KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC: GIÁO DỤC TÌNH CẢM ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON HOA QUỲNH CHIỀNG BÔM – THUẬN CHÂU – SƠN LA THÔNG QUA VIỆC GIÚP TRẺ LÀM QUEN VỚI TRUYỆN CỔ TÍCH - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN NGỌC BÍCH GIÁO DỤC TÌNH CẢM ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
TRƯỜNG MẦM NON HOA QUỲNH CHIỀNG BÔM –
THUẬN CHÂU – SƠN LA THÔNG QUA VIỆC
GIÚP TRẺ LÀM QUEN VỚI TRUYỆN CỔ TÍCH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

cô giáo khoa Tiểu học – Mầm non, thư viện trường Đại học Tây Bắc, các ban
ngành chức năng và tập thể lớp K50 Đại học giáo dục Mầm non.
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban giám hiệu trường
Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La đã tận tình giúp
đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Với nội dung khóa luận này em rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp của thầy cô và các bạn!
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và các bạn!

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện Nguyễn Ngọc Bích DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT GDĐĐ : Giáo dục đạo đức
MGB : Mẫu giáo bé
MGL : Mẫu giáo lớn
MGN : Mẫu giáo nhỡ
NXB : Nhà xuất bản
STT : Số thứ tự
% : Phần trăm
MỤC LỤC

2.2. Khảo sát thực trạng dạy học ở trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm –
Thuận Châu – Sơn La 23
2.2.1. Mục đích và nội dung khảo sát 23
2.2.2 Vài nét về khách thể điều tra 24
2.2.3. Thời gian điều tra 24
2.2.4. Phương pháp điều tra 24
2.2.5. Thực trạng hoạt động dạy học của trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng
Bôm – Thuận Châu – Sơn La 24
2.3. Thực trạng hoạt động dạy học ở trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm
– Thuận Châu – Sơn La 29
TIỂU KẾT 31
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP DẠY HỌC 32
3.1. Biện pháp tạo hứng thú trong giờ học 32
3.2. Biện pháp lựa chọn truyện cổ tích để đạt hiệu quả cao 33
3.2.1. Truyện cổ tích được lựa chọn phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa
tuổi 33
3.2.2. Truyện cổ tích được lựa chọn phải có nội dung mang ý nghĩa giáo dục đạo
đức cho trẻ 34
3.3. Lập kế hoạch cụ thể cho từng chủ đề, chủ điểm về nội dung giáo dục đạo
đức cho trẻ 34
3.4. Biện pháp nâng cao nhận thức của giáo viên 35
3.4.1. Giáo viên cần nâng cao nhận thức của mình về nhiệm vụ, nội dung và
phương pháp giáo dục cho trẻ thông qua tài liệu, sách báo tham khảo 35
3.4.2. Giáo viên cần rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm cho bản thân 37
3.4.3. Giáo viên cần chú ý và tìm ra những bài học cụ thể cho từng câu chuyện
cũng như cách thức truyền tải cho trẻ nội dung giáo dục đó 38
3.5. Đa dạng hoá hoạt động học tập, tổ chức hoạt động ngoại khoá liên quan đến
truyện cổ tích đồng thời rèn luyện khả năng phát âm, củng cố vốn từ cho trẻ 39
3.6. Biện pháp kết hợp giữa gia đình và nhà trường 41
3.7. Một số giáo án 42

không chỉ là việc cung cấp, bồi dưỡng tri thức, kĩ năng hay nâng cao năng lực
con người, mà hơn hết mục tiêu chính và quan trọng nhất của giáo dục không gì
khác chính là “dạy cách làm người”. Giúp con người bồi dưỡng tâm hồn và rèn
giũa nhân cách, hoàn thiện bản thân, có như vậy con người mới có thể phát triển
toàn diện được. Mục tiêu ấy của giáo dục không phải có thể hoàn thành một
cách nhanh chóng trong một sớm một chiều, mà nó là cả một quá trình dài thực
hiện theo những cấp độ khác nhau, từ khi trẻ được sinh ra cho đến hết bậc học
phổ thông hoặc cao hơn nữa. Trong đó tập trung chủ yếu ở các cấp học mầm
non, tiểu học và phổ thông cơ sở và tất nhiên là khâu quan trọng nhất, cũng là
nền tảng cho việc hình thành những kĩ năng đầu tiên với cuộc sống. Tạo dựng
những nền tảng căn sơ cho nhân cách sau này của trẻ chính là ở trường mầm
non. Bởi lẽ, đây là thời kỳ quan trọng nhất của trẻ khi các em mới chập chững
làm quen với xã hội bên ngoài sự bao bọc của gia đình. Đây cũng là thời kỳ tiên
quyết, giúp trẻ chuẩn bị những hành trang đầu tiên để bước vào đời sau này.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Trẻ em như búp trên cành, biết

2
ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”. Đó như một lời khẳng định cho sự ngây
thơ, hồn nhiên, trong sáng của trẻ. Khi mới sinh ra trẻ em như một tờ giấy trắng
tinh khôi không hề tì vết, không vấy bẩn và trong sáng vô cùng. Sự trong sáng
ngây thơ ấy mang lại cho trẻ sự hồn nhiên nhưng cũng khiến trẻ không đủ khả
năng để có thể vững vàng trong cuộc sống. Bởi vậy, trẻ rất dễ bị ảnh hưởng bởi
những tác động của xã hội xung quanh.
Đặc biệt, ở lứa tuổi mầm non, trẻ chủ yếu nhận biết xã hội bằng việc quan
sát và bắt chước những gì quan sát được, chứ chưa thể có những chủ kiến của
bản thân cũng như có được sự đánh giá đúng sai để xem xét có nên học tập hay
không. Bởi vậy mà tâm hồn trong sáng ngây thơ của trẻ rất có khả năng sẽ bị
biến đổi nhanh chóng, trở thành những đứa trẻ hư, những học sinh kém…
Chúng ta cũng từng khẳng định trẻ em là mầm non tương lai của đất nước. Có lẽ
nào ta lại để những mầm non ấy chưa kịp lớn lên đã dần thui chột và lụi tàn. Vì

tích còn ít được đề cập đến hoặc có được đề cập đến nhưng chưa được áp dụng
rộng rãi. Vì vậy để trẻ phát huy được tối đa những tình cảm đạo đức, tính tích
cực, sáng tạo, tư duy tưởng tượng các nhà giáo dục cần có biện pháp và phương
pháp giúp trẻ phát triển tình cảm đạo đức thông qua việc giúp trẻ làm quen với
truyện cổ tích. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, mức độ biểu hiện tình cảm đạo
đức của trẻ chưa cao, một trong những nguyên nhân đó là ở trường mầm non
còn mang nặng tính hình thức, trong quá trình tổ chức hoạt động giáo viên chưa
chú trọng phát huy vai trò của truyện cổ tích đối với sự phát triển tình cảm đạo
đức của trẻ. Một trở ngại lớn đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua
truyện cổ tích đó là việc sử dụng ngôn ngữ của trẻ. Mác nói: “Ngôn ngữ là vỏ
hiện thực của lời nói và tư duy”. Không đủ vốn từ hay vốn từ không được tích
cực hóa thì không thể hiểu được ý của người khác nói, không thể diễn đạt được
điều mình muốn nói cho người khác hiểu được. Bên cạnh đó cơ sở vật chất còn
hạn hẹp, phụ huynh thiếu quan tâm đến sự phát triển đạo đức của trẻ, trẻ chủ yếu
sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình để giao tiếp. Mà đặc biệt là giáo viên chưa
biết khai thác thế mạnh của truyện cổ tích trong việc giáo dục toàn diện nhân
cách nói chung và tình cảm đạo đức nói riêng cho trẻ mẫu giáo.
Với những lý do trình bày ở trên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài:
“Giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh
Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La thông qua việc giúp trẻ làm quen với
truyện cổ tích”.
2. Lịch sử vấn đề
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tác động của văn học và truyện cổ
tích với sự phát triển toàn diện của trẻ. Qua quá trình tìm hiểu về sự tác động
của truyện cổ tích trong việc giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi chúng
tôi đã tiếp cận với một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.
Có lẽ đối với trẻ thơ không món quà nào hấp dẫn bằng truyện cổ tích. Vai
trò của truyện cổ tích từ lâu đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan
tâm nghiên cứu. Có thể kể đến các tác giả như:
M.K Bogoliup Xkaia và V.v septsenk với tác phẩm: “Đọc và kể truyện văn

mục đích, nội dung và phương pháp cho trẻ làm quen với văn học. Đồng thời đã
lựa chọn và mang đến cho trẻ những truyện kể dân gian phù hợp và hấp dẫn.
Một số cuốn sách sưu tầm truyện cổ tích như:
“100 truyện cổ tích nổi tiếng thế giới”, NXB Văn hóa thông tin
“100 truyện cổ tích thế giới Ngọc Ánh sưu tầm và biên soạn”, NXB Dân trí
“100 truyện cổ tích Việt Nam hay nhất”, NXB nhà văn, do tác giả Thái
Đắc Xuân sưu tầm
Qua tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu chúng tôi nhận thấy đó đều là những
công trình nghiên cứu vĩ đại trên cả lĩnh vực lí luận và thực tiễn. Tuy nhiên chưa

5
có đề tài nào nghiên cứu về giáo dục tình cảm đạo đức thông qua truyện cổ tích
tại một trường mầm non cụ thể. Song đó là những tài liệu tham khảo giúp chúng
tôi xây dựng cơ sở lý luận của đề tài giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ 5 - 6 tuổi
tại trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La thông qua
việc giúp trẻ làm quen với truyện cổ tích.
3. Mục đích nghiên cứu
Qua việc khảo sát thực tiễn và tìm hiểu cơ sở lý luận chúng tôi nhằm đề
xuất một số biện pháp giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm
non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La thông qua việc giúp trẻ
làm quen với truyện cổ tích. Thông qua tác phẩm văn học nói chung và truyện
cổ tích nói riêng giúp hoàn thiện sự phát triển toàn diện của trẻ.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu một số cơ sở lí luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Tìm hiểu thực trạng của việc giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 –
6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La thông
qua các câu truyện cổ tích của giáo viên để làm rõ cơ sở thực tiễn. Từ đó, đề xuất
một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
Tổ chức thực nghiệm để khẳng định tính khả thi của biện pháp giáo dục
tình cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua việc giúp trẻ làm quen với truyện

cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành soạn giáo án và dạy thực nghiệm các phương pháp đã được đề
xuất trong đề tài.
- Xin ý kiến nhận xét của giáo viên trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng
Bôm – Thuận Châu – Sơn La về chất lượng giáo án.
7. Đóng góp của khóa luận
Hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến giáo dục
tình cảm đạo đức cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua việc cho trẻ làm quen với
truyện cổ tích.
Tìm hiểu được thực trạng sử dụng truyện cổ tích để giáo dục tình cảm đạo
đức cho trẻ 5 – 6 tuổi tại trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận
Châu – Sơn La.
Nếu đề tài này nghiên cứu thành công sẽ làm tài liệu tham khảo cho sinh
viên khoa Tiểu học – Mầm non, giáo viên mầm non, các bậc phụ huynh nói
chung và các bạn sinh viên quan tâm đến vấn đề này.
8. Giả thuyết khoa học
Thực tế giáo viên và phụ huynh đã nhận thức được ý nghĩa, vai trò, tầm
quan trọng của truyện cổ tích trong việc giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ mẫu

7
giáo 5 – 6 tuổi. Tuy nhiên, khi sử dụng truyện cổ tích vào việc giáo dục trẻ còn
gặp nhiều vấn đề khó khăn, mức độ phát triển đạo đức thông qua truyện cổ tích
cho trẻ mầm non từ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm –
Thuận Châu – Sơn La còn có những hạn chế do đó tình cảm đạo đức mà trẻ thể
hiện còn chưa cao. Nếu khóa luận đề xuất được những biện pháp phù hợp sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả giáo dục của truyện cổ tích trong việc hình thành tình
cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm –
Thuận Châu – Sơn La nói riêng và phát triển nhân cách cho trẻ nói chung.
9. Cấu trúc của khóa luận

trọng và hết sức tinh tế – xác định cái hiện có và dựa trên nền móng của cái
tương lai mà tổ chức việc dạy học và giáo dục. Cơ thể trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo
đang trên con đường phát triển, cơ thể chưa ổn định. Điều này thể hiện qua các
thông số về hình thái chức năng của cơ thể trẻ, cũng như mức độ hình thành và
phát triển các kỹ năng vận động và hình thành mức độ về tư duy. Do vậy, việc
xác định đúng và nắm vững đặc điểm phát triển của trẻ ở giai đoạn tuổi mẫu
giáo là vô cùng quan trọng đối với người làm công tác giáo dục. Nhận thức
của trẻ ở lứa tuổi này nhìn chung mang tính tổng quát, đi từ cụ thể đến trừu
tượng và tính không chủ định chiếm ưu thế. Các cảm giác phát triển mạnh, trẻ
hiểu biết theo các cảm xúc của bản thân và gắn liền với hành động: Tình bà
cháu, tình cảm giữa những người thân trong gia đình, tình cảm liên quan đến
nhu cầu giao lưu của trẻ… Trong quá trình phát triển, trẻ chưa có khả năng
kiềm chế, vui thì vui toàn diện, buồn thì buồn đến vô tận. Một trong những
đặc điểm tâm lý quan trọng là sự bắt đầu có ý thức về bản ngã (cái tôi) trẻ
dần dần nhận ra mình là một con người riêng biệt, độc lập với những ý muốn
khác với những người xung quanh.
Hoạt động vui chơi vốn giữ vị trí chủ đạo trong trong suốt thời kỳ mẫu
giáo, nhưng vào cuối tuổi này không còn giữ nguyên dạng hoàn chỉnh của nó,
những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh. Cuối giai đoạn mẫu giáo
lớn, trẻ đã có những tiền đề cần thiết của sự chín muồi đến trường về các mặt
tâm sinh lý, nhận thức, trí tuệ ngôn ngữ và tâm thế để trẻ có thể thích nghi bước
đầu với điều kiện học tập ở lớp 1. Tốc độ phát triển tâm lý ở lứa tuổi này rất

9
nhanh, đây là giai đoạn trẻ cần được sự giáo dục – xã hội hóa một cách tích cực.
Trạng thái của trẻ lúc này đã tương đối phong phú, đồng thời cũng rất dễ biểu
hiện ra ngoài, không ổn định, thiếu kiềm chế, thường có tâm lý sợ bóng tối, ma
quỷ… Lúc này trẻ đã có những biểu đạt cao hơn như: đạo đức, lý trí… Có thể
tuân thủ theo những quy phạm hành vi thông thường.
Ngoài ra, trẻ sau 5 tuổi đã bắt đầu biết phân biệt giới tính, ý thức bản thân


10
Giáo dục học theo nghĩa hẹp là quá trình hình thành cho người được giáo
dục: lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách,
những hành vi thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho
họ các hoạt động và giao lưu.
1.2.3. Khái niệm giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm
trang bị cho trẻ những hiểu biết về những nguyên tắc, qui tắc chuẩn mực đạo
đức, rèn cho trẻ những tình cảm, hành vi đạo đức phù hợp với yêu cầu xã hội mà
trẻ đang sống. Trên cơ sở đó hình thành cho trẻ những phẩm chất đạo đức,
những nét tính cách của con người Việt Nam mới.
1.2.4. Nhiệm vụ, nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo
* Nhiệm vụ
Trong quá trình giáo dục đạo đức, việc hình thành những tình cảm đạo đức
có vị trí quan trọng hàng đầu. Bởi lẽ ở lứa tuổi này mọi hành động của trẻ đều bị
chi phối bởi tình cảm. Khi trẻ yêu mến ai thì trẻ luôn nghe theo lời người đó và
sẵn sàng làm mọi việc để người đó vui lòng và yêu quý trẻ. Mặt khác, tình cảm
đạo đức là cơ sở, động lực thúc đẩy trẻ có những hành vi, việc làm tốt.
Việc hình thành các thói quen đạo đức cho trẻ mẫu giáo là nhiệm vụ quan
trọng thứ hai trong quá trình giáo dục đạo đức. Đặc điểm đặc trưng của trẻ mẫu
giáo là khả năng bắt chước. Khi bắt chước hành vi của người khác, nhiều trẻ
chưa hiểu được nội dung đạo đức hành vi của mình, do vậy dễ dẫn đến hành vi
sai. Bởi vậy, cần hình thành ở trẻ những thói quen hành vi khác nhau trong quan
hệ ứng xử với người lớn, bạn bè, nơi công cộng, với chính bản thân mình.
Nhiệm vụ cơ bản thứ ba là hình thành ở trẻ những biểu tượng về chuẩn
mực hành vi đạo đức và động cơ đạo đức đúng đắn. Trên cơ sở có tình cảm đạo
đức đúng đắn, đứa trẻ tích cực, tự giác thực hiện những hành vi phù hợp với các
yêu cầu của chuẩn mực hành vi đạo đức, dần dần nhận ra được các yêu cầu của
chuẩn mực hành vi (thế nào là ngoan, thế nào là hư, là xấu…).

thương, kính trọng, lễ phép, biết ơn và nghe lời thầy cô giáo.
Giáo dục tình yêu quê hương đất nước, Bác Hồ: trẻ yêu quý, kính trọng
Bác Hồ, biết lá cờ Tổ quốc. Biết quan tâm đến những ngày lễ lớn, những sự kiện
quan trọng, những truyền thuyết lịch sử trong nước hoặc ở địa phương, biết
những biến đổi tích cực trong đời sống địa phương.
Giáo dục tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, có ý thức bảo vệ thiên nhiên:
đối với thế giới đồ vật (có thái độ nâng niu, giữ gìn, không làm bẩn đồ dùng đồ
chơi, biết thu dọn, cất đồ dùng đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp sau khi chơi). Đối với
vật nuôi (trẻ thương yêu, chăm sóc). Đối với cây trồng (trẻ nâng niu, chăm sóc cây
cối trong vườn, không hái hoa bẻ cành, trẻ yêu thích ngắm cảnh thiên nhiên đẹp ).
1.2.5. Phương pháp giáo dục đạo đức
Phương pháp GDĐĐ là những cách thức tác động tới trẻ nhằm hình thành
ở trẻ những phẩm chất đạo đức theo mục đích giáo dục.

12
* Phương pháp dùng tình cảm
Một trong những đặc điểm nổi bật trong đời sống tâm lí của trẻ nhỏ là sự
phát triển mãnh liệt của những xúc cảm và chính những xúc cảm này lại có sức
mạnh chi phối lớn đối với các hoạt động tâm lí của chúng. Trẻ có nhu cầu được
yêu thương và cũng dễ yêu thương lại mọi người. Chính vì vậy những tác động
giáo dục đạo đức đến với trẻ trước hết bằng con đường tình cảm. Thông qua tình
cảm, người lớn có thể gợi lên ở trẻ những điều tốt lành. Đối với trẻ nhỏ, trong
việc GDĐĐ, dùng mệnh lệnh hay lí lẽ sẽ không có tác dụng tích cực.
Phương pháp dùng tình cảm trong GDĐĐ cần được hiểu theo hai chiều:
chiều thứ nhất là bằng tình yêu thương của mình, người lớn hết lòng dạy dỗ bảo
ban trẻ, chiều ngược lại là tạo ra những tình huống để trẻ có cơ hội đáp lại tình
cảm của người lớn bằng những hành vi đạo đức tốt đẹp của chúng. Trong việc
GDĐĐ cho trẻ mầm non, phương pháp dùng tình cảm là phương pháp chủ đạo
xuyên suốt quá trình hình thành hệ thống thái độ và hành vi ứng xử có đạo đức
cho trẻ. Vì ngay trong bản thân phương pháp này đã chứa đựng cả một nội dung

người trẻ mới lĩnh hội được qui tắc hành vi trong cuộc sống, mới tập hành động
theo các tiêu chuẩn đạo đức, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo, thói quen đạo đức,
trên cơ sở đó trẻ tích lũy được những kinh nghiệm thực tế phong phú cho bản
thân, nhờ vậy mà có những thái độ, những hành vi đúng đắn trong cuộc sống
hàng ngày như lễ phép, tôn trọng người lớn, đoàn kết với bạn bè, nhường nhịn,
giúp đỡ bạn bè, em nhỏ, giữ gìn đồ dùng đồ chơi…
* Phương pháp nêu gương, giải thích
Phương pháp nêu gương và giải thích rất thường xuyên được sử dụng trong
việc giáo dục đạo đức cho trẻ. Trong đó, giải thích là phương pháp giáo viên
dùng lời nói giúp trẻ hiểu được ý nghĩa hoặc lý do của một hành vi đạo đức, qui
tắc đạo đức, phân biệt được điều tốt, điều xấu nhằm hướng trẻ vào thực hiện một
cách tự giác những yêu cầu đạo đức. Còn nêu gương là dùng những tấm gương
tốt, điển hình về những hành vi, phẩm chất đạo đức để giáo dục trẻ noi theo.
* Phương pháp dùng khen, chê đúng lúc, đúng mực
Trong việc giáo dục đạo đức, người lớn cần biết khen chê đúng lúc và đúng
mực. Trong đó, khen ngợi là phương pháp tác động đến trẻ nhằm xác nhận, đánh
giá biểu dương những tiến bộ mà trẻ đã đạt được đồng thời cũng là động lực
thúc đẩy và khích lệ trẻ cố gắng nhiều hơn nữa. Ngược lại, chê trách là một hình
thức đánh giá hành vi giúp trẻ tránh được những hành động xấu. Dùng phương
pháp chê trách nhằm gây cho trẻ phạm sai lầm một cảm xúc hối hận, từ đó giúp
trẻ ngăn ngừa được những hành động xấu.
* Phương pháp thống nhất tác động giáo dục
Trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ nhỏ, khi mà mọi nét tính cách đang ở
thời điểm ban đầu của sự hình thành nhân cách thì những tác động cần tập trung
về một hướng. Những tác động không chỉ thống nhất trong trường mầm non mà
phải thống nhất tư tưởng và hành động giáo dục giữa trường mầm non với gia
đình, giữa cô giáo với cha mẹ trẻ. Đây là một đảm bảo bằng vàng cho việc hun

14
đúc nên một tính cách đạo đức ở trẻ, không những ở giai đoạn đầu tiên mới

ước và thiên hướng của nó là sáng tạo ra những điều kì diệu khác thường. Mục
đích của sự sáng tạo này là thỏa mãn lí tưởng đạo đức đang mâu thuẫn với một
môi trường xã hội nhất định. Nếu môi trường ấy chỉ có sự độc đoán, áp bức, những
con người bé nhỏ, lương thiện lâm vào hoàn cảnh bất hạnh, bị chà đạp. Còn sự cao
thượng trung thực không có nơi nương tựa thì điều duy nhất để an ủi những con

15
người bất hạnh ấy là niềm an ủi tìm thấy trong mơ ước, những khao khát công bằng
và lẽ phải. Những mơ ước về một xã hội công bằng, không có áp bức ấy đều được
đáp ứng đầy đủ trong thế giới huyền ảo, lung linh của truyện cổ tích.
Nhân vật trong truyện cổ tích chịu tác động đơn thuần của các chức năng
đã được đề ra ngay từ đầu như đặc trưng tinh thần cố hữu làm sáng tỏ quan niệm
đức hạnh được vạch ra dứt khoát. Một bên giản dị, dịu dàng, từ tâm, ngoan
ngoãn, dũng cảm, mưu trí. Còn bên kia là độc ác, tàn nhẫn, ghen ghét và xảo
quyệt. Ánh sáng và bóng tối, thiện và ác, tốt và xấu, chính và tà… Được phân bố
có chủ tâm không thể lẫn lộn với nhau của cùng một nhân vật. Đặc điểm ấy mãi
mãi là thuần túy và cố định. Trong cổ tích nhân vật yếu đuối và bất hạnh phải
hành động đến cùng để bảo vệ hạnh phúc và lẽ phải bằng bất cứ phương tiện
nào, đặc biệt là đối thủ mạnh, nguy hiểm hơn, có thế lực hơn. Truyện cổ tích với
nhân vật chức năng định trước như vậy đã dẫn tới sự phát triển dập khuôn trong
tình yêu và căm ghét, trong chiến công và đau khổ, trong trung thành và phản
bội đã làm đậm đặc nội dung và đặc điểm giáo huấn trong truyện cổ tích.
Không gian của truyện có thể chia thành những loại: không gian cụ thể,
không gian hiện thực, không gian thần kì, không gian trừu tượng. Không gian
trong truyện cổ tích được quan niệm để diễn tả phù hợp với thế giới quan cổ
tích. Một thế giới quan phong phú, phức tạp và đầy mâu thuẫn, vừa cụ thể, vừa
mơ hồ chỉ mang tính chất tượng trưng. Không gian trừu tượng là sản phẩm của
sự sáng tạo, tác giả phản ánh một cách thẩm mỹ những dấu hiệu trìu tượng của
không gian vật lí. Mô típ mở đầu: ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ… đã đưa
người nghe vào một không gian kì ảo, không xác định, phiếm chỉ, ước lệ. Không

vị tha vô hạn. Đó là một thứ tình thương dành cho những người đồng cảnh ngộ.
Ta có thể hiểu vì sao cô Tấm chỉ đến ở với bà lão trong hàng nước cô đơn, vì
sao Sọ Dừa lại đầu thai vào một nhà nghèo khổ, cô gái nhỏ giấu cơm đưa cho
ông lão qua đường mà được ban thưởng sắc đẹp, chàng nông dân cứu giúp con
chó, con mèo mà được giúp đỡ trở nên giàu có, người nông dân là có thực
nhưng anh ta có thể phục sinh người chết bằng cách cho ăn lá cây đa thần là yếu
tố kì ảo… Chính những yếu tố đó làm cho truyện cổ tích có sức hấp dẫn kì lạ đối
với trẻ thơ. Như vậy, có thể nói nghe kể chuyện là một nhu cầu thực sự của trẻ
em. Dường như trong mỗi em bé có cái mà ta có thể gọi đó là nhu cầu “bản
năng” về sự huyền diệu và kì lạ. Mà điều này truyện cổ tích có thể thỏa mãn cái
nhu cầu rất tự nhiên và cũng rất khẩn thiết đó của trẻ thơ bởi những yếu tố kì ảo,
thần diệu của nó.
Lứa tuổi mẫu giáo 5 – 6 tuổi là một giai đoạn phát triển phức tạp và có vị
trí đặc biệt quan trọng trong đời sống của trẻ. Cùng với sự hoàn thiện dần về thể
chất, trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi còn có những đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt, tư
duy hình tượng cụ thể chiếm ưu thế, giàu cảm xúc, thích tìm tòi khám phá ham
hiểu biết. Nhân cách của trẻ đang trong giai đoạn phát triển và chịu sự chi phối
tác động của nhiều yếu tố, trẻ dễ bắt chước. Việc in những dấu ấn đầu tiên về cái
đẹp vào tâm trí trẻ có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành những cảm xúc và
quan niệm thẩm mỹ, lòng nhân ái của các trẻ sau này. Chính lẽ đó mà truyện cổ
tích đã trở thành một phương tiện giáo dục rất hiệu nghiệm đối với trẻ thơ. Mỗi
câu chuyện là một bài học sống động về những phẩm chất đạo đức, về cách xử

17
trí tinh khôn cần có để giúp trẻ biết sống đẹp với đời. Biết ứng xử tốt với những
người xung quanh và nhiều khi còn giúp trẻ cảm nhận một cách nhạy bén đối
với cái thiêng liêng nhất, cao đẹp nhất trong tình cảm con người như: người mẹ
vì thương nhớ con mà ốm đến chết, vậy mà khi chết đi rồi bà vẫn hoá thành cây
vú sữa chắt những giọt sữa tinh khiết nhất của mình cho con “Sự tích cây vú
sữa”. Hay cô bé đã không quản đường xa, giá rét đi tìm bông hoa cúc trắng đem

18
Hơn nữa truyện cổ tích còn có chức năng cơ bản nữa đó là giải trí. Khi tiếp
xúc với truyện cổ tích trẻ hòa mình vào với thế giới của truyện. Nghĩa là trẻ tự
vận động, suy nghĩ, tưởng tượng hay tự do hiện thực hóa ước mơ, khát khao của
mình. Đó là cơ sở, là tiền đề cho những sáng tạo bất ngờ của trẻ. Những sáng tạo
ấy tuy mang đậm dấu ấn con người nhưng lại thỏa mãn nhu cầu tưởng tượng,
khám phá của trẻ. Khiến trẻ say mê, thích thú khám phá thế giới từ đó tích lũy tri
thức cho mình góp phần hoàn thiện nhân cách trẻ.
Tóm lại, vai trò của truyện cổ tích có tác động mạnh mẽ trong việc bồi
dưỡng tâm hồn trẻ thơ, đem đến cho trẻ những ước mơ bay bổng, những xúc
cảm thẩm mĩ về một thế giới huyền ảo, kích thích và phát triển trí tưởng tượng
của các em, mở cánh cửa sổ cho tâm hồn các em hướng vào những ước mơ đẹp
đẽ. Kích thích những khát vọng của các em muốn hiểu biết, muốn vươn lên
những tầm cao của tư tưởng, tình cảm và trí tuệ sau này. Những kinh nghiệm
được chuyển vào thế giới mơ tưởng về một sự công bằng và tô đẹp theo những
chân lí giản dị, hồn nhiên. Với những đặc trưng về ngôn ngữ, không gian, thời
gian truyện cổ tích đã phản ánh tư duy của con người ở giai đoạn ấu thơ, muốn
biết tất cả nhưng lại bằng lòng với những giải đáp vô căn cứ chỉ dựa vào cảm
xúc. Thế giới ấy là thế giới mà con người làm ra bằng trí tưởng tượng hoang
đường để tự thỏa mãn. Thế giới ấy mãi hấp dẫn con trẻ vì nó thể hiện những tư
tưởng rõ ràng, sáng tỏ, phác họa những nhân vật ưu tú hoạt động trong môi
trường đầy kịch tính. Nó mang lại nhiều màu sắc xúc cảm đậm đặc, một môi
trường giàu ý nghĩa giáo huấn. Như vậy, có thể nói truyện cổ tích là một phương
tiện giáo dục trẻ toàn diện, hiệu quả.
1.4. Đặc điểm tâm lí trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi đối với việc lựa chọn truyện cổ
tích để giáo dục đạo đức
Việc tiếp nhận truyện cổ tích của trẻ mẫu giáo lớn 5 – 6 là một quá trình
tâm lý, đặc biệt là sự tác động qua lại giữa nhận thức và cảm xúc. Quá trình đó
được biểu hiện cụ thể như sau:
Chú ý: sự phát triển của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trên nền tảng của tính chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status