TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
ĐINH THỊ HÀ PHƯƠNG
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TÌM HIỂU
VỀ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
Người hướng dẫn
ThS.GVC. Phan Thị Thạch
HÀ NỘI 2017
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và các thầy cô giáo trong
tổ bộ môn phương pháp phát triển ngôn ngữ đã giúp đỡ em trong thời gian
học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo - Th.S Phan
Thị Thạch – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập,
nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này. Đồng thời, em xin chân
thành cảm ơn Ban Giám hiệu, toàn thể các cô giáo trường Mầm non Đại
Thịnh đã giúp em có những tư liệu tốt.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ,
DANH MỤC VIẾT TẮT
CBĐ
: Cái biểu đạt
CĐBĐ
: Cái được biểu đạt
ĐVTCĐ : Đóng vai theo chủ đề
GV
: Giáo viên
MGB
: Mẫu giáo bé
MGN
: Mẫu giáo nhỡ
NXB
: Nhà xuất bản
SL
: Số lượng
1.1.3 Năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp ................................................. 17
1.2 Cơ sở tâm lí học ........................................................................................ 18
1.3 Cơ sở giáo dục học ................................................................................... 21
CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ MGN TÌM HIỂU VỀ GIA ĐÌNH
VÀ XÃ HỘI THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ............... 24
2.1 Khảo sát thực trạng vốn từ của trẻ MGN ở trường Mầm non Đại Thịnh, xã
Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội ............................................... 24
2.2 Khảo sát nội dung chương trình giáo dục dành cho trẻ MGN .................. 27
2.2.1 Khảo sát nội dung chương trình giáo dục cho trẻ MGN do Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành ........................................................................................ 27
2.2.2 Khảo sát việc thực hiện nội dung chương trình cho trẻ MGN ở trường
Mầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội ....... 36
2.3 Một số biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu về gia đình và xã hội theo định
hướng phát triển vốn từ cho trẻ ....................................................................... 42
2.3.1 Sử dụng biện pháp đàm thoại giúp trẻ MGN khám phá về Gia đình của
bé theo định hướng phát triển vốn từ .............................................................. 42
2.3.2 Giúp trẻ MGN phát triển vốn từ khi tìm hiểu về Nhu cầu của gia đình
thông qua việc tổ chức cho trẻ hoạt động cho trẻ hoạt động ở các góc .......... 45
2.3.3 Sử dụng biện pháp hướng dẫn trẻ quan sát giúp trẻ MGN khám phá về
Ngôi nhà gia đình ở theo định hướng phát triển vốn từ.................................. 47
2.3.4 Sử dụng trò chơi học tập giúp trẻ khám phá Một số nghề phổ biến, quen
thuộc trong xã hội và một số nghề phổ biến ở địa phương theo định hướng
vốn từ............................................................................................................... 50
2.3.5 Sử dụng đồ chơi để giúp trẻ MGN khám phá về Phương tiện giao thông
theo định hướng phát triển vốn từ ................................................................... 56
2.3.6 Giúp trẻ MGN phát triển vốn từ thông qua hoạt động dạy trẻ đọc những
bài thơ tìm hiểu về một số Luật giao thông .................................................... 57
thành và phát triển các năng lực cơ bản trong đó có năng lực sử dụng từ.
Trong ngôn ngữ, từ là một thể thống nhất giữa âm thanh và nội dung ý
nghĩa, là đơn vị trung tâm, là vật liệu trực tiếp để tạo ý, tạo lời và tạo câu. Để
có thể giao tiếp tốt, để có thể tự bộc lộ những nhu cầu, momg muốn, tâm tư,
tình cảm của bản thân trẻ em cần được trang bị cho mình một vốn từ ngữ
phong phú. Việc có được một vốn từ ngữ phong phú sẽ giúp ích cho trẻ rất
nhiều, nhờ đó trẻ có thể tự nắm bắt được những gì mà trẻ nghe được từ mọi
người xung quanh. Trẻ có thể tự do bày tỏ cảm xúc và nói lên suy nghĩ của
bản thân với nhiều người khác, qua đó nâng cao khả năng giao tiếp xã hội của
trẻ. Trẻ mầm non nói chung và trẻ MGN nói riêng cần phải được trang bị cho
mình một vốn từ nhất định để giao tiếp, tiếp thu những tri thức ban đầu trong
trường mầm non, là nền tảng để trẻ lĩnh hội các kiến thức ở các bậc học tiếp
theo.
1
Có thể thấy rằng, Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống
giáo dục quốc dân. Nếu ví rằng quá trình học tập của con người giống như
quá trình xây dựng một ngôi nhà thì bậc học mầm non chính là những “viên
gạch” đầu tiên đặt nền móng cho ngôi nhà ấy, nền móng có chắc thì ngôi nhà
mới trở nên vững chãi. Như vậy, bậc học mầm non được coi là bước đệm, là
tiền đề vô cùng quan trọng cho trẻ trước khi đến trường phổ thông. Sinh thời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói:
“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”.
Điều đó cho thấy rằng trẻ em ở lứa tuổi mầm non cần được nâng niu,
chăm sóc và dạy dỗ một cách đặc biệt. Trường mầm non là nơi nuôi dưỡng,
khơi dậy và phát huy tối đa các năng lực và trí tuệ của trẻ ngay từ những năm
tháng đầu tiên của cuộc sống. Ở đó, trẻ phải được hoạt động để bộc lộ mình
2.1 Việc tìm hiểu về vốn từ nói chung và phát triển vốn từ cho trẻ mầm non
nói riêng từ góc nhìn của các nhà khoa học:
- Đỗ Hữu Châu,“Giáo trình Việt ngữ tập hai”, NXB Giáo dục, 1962.
Trong cuốn giáo trình này, Đỗ Hữu Châu đã nghiên cứu các đơn vị từ vựng
trong tiếng Việt. Vốn từ là một trong những nội dung được ông đề cập đến
khi tìm hiểu về loại đơn vị ngôn ngữ được xem là đơn vị trung tâm, đơn vị cơ
bản của tiếng Việt.
- Nguyễn Xuân Khoa là nhà khoa học giáo dục đầu tiên ở Việt Nam đã
đề cập đến và phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo. Trong cuốn giáo trình
“Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, NXB Đại học Sư
phạm, 2004 tác giả đã dành chương V- một trong mười hai chương sách để
trình bày khái quát những nội dung liên quan đến việc phát triển vốn từ cho
trẻ mẫu giáo.
- Trong cuốn “Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ dưới 6 tuổi”,
nhóm tác giả Hoàng Thị Oanh - Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2005 cũng đã dành một chương (chương IV) trong tám
chương của giáo trình để trình bày phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ
thuộc đối tượng nghiên cứu.
Đinh Hồng Thái - tác giả giáo trình: “Phương pháp phát triển lời nói
cho trẻ em” đã trình bày ba vấn đề chính. Ở phần thứ ba của giáo trình tác giả
đã dành chương VI để trình bày khái quát về nội dung, biện pháp hình thành
và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo.
2.2 Việc phát triển vốn từ cho trẻ mầm non từ góc nhìn của sinh viên khoa
Giáo dục Mầm non Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
3
Trong những năm gần đây, phát triển ngôn ngữ nói chung và phát triển
vốn từ cho trẻ mầm non nói riêng là một vấn đề được rất nhiều sinh viên khoa
4
Tựu chung, các nhà khoa học, các bạn sinh viên đều muốn tìm ra các
hình thức, biện pháp để phát triển vốn từ cho trẻ một cách hiệu quả nhất, nâng
cao chất lượng dạy và học của ngành Giáo dục Mầm non nói riêng và nền
giáo dục của đất nước ta nói chung. Chúng ta có thể thấy rằng, tìm hiểu về
vốn từ và phát triển vốn từ cho trẻ mầm non không phải là một vấn đề mới
mẻ. Tuy nhiên, cho tới thời điểm này chưa có một tác giả, một công trình
khoa học nào đi sâu, tìm hiểu vấn đề phát triển vốn từ cho trẻ MGN thông qua
hoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của
vấn đề này, chúng tôi lựa chọn và tìm hiểu đề tài: “Phát triển vốn từ cho trẻ
mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội”.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những biện pháp phát triển vốn
từ cho trẻ thông qua hoạt động tìm hiểu về gia đình và xã hội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Lựa chọn những lí thuyết chuyên ngành sát thực làm cơ sở lí luận cho
khóa luận
4.2 Khảo sát thống kê
a. Thực trạng vốn từ của trẻ MGN trong hoạt động tìm hiểu về gia đình và
xã hội ở trường Mầm non Đại Thịnh, xã Đại Thịnh, huyện Mê Linh, thành
phố Hà Nội.
b. Nội dung chương trình hướng dẫn trẻ MGN tìm hiểu về gia đình và xã
hội trong chương trình giáo dục ở bậc mầm non.
5. Mục đích nghiên cứu
Việc thực hiện đề tài trước hết giúp tác giả khóa luận nắm chắc cơ sở lí
luận của phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo. Đồng thời,
nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn tìm ra được các biệm pháp tốt
Chương 2: Một số biện pháp giúp trẻ MGN tìm hiểu về gia đình và xã hội
theo định hướng phát triển vốn từ cho trẻ
6
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1 Những hiểu biết chung về từ trong tiếng Việt
1.1.1.1 Khái niệm về từ
Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” do Nguyễn
Như Ý (chủ biên), NXB Giáo dục, 1996, khái niệm về từ được Đỗ Hữu Châu
quan niệm như sau: “Từ là một đơn vị định danh của ngôn ngữ, nó cũng là
một hình thức ngữ pháp được các thành viên của một tập thể hiểu như nhau
trong quá trình trao đổi. Từ có âm thanh và hình thức. Tuy vậy âm thanh và
hình thức chỉ là những phương tiện cấu tạo nên từ, bản thân chúng chưa phải
là từ. Chỉ khi nào gắn liền với một ý nghĩa nào đấy thì chúng mới có khả năng
biểu đạt tư tưởng” [1, tr.330-331].
1.1.1.2 Đặc điểm của từ trong tiếng Việt
a. Về mặt cấu tạo
Từ là đơn vị được cấu tạo bởi hai mặt: hình thức (CBĐ) và nội dung
(CĐBĐ). Hình thức của từ có thể là ngữ âm (ở dạng nói) hoặc chữ viết (ở
dạng viết). Nội dung của từ là các thành phần ý nghĩa được biểu đạt trong
hình thức của nó.
b. Về tính chất
Từ là đơn vị thực tại, hiển nhiên, sẵn có. Trong hệ thống từ vựng tiếng
Việt hình thức và nội dung của từ có tính chất cố định, bền vững.
c. Về mặt chức năng
Từ là đơn vị lớn nhất của hệ thống ngôn ngữ nhưng lại là đơn vị nhỏ
hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo), taxhs biệt, riêng rẽ, độc lập đối với
nhau”.
(Đỗ Hữu Châu [1, tr.361])
VD: xăng dầu, điện nước, buôn bán, phố phường, đường sá,…
8
Về mặt ngữ pháp, Từ ghép được chia thành hai nhóm lớn dựa vào quan
hệ ngữ pháp giữa các thành tố tham gia cấu tạo từ, đó là: từ ghép đẳng lập và
từ ghép chính phụ.
b1.1 Từ ghép đẳng lập (từ ghép hợp nghĩa, từ ghép tổng hợp)
Từ ghép đẳng lập được Đỗ Hữu Châu định nghĩa như sau: “Hai hình vị
kết hợp với nhau để tạo nên một từ ghép hợp nghĩa phải cùng một phạm trù
ngữ nghĩa (nghĩa là hoặc cùng chỉ sự vật, hoặc cùng chỉ hoạt động, hoặc
cùng chỉ tính chất, hoặc cùng chỉ số lượng…) và phải hoặc đồng nghĩa, hoặc
trái nghĩa với nhau cùng chỉ những sự vật, hiện tượng…có quan hệ cùng
cấp…(tức thuộc cùng một loại) gần gũi nhau” [1, tr.367].
VD: sách vở, quần áo, bàn ghế, ăn uống, yêu thương, già trẻ, gái trai,…
b1.2 Từ ghép chính phụ (từ ghép phân nghĩa, từ ghép phân loại)
“Từ ghép phân nghĩa là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị (hay
đơn vị) theo quan hệ chính phụ, trong dod cơ một hình vị chỉ loại lớn (sự vật,
hoạt động, tính chất) và một hình vị có tác dụng phân hóa loại lớn đó thành
những loại nhỏ hơn cùng loại nhưng độc lập với nhau, và độc lập với loại
lớn. Các từ ghép phân nghĩa lập thành những hệ thống lớn gồm một số từ
thống nhất với nhau nhờ hình vị chỉ loại lớn”.
( Đỗ Hữu Châu, [1, tr.364])
VD: đỏ lòm, xanh biếc , tím ngắt, dưa hấu, hoa cúc, hoa hồng,…
b2. Từ láy
Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” do Nguyễn
Như Ý (chủ biên), khái niệm từ láy được Đỗ Hữu Châu diễn đạt như sau: “Từ
người Việt Nam đều là những từ một nghĩa.
VD: ông, bà, cha, mẹ,…
a2. Từ nhiều nghĩa
Từ nhiều nghĩa hay còn gọi là từ đa nghĩa được Đỗ Hữu Châu định
nghĩa: “Từ đa nghĩa là một từ, có sự thống nhất về nội dung và hình thức.
Trong một giai đoạn lịch sử nhất định các ý nghĩa khác nhau của một từ đa
nghĩa vẫn có liên hệ chặt chẽ với nhau và không thoát li nghĩa chính” [1,
tr.3387].
10
Hiện tượng nhiều nghĩa có thể xảy ra với cả ý nghĩa biểu vật, cả với ý
nghĩa biểu niệm, cả với ý nghĩa biểu thái.
VD: Từ “MŨI” trong tiếng Việt, với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ có
những nghĩa khác nhau
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Bộ phận của cơ quan hô hấp
Bộ phận nhọn của vũ khí: mũi dao, mũi súng
Phần trước của tàu thuyền: mũi tàu, mũi thuyền
Phần đất nhô ra ngoài biển: mũi đất, mũi Cà Mau
Năng lực cảm giác về mũi: Con chó có cái mũi rất thính.
Đơn vị quân đội: Mũi quân bên trái.
[2, tr.131-132].
- Động từ: là những thực từ dùng để chỉ hoạt động, trạng thái của các sự vật
hiện tượng.
VD2: đi, đứng, chạy, nhảy, ao ước, biến mất, sinh ra,…
- Tính từ: là những thực từ biểu thị tính chất, đặc điểm, màu sắc của sự vật
VD3: xanh lơ, nóng, lạnh, nặng, nhẹ, nhiều ít, cao, thấp, đầy, vơi,…
- Đại từ: là những từ dùng để thay thế và chỉ trỏ. Đại từ không trực tiếp biểu
thị thực thể, quá trình hoặc đặc trưng như danh từ, động từ và tính từ. Đại
từ chỉ biểu thị các ý nghĩa đó một cách gián tiếp, chúng mang nội dung
phản ánh vốn có của các thực từ được chúng thay thế.
VD4: chúng tôi, mình, tớ, sếp, bác sĩ, vì sao, bao giờ, bao lâu,…
- Số từ: gồm những từ biểu thị ý nghĩa số. Xét theo đối tượng phản ánh
trong nhận thức và tư duy, ý nghĩa số vừa có tính chất thực, vừa có tính
chất hư.
VD5: một, hai, ba, một phần hai, một phần tư, chừng, khoảng,…
- Phụ từ: bao gồm định từ và phó từ
+ Định từ: là những từ chuyên đi kèm với danh từ để bổ sung ý nghĩa số
lượng cho danh từ.
VD6: những, các, mọi, mỗi, từng,…
+ Phó từ: là những từ chuyên đi kèm với động từ và tính từ để thể hiện các ý
nghĩa ngữ pháp, cách thức, mức độ hay kết quả của hành động, hoạt động.
VD7: đã, đang, vừa, mới, sắp, từng, hãy, đừng, chớ, không, chưa,
chẳng, chả,…
12
- Quan hệ từ: là từ loại biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm
và đối tượng được phản ánh. Quan hệ từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các
từ, các cụm từ, giữa các bộ phận của câu hoặc giữa các câu mà nó liên kết.
Quan hệ từ không có ý nghĩa từ vựng chỉ thuần túy mang ý nghĩa ngữ pháp.
ra khái niệm về vốn từ tích cực và vốn từ tiêu cực (vốn từ thụ động) như sau:
- Vốn từ tích cực: là vốn từ bao gồm những từ người ta hiểu và sử dụng
được trong giao tiếp.
- Vốn từ tiêu cực: là vốn từ con người hiểu mà không sử dụng được. Khi
nghe người khác nói, ta hiểu, nhiều khi đoán hết nghĩa của từ nào đó (nhất là
nghe tiếng nước ngoài) nhưng lại không sử dụng vào giao tiếp được. Trẻ mẫu
giáo có giai đoạn chỉ nghe hiểu mà không nói được. Tích cực hóa vốn từ
(chuyển từ thụ động sang tích cực) là một nội dung quan trọng của giáo dục
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.
1.1.2.3 Đặc điểm vốn từ của trẻ mẫu giáo
a. Vốn từ xét về mặt số lượng
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non là một quá tình từ thấp đến cao
với các giai đoạn mang những đặc trưng khác nhau phụ thuộc vào độ tuổi của
trẻ.
Trẻ sơ sinh chưa hiểu được ngôn ngữ của người lớn. Ở giai đoạn này,
trẻ bắt đầu cảm nhận ngữ điệu và giọng nói của người mẹ.
Khi trẻ được 7 – 8 tháng, trẻ bắt đầu biết tên của mình.
Đến 10 – 11 tháng, trẻ bắt đầu hiểu một số từ chỉ các sự vật, người mà
trẻ thường xuyên được tiếp xúc.
Từ 12 tháng trở đi, bên cạnh các âm bập bẹ xuất hiện từ ngữ chủ động
đầu tiên. Ở 18 tháng tuổi, số từ bình quân là 11 từ, trẻ bắt chước người lớn lặp
lại một số từ đơn gần gũi: bà, mẹ, bố,…
Từ 19 – 21 tháng, số lượng từ tăng nhanh. Đến 21 tháng trẻ đạt tới 220
từ. Giai đoạn 21 – 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ đạt 234 từ vào tháng 24, sau
đó tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ, 36 tháng đạt 486 từ.
Theo thống kê của tác giả Đinh Hồng Thái, đến năm thứ ba, trẻ đã sử
dụng được trên 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ và các loại khác
rất ít. Trẻ nắm được một số danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các con
14
6,8%, đại từ: 3,1%, phó từ: 7,8%, tình thái từ: 4,7%, số từ 2,5%, quan hệ từ
1,7%.
15
Giai đoạn 5 – 6 tuổi cũng là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ
loại trong vốn từ của trẻ. Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi (chỉ khoảng 50%), các
từ loại khác tăng lên: tính từ đạt tới 15%, quan hệ từ tăng lên đến 5,7%, còn
lại là các loại từ khác [6, tr.78].
Trẻ mẫu giáo nói nhiều nhưng chưa phải là nói hay, vì vậy cần bồi
dưỡng cho trẻ các từ loại khác nhau để trẻ nói hay, diễn đạt chính xác nội
dung thông báo và biểu cảm.
c. Khả năng hiểu nghĩa từ của trẻ mẫu giáo
Theo Fedorenko (Nga), trẻ em nói chung có 5 mức độ hiểu nghĩa khái
quát nghĩa của từ, tương ứng với các mức độ: mức độ zero (mức độ 0), mức
độ 1, mức độ 2, mức độ 3, mức độ 4.
- Mức độ zero (mức độ 0): Mỗi sự vật có tên gọi gắn với nó. Cuối một tuổi,
đầu hai tuổi, trẻ hiểu được những từ ngữ thể hiện một sự vật đơn lẻ, cụ thể,
tách biệt, những từ ngữ ở mức độ khái quát (nghĩa biểu danh).
VD: bà, cốc, cây, bàn, ghế,…
- Mức độ 1: Ý nghĩa biểu niệm ở mức độ thấp, tên gọi chung cuả sự vật
hiện tượng cùng loại
VD: “Bóng” chỉ một quả bóng bất kì nào đó, “ghế” chỉ vật dùng để
ngồi,…
- Mức độ 2: Mức độ hiểu nghĩa từ của trẻ mang tính khái quát hơn
VD: Trẻ hiểu được rằng “xe” có thể chỉ bất cứ một loại xe nào đó: xe
đạp, xe máy, xích lô, ô tô,…
“con vật” có thể là: chó, mèo, gà, vịt, cá, tôm,…
- Mức độ 3: Đây là mức độ hiểu nghĩa của từ cao hơn mà trẻ 5 – 6 tuổi có
thể nắm được
về tiếng mẹ đẻ”. Mức độ hiểu biết đó ở mỗi cá nhân có sự khác biệt nhau do:
đặc điểm lứa tuổi, giới tính, môi trường sống, khả năng nhận thức, đặc điểm
cá tính của mỗi người. Khả năng đó phản ánh năng lực ngôn ngữ của mỗi cá
nhân.
Giải thích về hiện tượng trẻ em trước khi được tiếp thu giáo dục chính
quy đã có thể nói được những câu hoàn chỉnh, các nhà ngữ pháp tạo sinh cho
rằng: vì đứa trẻ sinh ra trong môi trường tiếng mẹ đẻ thì trong “tâm linh” của
chúng đã dần hình thành một số quy tắc cơ bản. Vì thế DellHymess đề nghị
nên gọi năng lực ngôn ngữ là năng lực ngữ pháp [3, tr.180].
17
Theo chúng tôi, năng lực ngôn ngữ của trẻ biểu hiện ở việc trẻ có vốn từ
phong phú, hình thành nên những câu nói hay, có ý nghĩa và phù hợp với
hoàn cảnh giao tiếp.
1.1.3.3 Năng lực giao tiếp
Nguyễn Văn Khang cho rằng, năng lực giao tiếp có thể được hiểu là
năng lực vận dụng ngôn ngữ để giao tiếp xã hội.
Cũng theo tác giả, nội dung của khái niệm này là sự kết hợp linh hoạt
giữa ba thành tố gồm: Cấu trúc ngôn ngữ, sự vận dụng ngôn ngữ và đời sống
xã hội.
Đối với trẻ nhỏ, nói cách khác con người ở tuổi ấu thơ cùng một lúc cần
học để có năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp. Nội dung phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo cần chú ý bồi dưỡng cả hai nhiệm vụ này [3, tr.183].
1.2 Cơ sở tâm lí học
Vui chơi là một dạng hoạt động chủ đạo của lứa tuổi mẫu giáo. Ở tuổi
MGB, hoạt động vui chơi đã phát triển mạnh, đặc biệt là sự phát triển của trò
chơi ĐVTCĐ. Tuy nhiên phải đến tuổi MGN thì hoạt động vui chơi mới đạt
tới dạng chính thức và mang đầy đủ ý nghĩa của nó nhất. Có thể nói rằng, hoạt
động vui chơi ở lứa tuổi MGN đang phát triển tới mức hoàn thiện, điều đó
em, do đó người lớn cần tổ chức tốt hoạt động của nhóm trẻ ở lớp mẫu giáo
cũng như ở gia đình, khu tập thể, xóm dân cư, để tạo ra một môi trường lành
mạnh có tác dụng giáo dục tích cực đối với trẻ.
Lứa tuổi mẫu giáo là giai đoạn phát triển mạnh tư duy trực quan hình
tượng. Trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu, nhưng do biểu
tượng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện bên ngoài vào
bình diện bên trong nên trẻ mới chỉ giải quyết vấn đề theo kiểu tư duy trực
quan – hình tượng. Cùng với sự hoàn thiện của hoạt động vui chơi và sự phát
triển các hoạt động khác như vẽ, nặn, kể chuyện, dạo chơi,…vốn biểu tượng
của trẻ mẫu giáo nhỡ được giàu thêm, chức năng kí hiệu phát triển mạnh, long
ham hiểu biết và hứng thú nhận thức của trẻ tăng lên rõ rệt. Đó là điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển tư duy trực quan – hình tượng.
Trong khi giúp trẻ phát triển tư duy hình tượng, cần cung cấp cho trẻ
những hiểu biết cần thiết. Trước hết cần cung cấp các biểu tượng cho trẻ một
cách phong phú, hệ thống hóa các biểu tượng thông qua những những buổi đi
chơi, đi dạo, qua những câu chuyện kể, qua các bức tranh, bài hát,…Đặc biệt,
thông qua các trò chơi, “tiết học”, GV giúp trẻ hệ thống hóa và chính xác hóa
dần các biểu tượng về thế giới xung quanh.
19