KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI QUA THƠ PHẠM HỔ - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ THÙY TIÊN BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI QUA THƠ PHẠM HỔ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

trong khoa Tiểu học – Mầm non, Phòng Đào tạo Đại học, Thư viện trường ĐH
Tây Bắc, BGH cùng tất cả GVCN Lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi trường mầm non Tô
Hiệu – TP Sơn La – tỉnh Sơn La, trường mầm non Hoàng Tây – Kim Bảng – Hà
Nam, các bạn SV Lớp K50 ĐHGD Mầm non đã tạo điều kiện giúp đỡ để chúng
em hoàn thành khóa luận đúng thời gian.

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện Nguyễn Thị Thùy Tiên

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BGH : Ban giám hiệu
ĐHGD : Đại học giáo dục
ĐHSP : Đại học sư phạm
CĐSP : Cao đẳng sư phạm
TCSP : Trung cấp sư phạm
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
QLKH : Quản lý khoa học
QHQT : Quan hệ quốc tế
SV : Sinh viên
TS : Tiến sĩ
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 3

2.1.1.2. Về ngôn ngữ, nhịp điệu và vần điệu 23
2.1.1.3. Về nội dung 24
2.1.1.4. Thơ Phạm Hổ có thể giáo dục trẻ trên nhiều phương diện:Thẩm mỹ,
phát triển lời nói mạch lạc, lời nói nghệ thuật và phát triển nhân cách 29
2.1.2. Khảo sát thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo qua thơ
Phạm Hổ 32
2.1.2.1. Mục đích khảo sát 32
2.1.2.2. Địa bàn, thời gian khảo sát 33
2.1.2.3. Đối tượng khảo sát 33
2.1.2.4. Nội dung khảo sát 33
2.1.2.5. Phương pháp khảo sát 33
2.1.2.6. Kết quả khảo sát đối với trẻ 34
2.1.2.7. Kết quả khảo sát đối với giáo viên 35
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5-6
TUỔI QUA THƠ PHẠM HỔ 38
3.1. Biện pháp đàm thoại giúp trẻ hiểu bài thơ 38
3.1.1. Đàm thoại giới thiệu tác phẩm 38
3.1.2. Đàm thoại để hiểu tác phẩm 39
3.1.3. Đàm thoại để tái hiện tác phẩm 39
3.2. Đọc thơ cho trẻ nghe và cho trẻ học thuộc lòng bài thơ 40
3.3. Giảng giải, giải thích từ khó 41
3.4. Sử dụng các phương tiện trực quan trong việc đọc thơ cho trẻ nghe 42
3.4.1. Sử dụng vật thật 42
3.4.2. Sử dụng đồ dùng trực quan mô phỏng lại các sự vật hiện tượng như
tranh vẽ, con rối, mô hình, sa bàn… 43
3.4.3. Các phương tiện nghe nhìn hiện đại như : đĩa hình, băng đĩa nghi âm,
máy nghe nhạc, máy tính 44
3.4.4. Những kí hiệu quy ước 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
1. Kết luận 47

Tuy nhiên, để phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua thơ Phạm Hổ thì cần phải tìm hiểu
và nghiên cứu một cách đầy đủ. Chính vì lí do này mà chúng tôi lựa chọn khóa
luận: “Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi qua thơ Phạm Hổ” để
tiến hành nghiên cứu. 2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ là tài sản quý báu của nhân loại, là kho tàng trí tuệ của loài
người. Nó chứa đựng và làm sống lại những thành tựu do xã hội xây dựng lên, là
tượng đài giá trị nền văn minh nhân loại. Nó luôn đồng hành với con người, là
phương tiện giao tiếp của con người, tồn tại bên trong giá trị loài người. Vì thế,
qua nhiều thời đại ngôn ngữ vẫn là đói tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa
học khác nhau như: triết học, tâm lí học, xã hội học, giáo dục học,…và đã đạt
được những thành công to lớn.
Có rất nhiều các nhà khoa học trên khắp thế giới cùng tham gia nghiên cứu
về ngôn ngữ như: F.D.sausure, R.O.Shor, E.D.Polivannop, L.X.Vugoxky,
những nghiên cứu tuy khác nhau về phương pháp nhưng luôn tìm hiểu chung
một vấn đề đó là ngôn ngữ.
Ở Việt Nam, vấn đề phát triển ngôn ngữ, lời nói cho trẻ cũng đã được rất
nhiều nhà giáo dục quan tâm và nghiên cứu.
Luận án Tiến sĩ của Lưu Thị Lan: Các biện pháp phát triển ngôn mạch lạc
cho trẻ mẫu giáo lớn
Luận án Tiến sĩ Nguyễn Thị Oanh: Cơ sở của việc tác động sư phạm đến sự
phát triển ngôn ngữ tuổi Mầm non
Luận án Thạc sĩ Huỳnh Ái Hằng: Một số biện phát dạy trẻ kể chuyện theo
chủ đề nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi
Luận án Thạc sĩ Hoàng Thị Hồng Mát: Dạy trẻ 5 - 6 tuổi kể chuyện sang
tạo nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua thơ

khả thi thì sẽ góp phần vào công cuộc đổi mới phương pháp giáo dục mầm non
hiện nay nhất là ở lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ và có thể làm tài liệu
tham khảo cho giáo viên mầm non, sinh viên ngành giáo dục mầm non.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu một số cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến vấn đề cần
nghiên cứu.
Khảo sát thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi qua thơ của Phạm Hổ ở
trường mầm non.

4
Xây dựng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non trong độ tuổi
từ 5-6 tuổi thông qua một số bài thơ của nhà thơ Phạm Hổ.
Tổ chức thể nghiệm để khẳng định tính khả thi của phương án đề xuất.
Xử lí kết quả nghiên cứu.
7. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn những vấn đề liên quan đến đề tài.
Vì điều kiện thời gian có hạn và đi lại nhiều trên các địa bàn khác nhau nên
chúng tôi chỉ tiến hành tìm hiểu và thực nghiệm tại Trường mần non xã Hoàng
Tây huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam.
8. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận: đọc sách báo và các tài liệu liên quan đến vấn đề
đang nghiên cứu, từ đó chọn lọc để xây dựng nên cơ sở lí luận của đề tài
8.1. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Dùng phiếu điều tra kết hợp trao đổi những thông tin có liên quan về vấn
đề nghiên cứu với các giáo viên ở trường mầm non nhằm phát triển ngôn ngữ
cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua tác phẩm thơ của Phạm Hổ.
- Sử dụng phương pháp quan sát: việc quan sát các tiết học làm quan với tác
phẩm văn học có các bài thơ của nhà thơ Phạm Hổ.
- Quan sát và ghi chép lại những tác dụng của thơ Phạm Hổ đến sự phát
triển ngôn ngữ của trẻ thông qua các tiết học thơ ca ở trường mầm non…

Sự hồn nhiên, vô tư, trong sáng là nét tâm lí nổi bật của trẻ thơ, đặc biệt là
trẻ lứa tuổi mầm non. Nhìn chung, ở lứa tuổi này, tình cảm thống trị tất cả các
mặt trong hoạt động tâm lí của trẻ. Chính vì vậy mà nhận thức của trẻ cũng
mang đậm màu sắc cảm xúc. Trẻ luôn có nhu cầu được người khác quan tâm và
cũng luôn bày tỏ tình cảm của mình đối với mọi người xung quanh. Lứa tuổi này
đặc biệt nhạy cảm trước sự thay đổi của thế giới xung quanh và xúc động, ngỡ
ngàng trước những điều tưởng chừng như rất đơn giản. Một bông hoa nở, một
chiếc lá rơi, một con kiến tha mồi hay một đêm trăng sáng… cũng có thể làm trẻ
xúc động một cách sâu sắc. Chính đặc điểm dễ nhạy cảm này làm cho trẻ khi
nghe kể chuyện, đọc thơ có thể dễ dàng hóa thân vào nhân vật trong tác phẩm.
Trẻ thường có những phản ứng trực tiếp ngay tức thì khi tiếp xúc với tác phẩm.
Chúng có thể cười, có thể khóc, có thể sung sướng hay tức giận trước những chi
tiết, sự kiện của tác phẩm, những tình huống mà nhân vật gặp phải. Đó là phản
ứng hết sức tự nhiên, biểu thị trạng thái tâm lí chưa ổn định dễ dao động trước
những tác động bên ngoài. Những phản ứng này tương đồng với nội dung của
tác phẩm và nó càng trở nên mạnh mẽ nếu có sự đồng cảm của người lớn. Chính
vì vậy, ngôn ngữ, giọng điệu, ngữ điệu hoặc những cử chỉ, điệu bộ của người
đọc, kể tác phẩm văn học cho người nghe là vấn đề hết sức quan trọng. Việc cho
trẻ tiếp cận với tác phẩm văn học, ngoài kiến thức còn tạo cho trẻ một năng lực
cảm nhận cái đẹp, một thái độ cảm nhận cuộc sống - một phong cách sống.
Trẻ càng lớn, tình cảm sẽ dần ổn định. Sự hiểu biết của trẻ của trẻ sẽ phong
phú, phức tạp dần theo mối quan hệ và những hiểu biết về thế giới xung quanh.
Chính vì vậy, từ những xúc cảm, tình cảm được nảy sinh trong quá trình cảm thụ
tác phẩm văn học, trẻ sẽ biết yêu thương mọi người cũng như vạn vật xung
quanh. Cảm xúc chi phối mạnh mẽ tri giác và độ tập trung chú ý, đặc biệt là

7
hứng thú nhận thức. Trẻ em luôn hướng về một cái gì đó. Mỗi hoạt động của trẻ
đều kích thích cảm xúc, mỗi cảm xúc lại ảnh hưởng đến sự tri giác. Nhờ đó, trẻ
nhận thức được thế giới xung quanh. Nhà tâm lý học và sinh học người Anh,

Như vậy, trong việc tiếp nhận văn học của trẻ em lứa tuổi mầm non vấn đề tri
thức và kinh nghiệm rất cần, nhưng quan trọng hơn vẫn là cảm xúc. Đó là năng
lực hóa thân của các em với cái nhìn ngây thơ, giản đơn về sự giống nhau giữa
tác phẩm và cuộc sống. Trẻ luôn cho rằng thế giới nghệ thuật trong tác phẩm
văn học cũng là hiện thực ngoài đời nên dễ dàng muốn chia sẻ.
1.1.1.2. Sự hồn nhiên, vô tư, trong sáng trong thơ Phạm Hổ
Thế giới trong thơ Phạm Hổ là một thế giới náo nức, sinh động đáng yêu,
màu sắc, hương vị của thế giới bên ngoài, của thiên nhiên cây cỏ được đưa vào
trong thơ qua trí tưởng tượng hồn nhiên của trẻ thơ mang một màu sắc riêng ngộ
nghĩnh đáng yêu.
Đi vào thế giới thơ Phạm Hổ, ta bắt gặp tất cả những gì quen thuộc trong
cuộc sống hàng ngày của các em. Đó là cái kéo, cái chổi, cái đinh, dây cầu chì…
Thiên nhiên trong thơ Phạm Hổ là một thiên nhiên trong trẻo, tinh nguyên, kì
diệu và đầy chất thơ.
Trong bài: Bắp cải xanh Ông viết:
Bắp cải xanh
Xanh mát mắt
Lá cải sắp
Sắp vòng tròn
Búp cải non
Nằm ngủ giữa…
Phạm Hổ cảm nhận được sự lớn lên, sinh trưởng và phát triển của cây rau.
Qua con mắt nhìn tinh tế, nhà thơ đã thấy được sự mát mẻ, êm dụi khi nhìn vào
cây rau, sự sắp xếp rất nghệ thuật và có quy luật từ màu sắc của cây bắp cải đến
lá cây xếp thành vong tròn và cuối cùng là búp cải non nằm ngủ giữa… Giống
như nhưng em bé được bao bọc trong vòng tay của bố mẹ vậy. Sự cảm nhận rất
thật nhưng rất tinh tế.
Đọc thơ Phạm Hổ tuổi thơ của chúng ta như được ùa về với những câu hỏi
thắc mắc ngây ngô và cách lí giải cũng rất hồn nhiên trong sáng. Với ngòi bút


đáng yêu, của những em bé đang làm nũng mẹ. Với cách nói giản dị, gần gũi

10
không chỉ giúp trẻ thơ dễ hiểu, dễ cảm nhận được nội dung bài thơ mà ngay cả
người lớn cũng phải thuyết phục bởi lời thơ đó.
Trong bài: Bé đi cày, ta lại bắt gặp một em bé thông minh, giỏi giang đang
làm việc giúp bố, mẹ:
Chuối xanh một quả
Cắm bốn chân tre
Thành con trâu đực
Nhìn giống, giống ghê!

Hai ngọn cờ ngô
Làm cây cày nhỏ
Đem ra giữa ngõ
Buộc trâu đi cày

Trâu ơi, gắng đi
Cày cho xong ruộng
Chiều ta về sớm
Cất chuồng cho Trâu

Vắt! vắt! đi nào
Sao trâu chậm thế?
Trâu mệt rồi ư?
Chúng mình nghỉ nhé!

Bóng mát ngõ trưa
Thả trâu ăn cỏ
Bé nằm ngủ quên

của các nhà tâm lí học, tưởng tượng của trẻ lứa tuổi mầm non bắt đầu mang tính
chất sáng tạo, tưởng tượng của trẻ gắn chặt với xúc cảm, đó là quan hệ hai chiều.
Tưởng tượng phụ thuộc vào sự phát triển cảm xúc, cảm xúc càng sâu sắc thì

12
tưởng tượng càng phát triển để phù hợp với cảm xúc đó và ngược lại tượng
tượng cũng giữ vai trò làm giàu thêm những kinh nghiệm cảm xúc của trẻ. Việc
hình thành và phát triển tưởng tượng của trẻ cũng gắn chặt với sự hình thành và
phát triển ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ có thể hình dung ra được những gì
trẻ nhìn thấy (tưởng tượng). Vì thế, nếu một đứa trẻ mà ngôn ngữ kém phát triển
thì trí tưởng tượng cũng nghèo nàn. Tưởng tượng giúp cho trẻ có thể sâu chuỗi
được những sự vật, hiện tượng riêng lẻ vào một thể thống nhất. Tưởng tượng
của trẻ được phát triển trong hoạt động giáo dục, qua các hoạt động giáo dục trẻ
sâu chuỗi được các sự vật hiện tượng bằng trí tưởng tượng phong phú của mình
và tích lũy được vốn biểu tượng trong từng hoạt động, sau đó, trong những thời
điểm hoàn cảnh cụ thể, trẻ sẽ có sự liên tưởng cần thiết. Trẻ thơ cần có trí tưởng
tượng vì vậy việc nuôi dưỡng trí tưởng tượng cho trẻ là một trong những nhiệm
vụ của giáo dục mầm non.
Tính hoang đường là đặc trưng cơ bản của trẻ mầm non. Đặc điểm của nó
là thiên về những điều kì diệu khác thường. Đó là thế giới thần tiên của truyện
cổ tích, trong đó có ông Bụt, bà tiên tốt bụng, với những phép biến hóa thần
thông và những nàng công chúa xinh đẹp, những chàng hoàng tử dũng cảm,
thông minh Tưởng tượng hoang đường cũng là thế mạnh của trẻ thơ, điều đó
giải thích tại sao trẻ nào cũng thích truyện cổ tích. Đó như một bản năng tự
nhiên của con người muốn mộng du vào một thế giới hoang đường để tìm đến
sự thiêng liêng, cao cả. Nhà tâm lí học M. Arnauđôp đã chỉ ra rằng: “sáng tác
hoang đường thích hợp vơi tư duy trẻ em, những người chưa quen với những
chuyện tầm thường trong cuộc sống, chưa được những kinh nghiệm cay đắng
làm cho khôn ngoan và rất dễ tin vào đủ chuyên có thật. Đối với trẻ em những gì
làm xúc động mạnh mẽ là phương tiện duy nhất để làn cho trí tưởng tượng và sự

Mười chú gà con

Lòng trắng, lòng đỏ
Thành mỏ, thành chân
Cái mỏ tí hon
Cái chân bé xíu 14
Lông vàng mát dịu
Mắt đen sáng ngời
Ơi chú gà ơi
Ta yêu chú lắm…
Với trí tưởng tượng vô cùng phong phú xen lẫn với sự ngây thơ tác giả đã
giải thích vô cùng khoa học mà rất dễ hiểu:
Lòng trắng, lòng đỏ => thành mỏ, thành chân
Cái mỏ thì tí hon, còn cái chân thì bé xíu.

Hay trong bài thơ: Rình xem Mặt Trời có viết:

Sáng mát mẹ phơi áo
Chiều xế mẹ lấy vào
Bé sờ áo, hỏi mẹ:
“Nước trên áo đi đâu?”

Mẹ cười chỉ mặt trời:
“Ông mặt trời uống đấy”
Bé tin mẹ, hỏi thêm:
“Uống lúc nào không thấy…?”


nói khả năng tưởng tượng của các em là vô tận. Chính vì vậy, tưởng tượng là
một yếu tố không thể thiếu trong các tác phẩm viết cho các em.
Thơ Phạm Hổ viết cho các em lứa tuổi mầm non, đặc biệt là thơ, do đối
tượng phục vụ chủ yếu là những “bạn đọc” chưa biết đọc, biết viết nên ngoài
những tiêu chí chung của văn học thiếu nhi nó còn có những đặc điểm được
nhấn mạnh, phù hợp với tâm sinh lí đặc thù của lứa tuổi này. Có thể kể ra một số
đặc trưng cơ bản sau đây:
1.2.1. Sử dụng chất liệu dân gian
Những bài thơ thiếu nhi của ông mang sắc thái đồng dao, vui chơi ngộ
nghĩnh, dễ thuộc dễ nhớ, giàu nhạc điệu, dễ múa hát, kích thích trí tưởng tượng,
khơi gợi sự tò mò khám phá, phù hợp với tâm lý trẻ thơ.

16
Làm thơ cho thiếu nhi Phạm Hổ rất coi trọng vai trò của nhạc điệu. Ông
viết: Viết thơ cho các em bé, theo tôi rất cần chú ý đến nhạc điệu. Nhạc điệu của
thơ liên quan chặt chẽ tới việc sắp xếp tổ chức các câu thơ, vần và nhịp. Phạm
Hổ thường sử dụng thể thơ 2, 3, 4, hoặc 5 chữ. Nhịp thơ thường ngắn có giá trị
miêu tả thực. Chẳng hạn nhịp 2/2 ở bài thơ Sen nở gợi tả những cánh sen từ từ
hé mở:
Từ từ / khẽ mở
Trăm ngàn / cửa lụa
Xinh tươi / sáng hồng
Hay bài thơ: Tàu dài lại gợi hình ảnh đoàn tàu nhiều toa đang chuyển động
một cách nhịp nhàng, đều đặn
Cách reo vần khéo léo đến lỗi nhân hóa ngộ nghĩnh và sử dụng từ láy đặc
sắc làm cho âm thanh bài thơ có sức sống kỳ lạ như bài: Củ cà rốt
Lá xanh
Củ đỏ
Lớn nhỏ
Bên nhau

Ngoái trước nhìn sau
Ậm ờ tìm gọi mãi
Hóa ra chú bò ấy, tưởng là ít hiểu biết lại là kẻ chân tình và rất chân thành,
lại là người rất quí tình bạn. Hóa ra, người đời có lúc có cái nhìn chưa tinh, mới
thấy vẻ chậm chạp của chú đã vội qui cho tội “ngu” mà không thấy cái tình sâu
xa, cái tâm hồn đôn hậu ẩn bên trong.
Bài thơ kết thúc mà tiếng gọi “ậm ờ” gọi bạn của chú vẫn còn vang mãi trong
tâm tưởng người đọc. Nó là tiếng gọi bạn, kết bày của lưới tuổi nhỏ chúng ta.
Câu chuyện ấy đã ca ngợi tình bạn, chú bò ấy ngây thơ như một em bé, hồn
nhiên, vô tư, gặp bạn là cười nói, chào hỏi vui vẻ, khi không có bạn thì buồn bã:
Ậm ờ tìm gọi mãi.
Hay câu chuyện về chú bê con háu ăn suốt ngày đòi bú tí mẹ trong bài: Bê
con đòi bú:
Nhanh cho con bú tí
Đói, đói rồi mẹ ơi!

18
- Gì mà nhặng lên thế
Mới nhả vú đấy thôi
- Nhả vú là đói rồi
Mẹ ơi! Con bú tí!!!
Mẹ vừa cho ti xong đã đói rồi cũng giống như những đứa trẻ con đang làm
nũng mẹ mình.
Trong bài thơ: Ngỗng và vịt thì lại kể về một chú Ngỗng lười học bài,
không chịu học chữ mà lại khoe là biết chữ rồi. Bạn Vịt thấy vậy đưa sách
ngược cho chú Ngỗng, Ngỗng ta cứ tưởng xuôi nên cứ giả đọc nhanh làm Vịt
phì cười. Bạn Vịt khuyên Ngỗng
-Ngỗng ơi! Học! học!
Đến với bài thơ Ngủ rồi lại tạo ra trước mắt người đọc một khung cảnh nhốn
nháo, vui nhộn. Câu chuyện về các con vật nuôi hiện lên sinh động và ngộ nghĩnh:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status