BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ NGỌC
BIỆN PHÁP LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO
(5 - 6 TUỔI) THÔNG QUA CÁC BÀI ĐỒNG DAO
VỚI CÁC CHỦ ĐIỂM Ở TRƯỜNG MẦM NON KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
viện, Ban chủ nhiệm Khoa Tiểu học - Mầm non Trường Đại học Tây Bắc và các
bạn sinh viên lớp K50 ĐHGD Mầm non đã tạo điều kiện cho em học tập và
nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này.
Xin cảm ơn các cô giáo và các cháu mẫu giáo 5 - 6 tuổi Trường Mầm non
Chiềng Ban – Mai Sơn - Sơn La và Trường Mầm non Sơn Ca - Thuận Châu -
Sơn La đã tạo điều kiện giúp đỡ để em hoàn thành khóa luận đúng thời gian.
Sơn La, tháng 05 năm 2013
Người thực hiện Nguyễn Thị Ngọc
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
MGL : Mẫu giáo lớn
% : Phần trăm
VHDG : Văn học dân gian
SL : Số lượng
MĐ : Mức độ
TĐ : Tổng điểm
ĐC : Đối chứng
TN : Thực nghiệm
TB : Trung bình MỤC LỤC
2.5. Biện pháp chủ động sáng tạo ra “Đồng dao mới” 38
CHƯƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 42
3.1. Mục đích thể nghiệm 42
3.2. Thời gian, đối tượng và địa bàn thể nghiệm 42
3.3. Điều kiện và tiêu chí thể nghiệm 42
3.4. Nội dung thể nghiệm 43
3.5. Kết quả thể nghiệm 43
Tiểu kết 44
KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát
triển nhân cách của con người. Giáo dục mầm non đặt nền móng cho sự phát
triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ của trẻ em Việt Nam. Phát triển giáo
dục mầm non là trách nhiệm chung của các cấp, các ngành và toàn xã hội dưới
sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước.
Bước vào thế kỉ XXI, trước những yêu cầu mới của đất nước và của giáo
dục mầm non, chương trình chăm sóc - giáo dục mẫu giáo ở Việt Nam đã bộc lộ
một số hạn chế, bất cập về mục tiêu, nội dung, phương pháp chăm sóc - giáo dục
trẻ. Điều đó đòi hỏi chương trình cần có những cải tiến, đổi mới.
Nghị quyết lần thứ II - BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII về
định hướng chiến lược phát triển giáo dục trong thời kì công nghiệp hóa, hiện
tìm về cội nguồn đó” [5.1]. Đặc biệt, đồng dao là món ăn tinh thần không thể
thiếu đối với trẻ thơ. Trong cuộc sống cũng như trong chương trình giáo dục ở
nhà trường mầm non, những bài đồng dao thường được trẻ tiếp nhận một cách
hào hứng, thích thú. Trẻ thường hát xướng lên các bài đồng dao trong những lúc
vui chơi, bản thân việc “đọc” đồng dao cũng là một hình thức chơi, những trò
chơi dân gian đó được nhiều trẻ yêu thích. Qua đó đồng dao góp phần phát triển
thể chất, cung cấp và trau dồi những kiến thức về thế giới xung quanh, nuôi
dưỡng nhân cách trẻ, mở ra cho trẻ một chân trời nghệ thuật ngôn từ, đem đến
những xúc cảm, tình cảm thẩm mỹ tốt đẹp.
Đối với trẻ mầm non, đồng dao có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và
phát triển nhân cách. Ngay từ thuở lọt lòng các trẻ đã được nghe những tiếng hát
ru ầu ơ của bà, mẹ và những người thân xung quanh. Rời khỏi lòng mẹ, đứa trẻ
theo anh, theo chị bước sang một môi trường văn hóa khác mang tính chất cộng
đồng, cùng chơi cùng hát những khúc đồng dao. Lúc này những khúc đồng dao
có thể coi như một sự tiếp nối những khúc hát ru để gắn bó đứa trẻ với gia đình,
làng xóm, quê hương, bạn bè. Nếu trước đây đứa trẻ chỉ biết tiếp nhận tiếng hát
ru của mẹ một cách thụ động thì nay đã có thể chủ động tìm trò để chơi, tìm câu
để hát và bước đầu làm quen với sinh hoạt văn hóa mang tính cộng đồng. Có thể
nói những bài đồng dao là dòng sữa ngọt ngào thấm vào nuôi dưỡng tâm hồn trẻ
thơ. Từ đó, giáo dục trẻ biết yêu cái đẹp, yêu quê hương, yêu cuộc sống của
mình. Nhà sư phạm Xukhômlinski đã tổng kết: “Tuổi thơ không thể thiếu âm
nhạc cũng không thể thiếu trò chơi và truyện cổ tích. Thiếu những cái đó trẻ em
chỉ là những bông hoa khô héo”[13.7]. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức đúng đắn
một thực tiễn rằng: hiện nay, cuộc sống phát triển theo hướng hiện đại hoá mạnh
mẽ đã tác động không nhỏ đến nhu cầu vui chơi, giải trí, nhu cầu thưởng thức
văn học, âm nhạc của trẻ. Phần lớn trẻ được tiếp xúc với những phương tiện,
thiết bị học, chơi hiện đại, tiện lợi và trở nên say mê chúng. Đối với các em,
những câu chuyện cổ tích, những bài đồng dao, những trò chơi dân gian đôi khi
nhạt dần tính hấp dẫn. Câu hỏi đặt ra cho các nhà giáo dục và các bậc cha mẹ là
làm thế nào để lưu lại trong tâm hồn trẻ những nét đẹp, những giá trị độc đáo
công trình nghiên cứu trong cũng như ngoài nước. Ở những công trình này, theo
những mục đích nghiên cứu khác nhau, chúng tôi nhận thấy các tác giả chủ yếu
quan tâm đến những vấn đề khái quát về đồng dao hoặc vai trò của ca đồng dao
đối với đời sống tinh thần của trẻ em chứ chưa đi sâu nghiên cứu tác động đặc
biệt của đồng dao đối với việc phát triển vốn từ ở trẻ lứa tuổi mầm non, từ đó đưa
ra các biện pháp cụ thể để phát triển vốn từ cho trẻ thông qua các bài đồng dao.
Ngôn ngữ là tài sản quý báu của văn minh nhân loại. Ngôn ngữ là điểm
mốc then chốt giúp cho nhiều công trình nghiên cứu được tỏa sáng. Không
4
những vậy ngôn ngữ có sức hút mạnh mẽ, lôi cuốn sự tham gia nghiên cứu của
rất nhiều nhà khoa học, từ những lĩnh vực khác nhau: Triết học, tâm lí học, ngôn
ngữ học, giáo dục học, xã hội học,…Vai trò phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ lâu
được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến
các tác giả như:
Borodis.A.M với cuốn: Phương pháp phát triển tiếng cho trẻ em (NXBGD
Matxcơva - 1974)
Xôkhin với tác phẩm: Phương pháp phát triển lời nói trẻ em (NXBGD
Matxcơva - 1979)
E.Ti.Khêiva với tác phẩm: Phát triển ngôn ngữ trẻ em (NXBGD - 1997)
Các tác giả: Phedorenco.L.P, Phomitreva.G.A, Lomarep.V.K cũng có
những cuốn sách tương tự.
Ngay từ những năm 80 của thế kỉ trước, chúng ta đã có những cuốn giáo
trình đầu tiên về phương pháp phát triển lời nói trẻ em trong các trường đào tạo
giáo viên mầm non:
Phan Thiều với cuốn: Dạy nói cho trẻ trước tuổi cấp 1 (NXBGD - 1973).
Hay nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa (1997) về: Phương pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo (0 - 6 tuổi).
Các tác phẩm trên đều đề cập đến nội dung và các phương pháp nhằm
hình thành và phát triển vốn từ ngữ cho trẻ. Đây chính là cơ sở, là tiền đề cho
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của các môn khoa học liên quan đến đề tài: Tâm lý học,
Giáo dục học, Văn học… và xuất phát từ tình hình thực tế về việc dạy đồng dao
cho trẻ mầm non chúng tôi tiến hành nghiên cứu và xây dựng Biện pháp làm
giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) thông qua các bài đồng dao với các
chủ điểm ở trường mầm non.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu một số cơ sở lí luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Xây dựng một số biện pháp nhằm nâng cao vốn từ cho trẻ mẫu giáo (5 - 6
tuổi) thông qua các bài đồng dao với các chủ điểm ở trường mầm non.
Tổ chức thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi của các biện pháp.
Xử lí kết quả nghiên cứu.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) thông qua các bài
đồng dao ở một số trường mầm non.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Nhóm trẻ 5 - 6 tuổi của trường Mầm non Chiềng Ban - Mai Sơn - Sơn La.
Nhóm trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Sơn Ca - Thuận Châu - Sơn La.
6
6. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn và khuôn khổ đề tài, chúng tôi
chỉ tiến hành nghiên cứu các biện pháp giúp trẻ mẫu giáo lớn làm giàu vốn từ
thông qua các bài đồng dao (ở đây là những bài ca đồng dao quen thuộc, gần
gũi, phù hợp với tâm lý và trình độ tiếp nhận của trẻ mẫu giáo lớn).
7. Giả thuyết khoa học
Trên thực tế, đồng dao chưa được chú trọng đúng mức và giảng dạy đúng
hướng, sáng tạo để giúp trẻ mẫu giáo lớn làm giàu vốn từ, tiếp nhận một cách
có hiệu quả thể loại văn học dân gian này. Nếu các biện pháp chúng tôi đưa ra
nội dung
2.3. Biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan (tranh ảnh, băng đĩa,video,…)
2.4. Biện pháp hướng dẫn trẻ sử dụng đồng dao khi tham gia các trò chơi
2.5. Biện pháp chủ động sáng tạo ra “Đồng dao mới”
Chương 3: Thể nghiệm sư phạm
3.1. Mục đích thể nghiệm
3.2. Thời gian đối tượng và địa bàn thể nghiệm
3.3. Điều kiện và tiêu chí thể nghệm
3.4. Nội dung thể nghiệm
3.5. Kết quả thể nghiệm 8
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Cơ sở tâm lý học
Nhân cách hình thành trong suốt thời kỳ ấu thơ và niên thiếu của con
người. Trong đó, với điều kiện phát triển bình thường thì bước vào năm tuổi thứ
ba ý thức bản ngã bắt đầu nảy sinh và đến đầu tuổi thanh niên thì nhân cách của
con người cơ bản được hình thành. Giai đoạn đầu tiên của quá trình hình thành
nhân cách con người là giai đoạn hình thành nhân cách của trẻ mẫu giáo.
Ở độ tuổi mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi), nhân cách của trẻ tiếp tục hình thành và
phát triển mạnh mẽ với những đặc điểm nổi bật sau:
Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng để giúp trẻ điều chỉnh hành vi của
mình cho phù hợp với chuẩn mực của qui tắc xã hội. Đồng thời, ý thức bản ngã
còn cho phép trẻ thực hiện các hoạt động một cách chủ quan. Nhờ đó, quá trình
tâm lý mang tính chủ động rõ rệt. Cuối tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ có tốc
1.1.2.1. Đặc điểm tiếp nhận văn học của trẻ mầm non
Tiếp nhận văn học gián tiếp: Ở lứa tuổi 5 - 6, trẻ chưa biết đọc mà mới chỉ
dừng lại ở việc nhận biết chữ cái và tập ghép chữ thành tiếng nên việc cảm thụ
tác phẩm văn học chủ yếu qua khâu trung gian là cô giáo. Với tư cách là người
đọc trực tiếp rồi đọc, kể lại cho trẻ nghe, cô giáo là người giúp trẻ tiếp cận với
tác phẩm, hiểu nội dung, ý nghĩa của tác phẩm, có những ấn tượng sâu đậm về
thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học.
Cảm nhận văn học mang đậm màu sắc xúc cảm: Tuổi mẫu giáo là thời kỳ
nhạy cảm với những “cái đẹp”. Có thể coi đây là thời kỳ phát triển đầy mới mẻ và
mạnh mẽ của những xúc cảm thẩm mỹ đối với thế giới xung quanh. Khác với
người lớn, sự tiếp nhận văn học vừa mang tính cảm xúc vừa chịu sự chi phối của lí
tính, trẻ em tiếp nhận văn học hoàn toàn cảm tính. Khi nghe cô giáo đọc thơ hay kể
chuyện trẻ tập trung cao độ vào giọng đọc, kể cũng như cử chỉ, nét mặt, cảm xúc
của cô giáo rồi dần biến thành cảm xúc của mình. Trẻ thích thú với những câu
chuyện vui, xúc động với những câu chuyện buồn. Trẻ cũng nhăn mặt khi nghe kể
về những nhân vật độc ác, mỉm cười khi nghe kể về những nhân vật ngốc nghếch,
có những hành động hài hước; có khi trầm tư suy nghĩ, lo âu, hồi hộp muốn biết
tình huống tiếp theo xảy ra như thế nào.
Tiếp nhận văn học ít bị ràng buộc bởi lý trí và kinh nghiệm mà chứa đựng
khả năng tưởng tượng mạnh mẽ: “Đối với trẻ em, những gì làm xúc động mạnh
mẽ là phương tiện duy nhất để làm cho trí tưởng tượng và tính nhạy cảm phải
hoạt động” [1.14]. Giàu tưởng tượng là thuộc tính của trí tuệ, gắn liền với năng
lực hiểu biết của trẻ. Trong quá trình quan sát trẻ hấp thụ những ấn tượng từ
thực tại, cải biến chúng và tạo ra một cách hiểu, cách cảm thụ đầy đủ và sâu sắc
10
hơn trong nhận thức của mình. Trí tưởng tượng được trẻ vận dụng trong tiếp
nhận văn học là để đi sâu, mở rộng và thanh lọc đời sống cảm xúc của mình,
nhận ra cái mới trong mối quan hệ tưởng như khó gắn kết lại. Qua đó làm nảy
sinh khát vọng và khả năng sáng tạo của trẻ khi tiếp xúc tác phẩm văn học.
dung nhằm:
11
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non: Phát triển ngôn ngữ là nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu trong giáo dục mầm non, đặc biệt là giáo dục mẫu giáo.
Bởi lẽ ngôn ngữ gắn liền với tư duy, nếu trẻ không được trang bị một vốn ngôn
ngữ nhất định, trẻ không thể tăng cường, rèn luyện khả năng tư duy khoa học,
chuẩn bị cho việc theo học ở trường phổ thông sau này. Các sáng tác văn học
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển và làm phong phú ngôn ngữ
cho trẻ. Bằng các hình tượng nghệ thuật, văn học mở ra và giải thích cho trẻ
cuộc sống xã hội và thiên nhiên, thế giới tình cảm và các quan hệ qua lại của
con người. Nó làm phong phú những xúc cảm, phát triển trí tưởng tượng và
đưa đến cho trẻ những hình tượng tuyệt diệu của ngôn ngữ dân tộc. Đồng thời,
vốn ngôn ngữ được sử dụng một cách nghệ thuật trong các tác phẩm cũng giúp
trẻ thành thạo các phát âm, mở rộng vốn từ, đặc biệt là từ ngữ sử dụng theo
phong cách nghệ thuật; giúp trẻ phát triển lời nói mạch lạc, nâng cao khả năng
diễn đạt (diễn đạt vấn đề một cách sinh động, giàu hình ảnh, giàu tính tạo hình
và tính biểu cảm).
Phát triển nhận thức cho trẻ mầm non: Cũng như hầu hết các nội dung
giáo dục khác trong chương trình giáo dục mầm non, phát triển nhận thức cho
trẻ có vị trí hết sức quan trọng và cần thiết. Mục tiêu mở rộng và nâng cao nhận
thức cho trẻ mầm non được thực hiện thông qua nhiều hoạt động khác nhau.
Hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là một hoạt động hữu hiệu
giúp trẻ mở rộng, nâng cao nhận thức về cuộc sống xung quanh. Những bài thơ,
những câu chuyện đã giúp các trẻ mở rộng tầm nhìn và sự hiểu biết về thế giới
tự nhiên, thế giới động vật, thực vật…; giúp trẻ biết được tên gọi, những đặc
tính, những quan hệ và những ý nghĩa của chúng đối với con người; giúp trẻ
hiểu biết về cuộc sống của con người và những điều cơ bản trong mối quan hệ
giữa con người với con người Có thể nói, với chức năng phản ánh cuộc sống,
văn học thiếu nhi như “những cuốn sách giáo khoa” đầu tiên giúp trẻ nhận thức
nên hấp dẫn. Từ đó phát triển ở trẻ thể chất khỏe mạnh, linh hoạt. Khi trẻ chơi
chính là lúc các vận động cơ được phát triển, khả năng tai nghe cũng được vận
dụng linh hoạt gợi ra những phản ứng vận động của cơ thể (thay đổi nhịp tim
mạch, sự tuần hoàn máu, hô hấp và dãn nở cơ). Trong khi chơi, trẻ không
những phối hợp các động tác đi lại vững vàng chạy nhảy nô đùa mà còn có
những động tác khó: Lộn cầu vồng, nhảy lò cò… Nhưng trẻ vẫn kết hợp tay
chân một cách nhịp nhàng.
Qua văn học trẻ không chỉ được học một cách thuần túy mà còn được chơi
được vận động, kết hợp nhịp nhàng giữa chân và tay. Vì thế sự định hướng trong
không gian, sự lôgic ngôn ngữ bên trong với động tác bên ngoài càng hoàn
thiện, giúp trẻ phát triển cân đối hài hòa, có đủ sức khỏe, là yếu tố ảnh hưởng
đến sự phát triển trí tuệ của trẻ.
1.1.3. Đồng dao đối với việc giáo dục trẻ mầm non
1.1.3.1. Một số vấn đề chung về đồng dao
Gắn liền với những kỉ niệm sâu sắc về thời thơ ấu của mỗi người dân Việt
Nam không chỉ có những bài hát ru, mà còn có những bài hát do chính các em
hát. Đó là những bài “hát vui chơi”. Nội dung những bài hát vui chơi là những
13
nhận xét, những ý nghĩa và cảm xúc ngây thơ về thế giới tự nhiên, về đời sống
con người và đời sống xã hội:
1. Trời mưa,
Quả dưa vẹo vọ,
Con ốc nằm co,
Con tôm đánh đáo
Con cò kiếm ăn.
2. Con mèo mà trèo cay cau,
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà.
Chú chuột đi chợ đường xa,
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo.
Tu hú là chú bồ các.
Rồi lại: Bồ các là bác chim ri
(Quay đi quay lại nhiều lần)
- Ngôn ngữ đồng dao nhiều khi kì quặc chắp vá một cách ngẫu nhiên:
Nu na nu nống
Cái cống nằm trong
Con ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Phật ngồi phật khóc
Con cóc nhảy ra…
- Lôgic của đồng dao là lôgic của trò chơi, không theo lôgic hiện thực, trái với
lôgic thực tế, đảo ngược với lôgic cuộc đời, nhiều khi không thể giải thích nổi:
Trời làm một trận mưa rào
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô
Thóc giống đuổi chuột trong bồ
Đong đong cân cấn đuổi bò ngoài ao…
hay: Bao giờ cho đến tháng ba
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng
Hùm nằm cho lợn liếm lông
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.
Những đặc điểm đó của đồng dao rất gần với đặc điểm của trò chơi. Do đó
người ta coi đồng dao như trò chơi, nó thể hiện đặc tính ngộ nghĩnh của trẻ nhỏ
nên được các em ưa thích.
Nội dung của đồng dao:
15
Tuy ý nghĩa của nhiều câu đồng dao có khi không rõ ràng, thậm chí vô
nghĩa, nhưng không phải vì thế mà đồng dao không có nội dung gì. Thực ra nội
dung của đồng dao rất phong phú, nó phản ánh nhiều mặt của cuộc sống mà chủ
yếu là ở nông thôn.
nhiệm vụ ru em bé ngủ khi người lớn vắng nhà. Những lời đồng dao nghe rất
ngô nghê, nhưng với giai điệu hát ru, trẻ nhỏ cũng đưa em bé của mình vào giấc
ngủ ngon lành:
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về
Bắt được con trắm con trê
Buộc cổ lôi về cho cái ngủ ngon
hay: Em tôi buồn ngủ buồn nghê
Con tằm đã chín con dê đã mùi
Con tằm để lại mà nuôi
Con dê đã mùi làm thịt em ăn
- Dùng trong khi chơi: Nhân dân ta có một kho tàng trò chơi dân gian hết
sức phong phú mà điều đặc biệt thú vị là phần lớn trò chơi đều đi kèm với lời
đồng dao rất ngộ nghĩnh làm tăng thêm sự cuốn hút của trò chơi đối với trẻ em.
Những trò chơi đó được truyền tụng từ đời này sang đời khác cho đến ngày nay,
như trò chơi “Kéo cưa lừa xẻ”, “Chi chi chành chành”, “Rồng rắn lên mây”,
“Trồng nụ trồng hoa”, “Thả đỉa ba ba”
Tác dụng của đồng dao đối với trẻ mầm non: Đồng dao có tác động giáo
dục mạnh mẽ đối với trẻ em, trước hết là nó giáo dục thái độ văn hóa đối với hai
mối quan hệ chủ yếu của con người: con người - thiên nhiên, con người - xã hội.
- Giáo dục tình yêu đối với thiên nhiên: Đồng dao gợi nên ở các em nhỏ
tình yêu hồn nhiên đối với cái ong cái kiến, con cò con vạc, con trâu con nghé;
cây cỏ, chim chóc qua các bài gọi nghé của trẻ mục đồng, qua những bài giới
thiệu các loài chim muông, hoa quả,…
- Giáo dục lòng nhân ái: Đồng dao gợi lên ở trẻ tình yêu đối với ông bà,
cha mẹ, bà con xóm làng; đồng cảm với những người có cảnh ngộ éo le, sẵn
lòng giúp đỡ những người nghèo khổ, tàn tật. Có thể nói là đồng dao là những
bài học đạo đức rất nhẹ nhàng mà hấp dẫn đối với các em nhỏ.
- Nhưng nhiều hơn hết đồng dao với tính hài hước của nó đã mang lại cho
trẻ em những niềm vui sướng vô tư, nụ cười sảng khoái. Hơn nữa chính tính hài
những hiểu biết, những suy nghĩ, những cảm xúc của mình. Trẻ hiểu được lời
chỉ dẫn của người lớn, của cô giáo thì các hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy
của trẻ được chính xác, kích thích trẻ tích cực hoạt động, kích thích trẻ nói từ đó
sự hiểu biết của trẻ ngày càng được nâng lên.
Trẻ dùng ngôn ngữ để đặt ra muôn vàn câu hỏi, yêu cầu, nguyện vọng, thể
hiện thái độ, tình cảm yêu, ghét… Biểu hiện bằng ngôn ngữ giúp cho nhận thức
của trẻ được củng cố sâu sắc hơn, tạo cho trẻ được sống trong môi trường có các
hoạt động giao tiếp, trên cơ sở đó nảy sinh nhiều suy nghĩ sáng tạo mới.
18
Mặt khác với những tri thức đơn giản gần gũi đồng dao gợi lên tình yêu
hồn nhiên của trẻ em đối với con ong, cái kiến, con cò, con vạc, con trâu, con
nghé… Các bài hát gọi mẹ gọi nghé của trẻ mục đồng, bài hát giới thiệu các loài
chim muông, hoa quả hoặc những sự vật xung quanh (đồ dùng để làm ruộng, đồ
dùng trong nhà, trong bếp…) vừa là đồng dao vừa là một kiểu bài hát trong
trong trò chơi, các em theo lời hát mà chỉ ra sự vật. Những bài đồng dao trong
trò chơi cung cấp cho trẻ những kiến thức về xã hội. Trẻ tập đi mua bán, tập làm
nhà cửa, tập cưỡi trâu, cưỡi ngựa trong tưởng tượng. Có những bài hát chỉ về
nghề nghiệp trong xã hội có phân công và có cả những bài hát chế giễu những
thói hư tật xấu. Nổi bật lên là những chủ điểm về đồng áng và cày cấy, đối với
em gái là kiến thức về nữ công gia chánh. Trong khi chơi các em tiếp thu những
điều hay lẽ phải, rèn luyện những thói quen cần thiết cho cuộc sống hiện nay và
sau này một cách tự nhiên và thoải mái. Chính vì thế đồng dao với những đặc
trưng vốn có của nó rất phù hợp với đặc điểm của trẻ lứa tuổi mẫu giáo nói
chung, mẫu giáo lớn nói riêng.
Đồng dao có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ đặc biệt là
làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn. Những bài đồng dao giúp mở rộng vốn từ
cho trẻ về môi trường tự nhiên (thế giới động vật, thế giới thực vật, các hiện
tượng tự nhiên), môi trường xã hội, Thông qua đó giúp trẻ hiểu nghĩa của một
số từ ngữ, cách sử dụng chúng trong những hoàn cảnh khác nhau.
1.2.2.1.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên trong việc sử dụng đồng dao
ở các trường mầm non
Chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến 16 giáo viên đang công tác tại Trường
Mầm non Sơn Ca - Thuận Châu và Trường Mầm non Chiềng Ban - Mai
Sơn - Sơn La. Tổng hợp ý kiến của giáo viên qua phiếu trưng cầu ý kiến chúng
tôi nhận thấy:
* Đối với câu hỏi 1: ‘‘ Theo cô đồng dao có vai trò như thế nào đối với sự
hình thành và phát triển nhân cách của trẻ mầm non’’, có 11/16 giáo viên
(chiếm 68,75%) cho rằng: đồng dao có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá
trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo lớn, 5/16 giáo viên
(chiếm 31,25%) cho rằng đồng dao có vai trò quan trọng trong việc hình thành
và phát triển nhân cách trẻ mẫu giáo lớn.
Kết quả trên cho thấy, phần lớn các giáo viên đã xác định được tầm quan
trọng của đồng dao trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ mẫu
giáo lớn.
* Đối với câu hỏi 2: ‘‘Theo cô, có cần thiết đưa ca đồng dao vào sử dụng
trong trường mầm non cho đối tượng mẫu giáo lớn không ?’’, có 14/16 giáo viên
(chiếm 87,5%) cho rằng đưa đồng dao vào sử dụng ở trường mầm non là một