻ hệ thống
tri thức sơ đẳng, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tƣơng ứng.trên cơ sở đó góp phần
hình thành nhân cách cho trẻ. Trong quá trình dạy học gồm có nhiều hoạt
động khác nhau nhƣ: Làm quen với văn học, Hình thành biểu tượng toán sơ
đẳng cho trẻ mầm non, Làm quen với môi trường xung quanh… Tất cả các
hoạt động này nhằm mục đích mở rộng kiến thức hiểu biết cho trẻ và bên
cạnh đó còn một nhiệm vụ quan trọng là phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Hiện
nay ở các trƣờng mầm non có hai hình thức phát triển lời nói cho trẻđó là: tiết
8
học và ngoài tiết học. Các tiết học nhƣ: nhận biết tập nói, Làm quen với chữ
gấp 3 và đa số các tế bào thần kinh đã đƣợc biệt hóa.
Học thuyết về các hệ thống tín hiệu đã khẳng định: Ngôn ngữ là hệ thống
tín hiệu thứ hai, là sự hoạt động đặc biêt của vỏ bán cầu đại não. Hệ thống tín
hiệu thứ hai có đƣợc là nhờ những kích thích trừu tƣợng nhƣ ngôn ngữ, lời
nói, chữ viết… Việc phát triển ngôn ngữ phải lien quan mật thiết tới việc phát
triển, hoàn thiện bán cầu đại não và hệ hệ thần kinh. Trong ba năm đầu là kết
thúc sự trƣởng thành về mặt giải phẫu vùng não chỉ huy ngôn ngữ, vì thế phải
phát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc mới đạt hiệu quả tốt nhất.
Để có thể giao tiếp tốt chúng ta không thể không kể đến bộ máy phát âm.
Mỗi con ngƣời sinh ra đã có sẵn bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất để sản
sinh âm thanh ngôn ngữ. Đó là một trong những điều kiện vật chất quan trọng
nhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ; nếu nhƣ bộ máy phát âm có một
khiếm khuyết nào đó (ví dụ nhƣ sứt môi, hở hàm ếch, ngắn lƣỡi, lƣỡi dài…)
thì việc hình thành lời nói cũng gặp rất nhiều khó khăn. Khi sinh ra mỗi con
ngƣời không phải đã có ngay bộ máy phát âm hoàn chỉnh. Độ tuổi mầm non
là giai đoạn hoàn thiện dần bộ máy đó: sự xuất hiện và hoàn thiện của hai
hàm răng, sự vận động của môi, lƣỡi, hàm dƣới… quá trình đó diễn ra tự
nhiên theo các quy luật sinh học, nó phát triển và hoàn thiện cùng sự lớn lên
của trẻ. Trong thực tế ở cùng một độ tuổi nhiều em có ngôn ngữ phát triển tốt,
phát âm rõ ràng bên cạnh đó có những em ngôn ngữ kém phát triển hơn, nói
ngọng hoặc lời nói không rõ ràng. Có sự khác nhau nhƣ thế là do bộ máy phát
âm khác nhau và quá trình chăm sóc giáo dục cũng khác nhau. Trẻ nói ngọng
là do bộ máy phát âm phát triển chƣa hoàn chỉnh. Tuy nhiên bộ máy phát âm
hoàn chỉnh mới chỉ là tiền đề vật chất. Cùng với thời gian, quá trình học tập,
rèn luyện một cách có hệ thống sẽ làm cho bộ máy phát âmđáp ứng đƣợc nhu
cầu thực hiện các chuẩn mực âm thanh ngôn ngữ. Cấu tạo bộ máy phát âm
gồm: dây thanh và các hộp cộng hƣởng phía trên thanh hầu. Âm sắc và tiếng
10
và ngƣợc lại, mọi hoạt động thúc đẩy ngôn ngữ của trẻ phát triển.
Ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non chủ yếu là ngôn ngữ nói, vì thế
sự phát triển ngôn ngữ nói của trẻ phụ thuộc rất lớn vào sự giao tiếp của trẻ
em với ngƣời lớn và giữa các trẻ với nhau. Sống trong xã hội con ngƣời luôn
phải giao tiếp, mà khi giao tiếp con ngƣời phải sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt
với những ngƣời xung quanh. Trẻ em giao tiếp với mọi ngƣời xung quanh,
học các từ của ông bà, bố mẹ, ngƣời thân, bạn bè thì ngôn ngữ của trẻ cũng
chịu ảnh hƣởng không nhỏ. Trẻ bắt chƣớc ngƣời lớn nói và đƣợc đƣợc ngƣời
lớn dạy. Cần làm giàu vốn từ cho trẻ bằng những từ mới, từ khó đối với trẻ.
Đào sâu cung cấp, chính xác hóa vốn từ cho trẻ hiểu chính xác nghĩa của từ;
tích cực hóa vốn từ cho trẻ, trang bị cho trẻ vốn từ sống động. Bằng vốn ngôn
ngữ của mình trẻ có thể biểu đạt hiểu biết của mình cho ngƣời lớn hiểu và
hiểu đƣợc ý nghĩa những câu nói của ngƣời lớn. Trong công tác giáo dục
mầm non ngƣời lớn cần có ý thức rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ
một cách thƣờng xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoạt động.
Sống trong xã hội luôn phải giao tiếp, mà khi giao tiếp con ngƣời luôn
phải sử dụng vốn từ của mình để biểu đạt với những ngƣời xung quanh. Vốn
từ cá nhân phát triển thì ngôn ngữ càng phát triển. Trong vốn từ của trẻ mẫu
giáo, đầu tiên trẻ phản ứng những đặc trƣng của sự vật, hiện tƣợng.Càng lớn
trẻ em càng có nhiều vốn từ thể hiện đặc điểm của sự vật, hiện tƣợng bằng từ
ngữ. Vốn từ của trẻ mẫu giáo có khối lƣợng nhỏ hơn rất nhiều so với khối
lƣợng vốn từ của ngƣời lớn vì khối lƣợng tri thức của trẻ còn hạn chế. Vì thế
mở rộng vốn từ cho trẻ phải dựa vào sự mở rộng nhận thức cho trẻ. Vốn từ
chủ động là vốn từ mà chủ thể nói năng sử dụng một cách tích cực trong giao
tiếp. Vốn từ chủ động của trẻ mẫu giáo ít hơn so với vốn từ bị động, vì thế
tích cực hóa vốn từ là chuyển hóa vốn từ thụ động sang vốn từ chủ động cho
trẻ. Vốn từ cơ bản bao gồm những từ ngữ có tần số xuất hiện cao, vì thế dạy
13
thƣờng xuyên đƣợc tiếp xúc.
Từ 12 tháng trở đi, nhu cầu giao tiếp của trẻ với thế giới xung quanh
ngày cành tăng, bên cạnh các âm bập bẹ xuất hiện các từ chủ động đầu tiên.
Khi 18 tháng, số từ bình quân là 11 từ, trẻ bắt chƣớc ngƣời lớn và lặp lại một
số từ gần gũi nhƣ: bố, mẹ, bà, ô tô, măm…
Từ 19 - 21 tháng, môi trƣờng tiếp xúc của trẻ đƣợc mở rộng, trẻ đƣợc
làm quen với nhiều sự vật, hiện tƣợng hơn, số lƣợng từ của trẻ tăng lên rõ rệt.
Đến 21 tháng tuổi, trẻ đạt 220 từ. Giai đoạn 21 - 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ
đạt 234 từ vào tháng 24, sau đó tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ.
Trẻ 3 tuổi sử dụng đƣợc hơn 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ
và các từ loại khác.danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các con vật gần
gũi nhƣ: búp bê, siêu nhân, quả bóng, con chó, con mèo, con gà… Động từ
chỉ những hoạt động gần gũi với trẻ và những ngƣời xung quanh nhƣ: ăn,
uống, ngủ, chơi…
Trẻ 4 tuổi có thể nắm đƣợc gần 700 từ, ƣu thế vẫn thuộc về danh từ và
động từ. Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ.
Ở độ tuổi 5 - 7 tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân 1033 từ, tính từ và các
loại từ khác đã chiếm tỉ lệ cao hơn.
Tốc độ tăng vốn từ ở các độ tuổi khác nhau, chậm dần theo độ tuổi: cuối
3 tuổi so với đầu 3 tuổi vốn từ tăng 107%; cuối 4 tuổi so với đầu 4 tuổi tăng
40,58%; cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi, vốn từ của trẻ chỉ tăng 10,40% ; cuối 6
tuổi so với đầu 6 tuổi vốn từ chỉ tăng 10,01%. [7; 77]
Mặc dù số lƣợng từ của trẻ mẫu giáo do các nhà tâm lí học, ngôn ngữ
học đƣa ra không khớp nhau, nhƣng sự chênh lệch không lớn lắm; bởi lẽ số
lƣợng từ của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau trong đó quan
trọng nhất là tác động của môi trƣờng nhƣ sự tiếp xúc thƣờng xuyên với
Theo Fedorenko (Nga), ở trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ
15
nhƣ sau:
- Mức độ zero (mức độ 0): mỗi sự vật có tên gọi gắn với nó. Cuối tuổi
lên một, đầu tuổi lên 2, trẻ hiểu đƣợc những từ ngữ thể hiện một sự vật đơn lẻ,
cụ thể, tách biệt, những từ ngữ ở mức độ khái quát (nghĩa biểu danh).
Ví dụ: Mẹ, bố, bàn bát…
Một điều cần chú ý là: động từ và tính từ không có mức khái quát zero
nhƣ danh từ.
- Mức độ thứ nhất của sự khái quát: cuối tuổi lên hai, trẻ nắm đƣợc mức
độ thứ nhất của sự khái quát - ý nghĩa biểu niệm ở mức thấp, tức là tên gọi
chung của đối tƣợng cùng loại (đồ vật, hành động, tính chất).
Ví dụ: “Bóng” chỉ một quả bóng bất kì nhƣ bóng bay, bóng nhựa, bóng
cao su; “cốc” chỉ những vật dùng để uống nƣớc.
- Mức độ thứ hai của sự khái quát: trẻ nắm đƣợc những từ ngữ thể hiện
sự khái hơn.
Ví dụ: “quả” có thể chỉ bất cứ loại quả nào (quả cam, quả xoài, quả
táo…); “xe” (xe đạp, xích lô, ô tô…); “con” (gà, mèo, lợn, chim…).
Cam, xoài, táo: mức độ thứ nhất của sự khái quát; “quả”: mức độ thứ hai
của sự khái quát.
- Mức độ ba của sự khái quát: trẻ 5 - 6 tuổi có thể nắm đƣợc mức độ ba
của sự khái quát.
Ví dụ: “đồ vật” có thể chỉ đồ chơi nhƣ búp bê, máy bay, ô tô…; “đồ gỗ”
chỉ các đồ dùng, vật dụng đƣợc làm từ gỗ (bàn, ghế, giường…); “phương tiện
giao thông” (xe máy, tàu thủy, tàu hỏa, máy bay…).
“Búp bê”: mức độ thứ nhất của sự khái quát; “đồ chơi”: mức độ thứ hai
của sự khái quát; “đồ vật”: mức độ thứ ba của sự khái quát.
mang tính văn học nhƣ: áng mây, đóa hoa,… Trẻ biết sử dụng một số từ chỉ
khái niệm trừu tƣợng, mặc dù trẻ chƣa thực sự hiểu nghĩa của từ đó, thậm chí
không hiểu nhƣ: kiến trúc tài năng,…
- Về động từ: phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển thêm
17
những nhóm từ mới nhƣ:nhảy nhót, leng keng, ngoe nguẩy…; những động từ
chỉ sắc thái khác nhau nhƣ: chạy vèo vèo, chạy tung tăng…; xuất hiện thêm
những động từ có nghĩa trừu tƣợng nhƣ: giáo dục, khánh thành… Trẻ mẫu
giáo lớn đã phân biệt đƣợc nghĩacủa các động từ gần nghĩa nhau, ví dụ: động
từ “băm” và “chặt” (khi băm thì nhẹ nhàng, khi chặt phải mạnh và nhanh
hơn). Trẻ cũng có thể hiểu đƣợc một số từ có thể có nhiều nghĩa khác nhau
nhƣ: đánh đập, đánh rơi, đánh mất, đánh bóng…
- Về tính từ: phát triển về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng, trẻ sử dụng
nhiều tính từ có tính chất gợi cảm nhƣ: tròn xoe, đỏ chót, sáng lóe, ngọt lịm…
Trẻ đã sử dụng chính xác các từ chỉ tính chất không gian nhƣ: cao - thấp, dàingắn, rộng - hẹp…, các từ chỉ tốc độ nhƣ: nhanh - chậm…, các từ chỉ màu
sắc: đỏ, vàng, cam, xanh, nâu, tím…
- Ngoài ra các loai từ khác nhƣ đại từ, trạng từ, quan hệ từ, phụ từ…
cũng đƣợc dùng nhiều hơn những lứa tuổi khác: trạng từ đƣợc mở rộng; trẻ
cũng đã biết sử dụng những quan hệ từ nhƣ: nếu, thì, vì, nên, thế mà, xong là,
và, với, nhưng, để… Trẻ 5 - 6 tuổi đã biết số từ số 1 đến số 10 và sử dụng
đƣợc các từ không xác định: bao nhiêu, một vài, những, các… Trẻ đã sử dụng
chính xác hơn các phó từ: đã, đang, sẽ, vẫn, còn, hơi, không, chưa…, các tình
thái từ: à, nhé, nhỉ… Trẻ biết sử dụng nhiều từ đơn hơn từ ghép; trẻ hiểu
nhiều từ láy và biết sử dụng chúng. Trẻ đã hiểu đƣợc một số từ có nghĩa khái
quát, biết sử dụng một số từ ghép mang tính gợi cảm và những từ có nghĩa đối
lập: bé xíu- to đùng, béo múp - gầy nhom… các từ chỉ tính chất không gian
(bao la, bát ngát, rộng lớn, mênh mông, bát ngát…), từ chỉ tốc độ (nhanh,
chậm, thoăn thoắt, lề mề…), từ chỉ màu sắc (đo đỏ, tim tím, xanh lơ…) đƣợc
Tỉ lệ (so với vốn
từ) đã thống kê
Danh từ
291
40%
Động từ
230
30%
Tính từ
58
7,3%
Đại từ
25
2,7%
Số từ
17
vi nhất về phƣơng diện ngữ pháp và phƣơng diện tu từ, trẻ nói năng mạch lạc
và thoải mái. Trẻ đã thực sự nắm vững tiếng mẹ đẻ trong đời sống sinh hoạt
và ở một mức độ nào đó về phong cách nghệ thuật (tức là nói năng có văn
hóa, lịch sự, lễ phép).
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ của nhà thơ Định Hải
Định Hải là một trong những nhà thơ có nhiều cống hiến cho nền văn
học thiếu nhi Việt Nam. Ông tên thật là Nguyễn Biểu, sinh ngày 6-6-1937,
quê xã Định Hải, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá, nguyên Tổng biên tập tạp
chí Tuổi Xanh, nguyên Trƣởng ban Văn học thiếu nhi Hội nhà văn Việt Nam.
Từ 1962, ông đã sáng tác rất nhiều thể loại cho thiếu nhi nhƣ: truyện
ngắn, truyện thơ, thơ, hoạt cảnh, viết lời cho các bộ phim hoạt hình... Ở mỗi
thể loại ông đều để lại những ấn tƣợng sâu sắc trong lòng độc giả. Song thành
công hơn cả là những sáng tác thơ viết cho thiếu nhi. Thơ của ông đã mang
đến những cảm xúc chân thành, bình dị, gần gũi, thân quen đối với tâm hồn
trẻ thơ.
Các tác phẩm chính đã đƣợc xuất bản: các truyện kí: Thăm Bắc Lí
(1964), Hoa mùa xuân (1967); truyện vừa: Bàn tay gieo hạt (1967); truyện
thơ: Nắng xuân trên dẻo cao (1969); các tập thơ: Chồng nụ, chồng hoa
(1970), Hươu cao cổ (1975), Én hát - đu quay (1976), Bài ca trái đất (1983),
Nụ hôn học trò (1988).
Trong đó, tập thơ Bài ca trái đất đƣợc giải thƣởng Hội nhà văn Việt Nam
1984, sau đó đƣợc in số lƣợng lớn trong Tủ sách vàng của NXB Kim Đồng
(1997). Tập thơ Bài ca trái đất bao gồm 147 bài. Tập thơ khai thác các khía
20