Biện pháp làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo (4 5 tuổi) thông qua các bài đồng dao - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LƯỜNG THỊ HOA

BIỆN PHÁP LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO
(4 - 5 TUỔI) THÔNG QUA CÁC BÀI ĐỒNG DAO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LƯỜNG THỊ HOA

BIỆN PHÁP LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO
(4 - 5 TUỔI) THÔNG QUA CÁC BÀI ĐỒNG DAO

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp phát triển ngôn ngữ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Khổng Cát Sơn

SƠN LA, NĂM 2016


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Th.S Khổng Cát Sơn, người đã tận

6. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 6
7. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 7
8. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 7
9. Đóng góp của đề tài ........................................................................................... 7
10. Cấu trúc đề tài ................................................................................................. 7
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ............................................................................... 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ......................................... 9
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 9
1.1.1. Cơ sở tâm lý học.......................................................................................... 9
1.1.2. Văn học đối với giáo dục trẻ mầm non ..................................................... 10
1.1.3. Đồng dao đối với việc giáo dục trẻ mầm non ........................................... 14
1.1.4. Vai trò của đồng dao đối với việc làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ .. 20
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 21
1.2.1. Khảo sát điều tra ........................................................................................ 21
1.2.2. Phân tích kết quả điều tra .......................................................................... 22
Tiểu kết ................................................................................................................ 26
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO
NHỠ THÔNG QUA CÁC BÀI ĐỒNG DAO ................................................. 27
2.1. Biện pháp sưu tầm các bài đồng dao theo chủ đề dạy học ở trường mầm
non ....................................................................................................................... 27
2.2. Biện pháp đọc diễn cảm đồng dao kết hợp với đàm thoại, giảng giải nội dung ... 32
2.3. Biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan (tranh ảnh, băng đĩa, video,…) ............... 35


2.4. Biện pháp cho trẻ sử dụng đồng dao khi tham gia các trò chơi ................... 39
2.4.1. Trò chơi với việc làm giàu vốn từ ............................................................. 39
2.4.2. Biện pháp cho trẻ sử dụng đồng dao khi tham gia các trò chơi ................ 41
2.5. Biện pháp chủ động sáng tạo ra “Đồng dao mới” ........................................ 43
2.5.1. Cần phải chủ động sáng tạo ra “Đồng dao mới” ....................................... 43
2.5.2. Chủ động sáng tạo ra “Đồng dao mới” ..................................................... 44

Đồng thời, nghị quyết cũng đã chỉ rõ mục tiêu của giáo dục Mầm non đến năm
2020 là “Xây dựng và phát triển bậc học Mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ
tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ trong các gia đình”.
Từ năm 1963, ngành Giáo dục mầm non đã có những chương trình thử
nghiệm nhằm đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu cải cách chương trình giáo dục
mầm non. Năm 1966, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình Giáo dục
mầm non chính thức có nhiều môn học để giúp trẻ phát triển trên các lĩnh vực
như nhận thức, thể chất, đạo đức… Để đáp ứng những yêu cầu bức thiết của tình
hình mới, ngày 21/01/1978, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức ban hành
“Chương trình giáo dục mẫu giáo” còn gọi là “Chương trình cải tiến” áp dụng
trên phạm vi cả nước. Lần này, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục mầm non,
chủ trương đi sâu cải tiến rõ rệt nhận thức của ngành là phải có nội dung đào
tạo, giáo dục trẻ dựa trên những tri thức của môn học tự nhiên, xã hội, nghệ
1


thuật nhằm giáo dục trẻ em một cách toàn diện. Trong đó môn học Phương pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ được xem là phương tiện chính trong lĩnh vực phát
triển ngôn ngữ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ cho trẻ.
Cơ sở khoa học của việc đổi mới hoạt động giáo dục mầm non xuất phát từ
quan điểm “Trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo đang trong thời kì tiền thao tác, các
chức năng sinh lý và tâm lý chưa phân hóa rõ rệt”. Do vậy, trẻ chưa lĩnh hội
kiến thức khoa học theo các môn học riêng biệt mà chỉ có thể tiếp nhận kiến
thức khoa học trong đó có văn học dưới hình thức tích hợp các môn học theo
từng chủ đề và chủ điểm. Hệ thống chủ đề thể hiện mục tiêu phát triển toàn diện
cho trẻ về nhận thức, thể lực, ngôn ngữ, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm xã hội.
“Văn học dân gian là nguồn suối không cạn của văn học dân tộc, nguồn
suối trong sạch đó là ngọn nguồn của sự sáng tạo mà mỗi con người đều tìm về
cội nguồn đó” [5.1]. Đặc biệt, đồng dao là món ăn tinh thần không thể thiếu đối
với trẻ thơ. Trong cuộc sống cũng như trong chương trình giáo dục ở nhà trường

làm thế nào để lưu lại trong tâm hồn trẻ những nét đẹp, những giá trị độc đáo của
bản sắc văn hoá dân tộc? Làm thế nào để cuốn hút trẻ tham gia vào việc giao tiếp
trong môi trường của văn hoá, văn học dân gian để các em biết và yêu một nền
nghệ thuật dân tộc? Vấn đề mang tính tầm vóc nhưng không phải chỉ được giải
quyết trên tầm vĩ mô. Nó bắt đầu từ chính những việc cụ thể, thiết yếu nhất.
Chẳng hạn, dạy cho trẻ biết đọc, biết hát đồng dao, biết chơi và yêu thích
các trò chơi dân gian. Chính vì những lý do trên mà việc đưa các tác phẩm đồng
dao vào chương trình giáo dục mầm non và quan tâm đến các phương pháp dạy
đồng dao cho trẻ là hết sức cần thiết.
Lứa tuổi 4 - 5 tuổi là giai đoạn mà khả năng ngôn ngữ của trẻ phát triển,
cuối 4 tuổi trẻ đã bắt đầu kết nối giữa tình huống hiện đại và quá khứ thành một
“văn cảnh”. Đã hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu,
âm tiết… tuy nhiên dưới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe nhầm, phát âm
nhầm. Vì vậy việc dạy trẻ tăng số lượng từ trong các trường nghĩa để có điều
kiện lựa chọn là việc hết sức cần thiết. Việc dạy trẻ nhằm tăng số lượng từ trong
các trường nghĩa để có điều kiện lựa chọn là việc hết sức cần thiết. Nếu vốn từ ít
thì khả năng lựa chọn sẽ bị hạn hẹp và hiệu quả dùng từ sẽ giảm, số lượng từ đó
cũng chưa đủ để trẻ thể hiện được chính xác những nội dung phức tạp, tinh tế

3


mà cuộc sống đòi hỏi. Chính vì vậy cần có kế hoạch để vừa làm tăng chất lượng
sử dụng từ vừa mở rộng vốn từ cho trẻ.
Xuất phát từ những lí do trên, người viết đã chọn nghiên cứu đề tài: “Biện
pháp làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo (4 - 5 tuổi) thông qua các bài đồng
dao” nhằm tìm hiểu vai trò vị trí quan trọng của đồng dao đối với việc làm giàu
vốn từ cho trẻ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ; từ đó đề xuất một số biện pháp cơ bản
làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo nhỡ qua các bài đồng dao.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo (0 - 6 tuổi).
Các tác phẩm trên đều đề cập đến nội dung và các phương pháp nhằm hình
thành và phát triển vốn từ ngữ cho trẻ. Đây chính là cơ sở, là tiền đề cho các nhà
khoa học sau này nghiên cứu, tìm tòi, khám phá về vấn đề ngôn ngữ của trẻ.
Về đồng dao, một số công trình nghiên cứu từ việc sưu tầm tư liệu đồng dao
dành cho trẻ em đã đi vào nghiên cứu ý nghĩa giáo dục của thể loại này đối với
trẻ em như cuốn Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt Nam của Nguyễn Thúy
Loan, Trò chơi dân gian cho trẻ em dưới 6 tuổi của Trương Kim Oanh, Lời đồng
dao trong trò chơi cổ truyền của trẻ em của Phan Đăng Nhật (1992). Các công
trình này đều đi đến kết luận đồng dao có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em. Trong bài Ca dao và viết cho
thiếu nhi tác giả Trần Đức Ngôn, Dương Thu Hương đã khẳng định: “Ca dao là
đại bộ phận dành cho người lớn tuy nhiên tác giả dân gian khi sáng tác ca dao
vẫn không quên trách nhiệm đối với thế hệ trẻ nên đã dành trọn một phần ca
dao cho các em được gọi là đồng dao” [8.76]. Cuốn Đồng dao với tuổi thơ tác
giả đã đề cập đến chức năng giáo dục của đồng dao với trẻ em “Đồng dao có tác
dụng mạnh đối với trẻ em trước hết là nó giáo dục thái độ văn hóa đối với hai
mối quan hệ chủ yếu của con người đó là con người với thiên nhiên và con
người với xã hội”. Đây là những vấn đề hết sức quan trọng đối với sự hình
thành, phát triển nhân cách con người [11.122.123].
Qua khảo cứu các bài viết, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
người viết đã nhận thấy như sau:
Các công trình nghiên cứu đã đánh giá căn bản về vai trò của đồng dao đối
với trẻ em. Những đánh giá này cho thấy sự cần thiết đưa các bài đồng dao còn
giá trị vào chương trình giáo dục trẻ ngay từ bậc học mầm non.
5


Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu riêng về phương pháp
làm giàu vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các bài đồng dao. Nhận ra khoảng

7. Giả thuyết khoa học
Trên thực tế, đồng dao chưa được chú trọng đúng mức và giảng dạy đúng
hướng, sáng tạo để giúp trẻ mẫu giáo nhỡ làm giàu vốn từ, tiếp nhận một cách
có hiệu quả thể loại văn học dân gian này. Nếu các biện pháp tác giả đưa ra được
áp dụng một cách triệt để sẽ góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của việc
dạy đồng dao.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài; hệ thống hóa các vấn đề khái
quát trong tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1. Phương pháp quan sát.
8.2.2. Phỏng vấn, trao đổi với giáo viên, học sinh.
8.2.3. Sử dụng phiếu điều tra.
8.2.4. Phân tích, tổng hợp.
9. Đóng góp của đề tài
Sự thành công của đề tài sẽ bổ sung một số biện pháp làm giàu vốn từ cho
trẻ mẫu giáo (4 - 5 tuổi) thông qua các bài đồng dao. Đề tài hoàn thành sẽ được
lưu trữ tại thư viện trường Đại học Tây Bắc, là tài liệu tham khảo cho sinh viên
chuyên ngành Mầm non khoa Tiểu học - Mầm non và những người quan tâm
đến vấn đề này.
10. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo nội dung của
khóa luận gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.2. Cơ sở lý luận
1.2. Cơ sở thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo (4 - 5 tuổi)
thông qua các bài đồng dao.


mạnh mẽ với những đặc điểm nổi bật sau:
Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng để giúp trẻ điều chỉnh hành vi của
mình cho phù hợp với chuẩn mực của quy tắc xã hội. Đồng thời, ý thức bản ngã
còn cho phép trẻ thực hiện các hoạt động một cách chủ quan. Nhờ đó, quá trình
tâm lý mang tính chủ động rõ rệt. Cuối tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ có tốc
độ phát triển nhanh về số lượng và chất lượng. Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ biết
tự giác hướng sự chú ý của mình vào đối tượng nhất định. Cho nên, mỗi một đối
tượng được tiếp nhận trong thời kỳ này đều có tác động sâu sắc đối với sự phát
triển nhân cách và trí tuệ của trẻ.
Sức tưởng tượng, khả năng ghi nhớ của trẻ mẫu giáo nhỡ ngày càng có
tính chủ định so với trẻ ở lứa tuổi nhỏ hơn. Trong sự phát triển các hoạt động ý
chí của trẻ mẫu giáo nhỡ có thể thấy được liên kết chặt chẽ giữa ba mặt; thứ nhất
là sự phát triển tính mục đích của hành động; thứ hai là sự xác lập mối quan hệ
giữa hành động và động cơ; thứ ba là tăng vai trò điều chỉnh của ngôn ngữ trong
việc thực hiện hành động.
Giai đoạn 4 - 5 tuổi ở giai đoạn này trẻ có sự hình thành tâm lý rõ ràng, có
sự phát triển vượt bậc so với lứa tuổi 2 - 3 tuổi. Giai đoạn trẻ 3 tuổi có sự hình
thành tâm lý, cá tính riêng của từng trẻ, sang 4 tuổi cá tính đó trở nên khá ổn
định dần thành cá tính riêng của một của người hoàn thiện.
9


Tóm lại, lứa tuổi mầm non, nhất là độ tuổi 4 - 5 là lứa tuổi rất nhạy cảm
với cái đẹp và luôn khao khát được tiếp xúc, khám phá cái đẹp phong phú, đa
dạng trong cuộc sống. Đồng dao là một thể loại văn học dân gian có khả năng
đáp ứng nhu cầu này của trẻ. Tuy nhiên, trẻ lứa tuổi mầm non thường hát xướng
lên các bài đồng dao trong những lúc vui chơi đơn thuần chỉ để giải trí, mà chưa
phát huy hết được vai trò to lớn của chúng trong việc phát triển ngôn ngữ đặc
biệt là việc làm giàu vốn từ. Có nhiều trẻ hát, đọc các bài đồng dao thuộc lòng
mà không hiểu nội dung ý nghĩa của các từ ngữ trong các bài đồng dao đó.

thực tại, cải biến chúng và tạo ra một cách hiểu, cách cảm thụ đầy đủ và sâu sắc
hơn trong nhận thức của mình. Trí tưởng tượng được trẻ vận dụng trong tiếp
nhận văn học là để đi sâu, mở rộng và thanh lọc đời sống cảm xúc của mình,
nhận ra cái mới trong mối quan hệ tưởng như khó gắn kết lại. Qua đó làm nảy
sinh khát vọng và khả năng sáng tạo của trẻ khi tiếp xúc tác phẩm văn học.
Cảm nhận văn học ngây thơ và triệt để: Tiếp nhận ngây thơ đối với tác
phẩm văn học vì trẻ còn rất ít vốn kiến thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực
tiễn. Nên những gì được nói đến trong trang sách đều được trẻ tin tưởng tuyệt đối.
Trẻ cũng tiếp nhận triệt để tác phẩm văn học vì trong chương trình giáo dục mầm
non văn học và âm nhạc là những bộ môn được đưa vào sớm nhất để giáo dục trẻ.
Nên lượng tri thức có trong các tác phẩm văn học được lựa chọn giới thiệu cho trẻ
được trẻ tiếp nhận một cách triệt để nhằm hình thành và phát triển trí tuệ, tâm
hồn, tình cảm...
1.1.2.2. Văn học đối với giáo dục trẻ mầm non
Nhu cầu thưởng thức văn học của trẻ mầm non: Ngay từ thuở ấu thơ, trẻ
em đã được tiếp xúc với văn học, qua lời hát ru của bà, của mẹ, qua những câu
chuyện kể về thế giới thần tiên, qua những vần thơ chứa bao điều kì diệu về
cuộc sống xung quanh... rất tự nhiên, văn học thấm sâu vào tâm hồn các em. Và
nghe hát ru, nghe kể chuyện, đọc thơ trở thành một trong những nhu cầu cần
thiết đối với cuộc sống của trẻ. Khi trẻ đến trường, việc giới thiệu văn học cho
trẻ được nâng lên một vị trí cao hơn, với một mục tiêu rõ ràng và phương pháp
bài bản hơn. Điều đó càng khiến cho văn học trở thành một món ăn tinh thần
không thể thiếu của trẻ.
Văn học đối với việc giáo dục trẻ mầm non: Trong số các loại hình nghệ
thuật, văn học là loại hình nghệ thuật đặc biệt, có vai trò to lớn không gì thay thế
11


được trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ em. Nhà
phê bình văn học Nga V.G.Bielinxki từng nói: “Một tác phẩm viết cho thiếu nhi


mở rộng, nâng cao nhận thức về cuộc sống xung quanh. Những bài thơ, những
câu chuyện đã giúp các trẻ mở rộng tầm nhìn và sự hiểu biết về thế giới tự
nhiên, thế giới động vật, thực vật…; giúp trẻ biết được tên gọi, những đặc tính,
những quan hệ và những ý nghĩa của chúng đối với con người; giúp trẻ hiểu biết
về cuộc sống của con người và những điều cơ bản trong mối quan hệ giữa con
người với con người... Có thể nói, với chức năng phản ánh cuộc sống, văn học
thiếu nhi như “những cuốn sách giáo khoa” đầu tiên giúp trẻ nhận thức và hiểu
biết về thế giới xung quanh.
Phát triển thẩm mỹ cho trẻ mầm non: Văn học luôn đem đến cho trẻ những
hình ảnh đẹp đẽ, tươi sáng; gợi mở trong các em những xúc cảm thẩm mỹ tốt đẹp,
hình thành thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn. Tiếp xúc với tác phẩm văn học là các em
được tiếp xúc với cả một thế giới bao la đầy âm thanh và màu sắc với những hình
ảnh đẹp đẽ, sinh động, muôn màu muôn vẻ của thiên nhiên và cuộc sống. Trẻ em
lứa tuổi mầm non có một đời sống tâm hồn ngây thơ, chưa có những trải nghiệm
cá nhân, sự nhận thức về thế giới xung quanh chủ yếu dừng ở mức cảm tính, gắn
với cái cụ thể trước mắt. Chính vì thế, vẻ đẹp lấp lánh của ngôn từ nghệ thuật và
sức tưởng tượng phong phú của các nhà văn trong tác phẩm văn chương là cơ sở
để khơi gợi trong tâm hồn các em những rung cảm thẩm mỹ đẹp đẽ và sâu sắc.
Phát triển tình cảm xã hội cho trẻ mầm non: Trẻ thơ rất nhạy cảm, dễ rung
động. Các em chủ yếu sống và cư xử với tất cả các đối tượng xung quanh bằng
tình cảm. Đặc biệt, trẻ khác với người lớn ở chỗ thường bộc lộ thái độ trước một
hiện tượng, một sự việc trong cuộc sống một cách rõ ràng: yêu - ghét, vui - buồn,
thích - không thích... Vì vậy, giáo dục lòng nhân ái cho con người hữu hiệu nhất
là bắt đầu giáo dục lòng nhân ái cho trẻ thơ. Một trong những phương tiện giáo
dục đạo đức cho trẻ có giá trị độc đáo là văn học. Những bài học đạo đức, nhân
văn được gửi gắm trong thế giới hình tượng nghệ thuật của tác phẩm sẽ tác động
một cách tự nhiên mà sâu sắc đến tình cảm của trẻ. Một tấm gương về lòng hiếu
thảo, về tình yêu thương và ý thức trách nhiệm đối với người thân, đối với mọi
người xung quanh sẽ cho các bé bài học quý giá về nhân cách làm người. Từ đó

Vào ăn sáng
Thật khẩn trương
Bé đến trường
Cùng với chị
14


Để ba, mẹ
Đi làm ca
Nắng chan hòa
Theo chân bé.
2. Con mèo mà trèo cây cau,
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà.
Chú chuột đi chợ đường xa,
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo.
Thuở ban đầu, đồng dao chỉ được truyền miệng, nhưng nhờ ngắn gọn
đơn giản ba, bốn hoặc năm chữ, có khi ngô nghê, nhưng vần điệu tiết tấu nhịp
nhàng nên rất dễ hiểu dễ nhớ. Về sau, rất nhiều bài đồng dao được đặt nhạc nên
được phổ biến rộng rãi.
1. Nhong nhong nhong nhong
Ngựa ông đã về
Cắt cỏ bồ đề
Cho ngựa ông ăn
Nhong nhong nhong nhong.
2. Một ngón tay nhúc nhích này/ một ngón tay nhúc nhích này
Một ngón tay nhúc nhích cũng đủ cho ta vui vầy
Hai ngón tay nhúc nhích này/ hai ngón tay nhúc nhích này
Hai ngón tay nhúc nhích cũng đủ cho ta vui vầy.
Những bài hát vui chơi của trẻ em có khi gắn liền với những trò chơi nhất
định, cho nên trong những trường hợp ấy còn gọi là những “bài hát trò chơi”.

Con cá có vây.
Những câu trong bài đồng dao thường lặp đi lặp lại theo chu kì một
cách tự nhiên:
Bồ các là bác chim ri
Chim ri là dì sáo sậu
Sáo sậu là cậu sáo đen
Sáo đen là em tu hú
Tu hú là chú bồ các.
Rồi lại:

Bồ các là bác chim ri
(Quay đi quay lại nhiều lần)
16


Thứ hai: Ngôn ngữ đồng dao nhiều khi kì quặc chắp vá một cách ngẫu nhiên:
phần lớn gần như chỉ là những đoạn chắp vá, gặp đâu nói đó, cốt cho vần vè,
còn ý nghĩa chung thì rời rạc, câu nọ xọ sang câu kia, đang nói chuyện này bắt
sang chuyện khác.
Nu na nu nống
Cái cống nằm trong
Con ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Phật ngồi phật khóc
Con cóc nhảy ra…
Thứ ba: Lôgic của đồ ng dao chính là lôgic của trò chơi, không thể bắ t nó phải
tuân theo lôgic của hiê ̣n thực. Chiń h cái ngôn ngữ kỳ quă ̣c theo lố i tư duy nhảy
cóc đó la ̣i là yế u tố gắ n bó với trò chơi để đưa trẻ vào thế giới trò chơi, khác hẳ n
với thế giới bên ngoài. Nế u đồ ng dao đươ ̣c tổ chức chă ̣t chẽ như mô ̣t bài dân ca,
như mô ̣t bài thơ thì yế u tố trò chơi, nhấ t là trò chơi trẻ em không còn nữa.

Mây xanh mây tím ngổn ngang đầy trời.
Tiếng con chim ri gọi dì gọi cậu

hay:

Tiếng con sáo sậu gọi cậu gọi cô
Tiếng con cồ cồ gọi cô gọi chú
Tiếng con tu hú gọi chú gọi dì
Mau mau tỉnh dậy mà đi ra đồng.
Đồng dao phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người đầy xúc
cảm yêu thương, sâu nặng tình người, thường là thông qua thân phận của cái
tôm cái tép, con cò con vạc, cái bống cái bang, bằng con mắt nhân cách hóa của
trẻ thơ.
Cái cò đi đón cơn mưa
Tối tăm mù mịt ai đưa cò về
Cò về thăm quán cùng quê
Thăm cha thăm mẹ, cò về thăm anh.
hay:

Cái bống là cái bống bang
Thổi cơm nấu nước cả nhà cùng ăn
Nhà bống có khách sang chơi
Cơm bưng nước rót cho vui lòng bà.

Chức năng của đồng dao:
Dùng để ru trẻ em: Ru trẻ ngủ chủ yếu là nhiệm vụ của những người mẹ,
người bà, nhưng ở nông thôn những đứa trẻ là anh, là chị trong gia đình cũng có
18



19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status