BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ HƯƠNG HÌNH THÀNH KỸ NĂNG GIAO TIẾP
THÔNG QUA GIỜ ĐÓNG KỊCH CHUYỂN THỂ TỪ
TÁC PHẨM VĂN HỌC CHO TRẺ 4 ĐẾN 5 TUỔI
TRƯỜNG MẦM NON HOA QUỲNH
CHIỀNG BÔM - THUẬN CHÂU - SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tận tình cho em trong quá trình thực hiện
đề tài này.
Em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Phòng Đào Tạo, các thầy,
cô giáo khoa Tiểu học – Mầm non, thư viện trường Đại học Tây Bắc, các ban
ngành chức năng và tập thể lớp K50 Đại học giáo dục Mầm non.
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban giám hiệu trường
Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La đã tận tình giúp
đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Với nội dung khóa luận này em rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp của thầy cô và các bạn!
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và các bạn!
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện Nguyễn Thị Hương
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
GD – ĐT Giáo dục và đào tạo
GT Giao tiếp
GV Giáo viên
KNGT Kỹ năng giao tiếp
MGB Mẫu giáo bé
MGL Mẫu giáo lớn
MGN Mẫu giáo nhỡ
NXB Nhà xuất bản
TPVH Tác phẩm văn học
% Phần trăm
1.2.2.2. Các hình thái đặc điểm của kỹ năng giao tiếp 14
1.2.2.3. Sự hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 4 đến 5 tuổi 15
1.2.2.4. Tác phẩm văn học và sự hình thành kỹ năng giao tiếp 17
1.2.3. Đặc điểm tiếp nhận văn học của trẻ 18
1.2.4. Giờ đóng kịch với sự hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 20
1.2.4.1. Đặc điểm của giờ đóng kịch 20
1.2.4.2. Giờ đóng kịch được chuyển thể từ tác phẩm văn học 20
1.2.4.3. Giờ đóng kịch được chuyển thể từ tác phẩm văn học với sự hình thành
kỹ năng giao tiếp cho trẻ 22
TIỂU KẾT 25
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON HOA
QUỲNH CHIỀNG BÔM – THUẬN CHÂU – SƠN LA 26
2.1. Khảo sát thực trạng dạy học 26
2.1.1. Mục đích khảo sát 26
2.1.2. Thời gian khảo sát 26
2.1.3. Phương pháp khảo sát 26
2.1.4. Thực trạng hoạt động dạy học của trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng
Bôm – Thuận Châu – Sơn La 26
2.1.5. Thực trạng học tập của trẻ 29
2.1.6. Xây dựng các tiêu chí đánh giá việc trẻ 4 đến 5 tuổi đóng kịch theo cốt
truyện 30
TIỂU KẾT 32
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH KỸ NĂNG GIAO TIẾP
THÔNG QUA GIỜ ĐÓNG KỊCH CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM VĂN
HỌC CHO TRẺ 4 ĐẾN 5 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON HOA QUỲNH
CHIỀNG BÔM - THUẬN CHÂU - SƠN LA 33
3.1. Lựa chọn tác phẩm văn học để chuyển thể thành kịch bản 33
3.2. Cách thức chuyển thể các tác phẩm văn học sang kịch bản 34
3.3. Hướng dẫn trẻ nắm vững cốt truyện và nội dung thơ theo vai 37
Đại hội Đảng khóa IX đã xác định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,
phát triển giáo dục – đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người”. Hiện nay, giáo dục đã trở thành mối quan tâm của toàn
xã hội. Trong đó, giáo dục mầm non có một vị trí rất quan trọng, là bậc đầu tiên
trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển
nhân cách con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
“Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”. Trẻ em tuổi mầm non của ngày
hôm nay sẽ trở thành người lao động, người công dân thực sự của đất nước,
nhưng việc đào tạo con người mới ấy lại phải được bắt đầu ngay từ thuở lọt
lòng. Giáo dục mầm non có nhiệm vụ xây dựng những cơ sở ban đầu, đặt nền
móng cho sự phát triển toàn diện nói chung và việc hình thành KNGT của con
người nói riêng. Môn “Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học”
có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển toàn diện cho trẻ
đồng thời nó lại là phương tiện hiệu quả giúp trẻ hình thành KNGT. Để đạt được
mục đích và nhiệm vụ ấy, việc cho trẻ tiếp xúc với các TPVH, những câu
chuyện, bài thơ và đặc biệt là những trò chơi để hình thành, củng cố, rèn luyện
và phát triển cho trẻ vốn hiểu biết, tích lũy kinh nghiệm sống. Nhằm giúp trẻ
mạnh dạn, tự tin sau bậc học mầm non có thể bước vào lớp 1 một cách thuận lợi.
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội. Nếu không có GT với
người khác thì con người không thể phát triển, cảm thấy cô đơn và có khi trở
thành bệnh hoạn. Nếu không có GT thì không có sự tồn tại xã hội, vì xã hội luôn
là một cộng đồng người có sự ràng buộc, liên kết với nhau. Qua GT chúng ta có
thể xác định được các mức độ nhu cầu, tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh
nghiệm… của đối tượng GT, nhờ đó mà chủ thể GT đáp ứng kịp thời, phù hợp
với mục đích và nhiệm vụ GT. Từ đó tạo thành các hình thức GT giữa cá nhân
với cá nhân, giữa cá nhân với nhóm, giữa nhóm với nhóm hoặc giữa nhóm với
cộng đồng. GT giúp con người truyền đạt kinh nghiệm, thuyết phục, kích thích
đối tượng giao tiếp hoạt động, giải quyết các vấn đề trong học tập, sản xuất kinh
doanh, thỏa mãn những nhu cầu hứng thú, cảm xúc tạo ra.
sau: “Nếu từ đứa trẻ 5 tuổi đến người lớn, khoảng cách chỉ là một bước đi thì từ
đứa trẻ sơ sinh tới 5 tuổi là một khoảng cách dài kinh khủng”[3,Tr 337]. Đây
chính là chặng đường phát triển đầu tiên, là buổi bình minh của cuộc đời với
nhịp độ phát triển cực nhanh. Nhịp độ phát triển đó không bao giờ còn thấy
được trong những năm về sau.
Ví dụ: Về mặt trí tuệ, những thành tựu khoa học nghiên cứu về trẻ em cho
thấy: có tới 50% sự phát triển trí tuệ của con người được diễn ra trong lứa tuổi
từ bào thai đến 4 tuổi, từ 4 tuổi đến 8 tuổi đạt được 30% nữa và tiếp tục hoàn
thiện đến tuổi trưởng thành, nhưng tốc độ chậm dần sau 18 tuổi (Phạm Mai Chi,
3
“Thông tin khoa học giáo dục” số 20/1990). Đến 6 tuổi bộ não của trẻ đạt 90%
trọng lượng não của người trưởng thành.
Tuổi mầm non cũng là thời kỳ trẻ rất nhạy cảm với mọi tác động bên
ngoài, những nét tính cách cơ bản trong nhân phẩm trẻ được hình thành chính
trong thời kỳ này và để lại dấu ấn suốt cuộc đời. Nhà giáo dục Nga Usinsky đã
nói: “Tính tình của con người hình thành chính trong những năm thơ ấu…”.
Hay Crupxkaia có nêu: “Những cảm giác đầu tiên thời thơ ấu để lại dấu vết suốt
đời”. Những điều này tiếp tục nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của giáo dục
mầm non.
Trong những năm gần đây, Bộ GD – ĐT đã có nhiều chương trình nhằm
nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường như: phát động phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, đưa nội dung giáo dục kỹ
năng sống lồng ghép vào các môn học ở bậc tiểu học Đây là một trong những
giải pháp giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách, cũng như giáo dục
học sinh một cách toàn diện.
Văn hoá ứng xử của con người nói chung, của trẻ mầm non nói riêng
đang là vấn đề được các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, các
nhà trường, gia đình và xã hội quan tâm. Đây cũng là vấn đề được dư luận
xã hội và các cơ quan báo chí đề cập tới khá nhiều trong thời gian gần đây.
Do đó việc hướng dẫn, hình thành và phát triển cho trẻ nhỏ ngay từ lứa
tuổi mầm non về các kỹ năng sống nói chung và KNGT nói riêng là rất quan
trọng.
Xác định rõ được vai trò, tầm quan trọng của việc hình thành KNGT cho
trẻ, cùng với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi mầm non “học bằng chơi, chơi
mà học”. Việc lựa chọn phương tiện trung gian để đưa tri thức, kỹ năng… tới
cho trẻ một cách nhẹ nhàng, thoải mái, phù hợp và hiệu quả là rất quan trọng. Từ
lâu, người ta đã nhận thấy, văn học là nguồn suối không cạn của tri thức, là kinh
nghiệm sống mà con người cần tiếp thu và phát triển. Người ta cũng thấy rõ vị
trí, sức mạnh riêng của TPVH trong sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục
trẻ mầm non nói riêng. Nó trở thành nội dung và phương tiện hữu hiệu để giáo
dục trẻ. Nhà nghiên cứu và phê bình Nga lỗi lạc V.G Bielinxki đã từng nói:
“Một tác phẩm viết cho thiếu nhi là để giáo dục mà giáo dục là một sự nghiệp vĩ
đại vì nó quyết định số phận con người” (V.G.Bielinxki toàn tập, tập IV,
Mátxcơva, NXB Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, 1954, trang 79). Với trẻ lứa
tuổi mầm non “học bằng chơi, chơi mà học”, như vậy giờ đóng kịch chuyển thể
từ các TPVH là phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi mầm non và có khả
năng tạo hứng thú lớn cho trẻ.
Giờ đóng kịch dựa theo các TPVH là một trong những hình thức hoạt
động cho trẻ làm quen với các TPVH, là nội dung hoạt động vui chơi trong
trường mầm non. Tuy nhìn vào chỉ là một trò chơi nhưng không đơn thuần chỉ là
vậy mà nó còn là hoạt động mang tính nghệ thuật. Giúp trẻ rèn luyện rất nhiều
kỹ năng trong học tập và cuộc sống, lại vừa là trò chơi. Chính điều này giúp kích
thích trẻ có hứng thú tham gia hoạt động… ở đây trẻ sẽ bộc lộ, phát huy được
nhiều thế mạnh của bản thân.
5
Hiện nay, ở một số trường mầm non, giờ đóng kịch theo các tác phẩm văn
học chưa được quan tâm đúng mức hoặc tổ chức còn nhiều hạn chế. Giáo viên
mầm non chưa thực sự nhận thức được vai trò, tầm quan trọng, ý nghĩa đặc biệt
hình thành và phát triển nhân cách của trẻ 5 đến 6 tuổi thông qua trò chơi đóng
kịch theo tác phẩm văn học” của tác giả Lưu Hồng Nhung, khóa luận “Hướng
dẫn trẻ 5 đến 6 tuổi trường mầm non Thảo Nguyên Mộc Châu – Sơn La đóng
6
kịch theo cốt truyện nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ” của tác giả Nguyễn Thị
Thủy và còn rất nhiều những công trình khác nữa . Ở những công trình này,
theo những mục đích nghiên cứu khác nhau, chúng tôi nhận thấy các tác giả chủ
yếu quan tâm đến những vấn đề khái quát về giờ đóng kịch hoặc vai trò của
đóng kịch tới sự hình thành và phát triển nhân cách, đóng kịch với đời sống tinh
thần, đóng kịch với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em chứ chưa đi sâu nghiên
cứu tác động đặc biệt của giờ đóng kịch đối với việc hình thành KNGT cho trẻ
lứa tuổi mầm non.
Xuất phát từ thực tế đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hình thành kỹ năng
giao tiếp thông qua giờ đóng kịch chuyển thể từ tác phẩm văn học cho trẻ 4 đến 5
tuổi trường mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La”.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của các môn khoa học liên quan đến đề tài: Tâm lý
học, Giáo dục học, Văn học… và xuất phát từ tình hình thực tế về giờ đóng kịch
chuyển thể từ các TPVH với việc hình thành KNGT cho trẻ ở lứa tuổi 4 đến 5
tuổi, tôi tiến hành nghiên cứu và xây dựng một số biện pháp nâng cao hiệu quả
việc hình thành KNGT cho trẻ 4 đến 5 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng
Bôm – Thuận Châu – Sơn La qua giờ đóng kịch chuyển thể từ TPVH.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu lý luận: đọc tài liệu, tổng hợp, phân tích các tài liệu có liên
quan tới cơ sở lý luận.
Nghiên cứu cơ sở thực tiễn: điều tra thực tiễn việc tổ chức giờ đóng kịch
chuyển thể từ các TPVH ở trường mầm non. Điều tra trình độ nhận thức cũng
như sự đánh giá và thực hiện của giáo viên mầm non về vai trò, ý nghĩa và tầm
quan trọng của giờ đóng kịch chuyển từ các TPVH tới sự hình thành KNGT của
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát.
Khảo sát hoạt động dạy và học ở độ tuổi 4 đến 5 tuổi tại trường Mầm non
Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La.
Phỏng vấn, trao đổi với giáo viên, phụ huynh, học sinh.
Sử dụng phiếu điều tra.
Phân tích, tổng hợp.
6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng các phương pháp đã đề xuất tác động đến trẻ nhóm thực nghiệm.
Dùng phương pháp thống kê xử lý các số liệu đã thu được 8
7. Giả thuyết khoa học
Thực tế giáo viên mầm non đã nhận thức được ý nghĩa, vai trò tầm quan
trọng của giờ đóng kịch chuyển thể từ TPVH đối với việc hình thành KNGT cho
trẻ 4 đến 5 tuổi. Tuy nhiên việc lựa chọn, tổ chức, thực hiện hoạt động còn gặp
khó khăn chưa đạt được hiệu quả cao trong hoạt động. Nếu khóa luận đề xuất
được những biện pháp phù hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của giờ đóng
kịch dựa vào TPVH về việc hình thành KNGT cho trẻ 4 đến 5 tuổi, đa số trẻ là
người dân tộc thiểu số góp phần nâng cao chất lượng dạy học mầm non tại
trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La nói riêng và
hoàn thiện nhân cách trẻ nói chung.
8. Những đóng góp của khóa luận
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến sự hình
thành KNGT cho trẻ 4 dến 5 tuổi.
Tìm hiểu thực trạng việc tổ chức các giờ đóng kịch dựa theo TPVH nhằm
hình thành KNGT cho trẻ 4 đến 5 tuổi tại trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng
Bôm – Thuận Châu – Sơn La.
Đề tài hoàn thành sẽ được lưu trữ tại thư viện trường Đại học Tây Bắc, là
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 4 đến 5 tuổi
Trẻ em là đối tượng được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu,
các nhà tâm lý học cũng đã khẳng định nhịp độ phát triển của tuổi mầm non là
rất cao so với các độ tuổi sau này. Ở tuổi mầm non và đặc biệt là tuổi mẫu giáo,
sự tích lũy tri thức diễn ra rất mạnh, ngôn ngữ được hình thành, các quá trình
nhận thức được hoàn thiện, trẻ nắm được các phương pháp đơn giản của hoạt
động trí tuệ. Đây là giai đoạn trẻ cần được sự giáo dục – xã hội hóa một cách
tích cực. Giai đoạn này được chia làm hai thời điểm: tuổi nhà trẻ từ 1 – 3 tuổi,
tuổi mẫu giáo từ 3 – 5 tuổi. Đặc biệt trẻ 4 đến 5 tuổi, đây là độ tuổi MGN, là giai
đoạn “hoàn thiện hoạt động vui chơi và hình thành – xã hội trẻ em”. Khi trẻ
bước sang độ tuổi này, hoạt động vui chơi không chỉ là phát triển mạnh như lứa
tuổi MGB nữa mà nó đã đạt tới dạng chính thức. Chính trẻ trưởng thành được là
nhờ trò chơi, đó là điều mà các nhà giáo dục cần thấu hiểu.
Suốt cả cuộc đời, từ trẻ tới già, ở độ tuổi nào con người cũng đều tham gia
vào hoạt động vui chơi, nhưng chỉ ở tuổi mẫu giáo mà ở chính giữa cái tuổi ấy
(4 đến 5 tuổi) thì hoạt động vui chơi mới mang đầy đủ ý nghĩa của nó nhất, cũng
tức là nó đạt tới dạng chính thức và biểu hiện đầy đủ nhất đặc điểm của hoạt
động vui chơi, nhiều hơn cả là trò chơi đóng vai theo chủ đề, hay trò chơi đóng
kịch, đặc biệt là đóng kịch dựa theo TPVH. Có thể nói rằng hoạt động vui chơi ở
lứa tuổi MGN đang phát triển tới mức hoàn thiện. Ở lứa tuổi này, trong hoạt
động vui chơi trẻ đã thể hiện rõ rệt tính tự lực, tự do và chủ động. Ở độ tuổi này
cũng chính là thời kỳ mà kiểu tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh nhất.
Tuy nhiên nó chưa thể tách rời những hoạt động vật chất và hoạt động thực tiễn
của trẻ (vì đây là nguyên tắc cơ bản của hoạt động con người).
Trong lứa tuổi ấu thơ, tình cảm là lĩnh vực thống trị tất cả các mặt hoạt
động tâm lý của đứa trẻ. Đặc biệt ở tuổi MGN (4 đến 5 tuổi) thì đời sống tình
cảm của trẻ có một bước chuyển biến mạnh mẽ, vừa phong phú vừa sâu sắc hơn
so với độ tuổi trước đó. Ở độ tuổi này quan hệ của trẻ với những người xung
quanh được mở rộng ra một cách đáng kể, do đó tình cảm của trẻ cũng được
tưởng về GT được đề cập đến từ thời cổ đại qua thời kỳ phục hưng và đến giữa
thế kỷ XX thì hình thành nên một chuyên ngành Tâm lý học giao tiếp. Ngay từ
khi còn là các tư tưởng về GT đến khi xuất hiện Tâm lý học giao tiếp thì khái
niệm, bản chất GT chưa bao giờ được thống nhất hoàn toàn. Mỗi tác giả mới chỉ
đề cập đến một mặt, một khía cạnh của hoạt động GT.
Tuy mới hình thành mấy chục năm gần đây nhưng trong chuyên ngành
Tâm lý học đã có nhiều ý kiến, quan điểm, thậm chí trái ngược nhau về GT. Khi
tìm hiểu khám phá bản chất GT các nhà Tâm lý học trong nước và ngoài nước
đã có các quan điểm làm sáng tỏ về GT:
* Trên thế giới
Nhà tâm lý học người Mỹ Osgood C.E cho rằng GT bao gồm các hành
động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin. Theo
12
ông, GT là một quá trình hai mặt: liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau. Tuy nhiên
ông chưa đưa ra được nội hàm cụ thể của liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau. Sau
ông, nhà tâm lý học người Anh M.Argyle đã mô tả quá trình ảnh hưởng lẫn
nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau. Ông coi GT thông tin mà nó được
biểu hiện bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ giống với việc tiếp xúc
thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại về mặt vật lý và
chuyển dịch không gian. Đồng thời, nhà tâm lý học Mỹ T.Sibutanhi cũng làm
rõ khái niệm liên lạc như là một hoạt động mà nó chế định sự phối hợp lẫn
nhau và sự thích ứng hành vi của các cá thể tham gia vào quá trình GT hay
như là sự trao đổi hoạt động đảm bảo cho sự giúp đỡ lẫn nhau và phối hợp
hành động. Ông viết: “Liên lạc trước hết là phương pháp hoạt động làm giản
đơn hoá sự thích ứng hành vi lẫn nhau của con người. Những cử chỉ và âm
điệu khác nhau trở thành liên lạc khi con người sử dụng vào các tình thế tác
động qua lại”.
Các tác giả trên mới chỉ dừng lại ở sự mô tả bề ngoài của hiện tượng
GT. Cũng có nhiều ý kiến phản đối những cách hiểu trên, chẳng hạn như nhà
thông điệp được nguồn phát mà người nhận phải giải mã, cả hai bên đều vận
dụng một mã chung.
Theo “Tâm lý học đại cương” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên). GT là
quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích nhận thức,
thông qua sự trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnh hưởng tác động
qua lại lẫn nhau.
Theo “Tâm lý học xã hội” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên). GT là sự
tiếp xúc trao đổi thông tin giữa người với người thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, tư
thế, trang phục…
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về GT, mỗi tác giả tuỳ theo
phương diện nghiên cứu của mình đã rút ra một định nghĩa GT theo cách riêng
và làm nổi bật khía cạnh nào đó. Tuy vậy, số đông các tác giả đều hiểu GT là sự
tiếp xúc tâm lý giữa người với người nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng tình
cảm GT là phương thức tồn tại của con người.
Nói tóm lại, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về GT và như vậy
dẫn đến rất nhiều phương pháp tiếp cận, nghiên cứu các vấn đề về GT. Các
quan điểm trên đây còn nhiều điểm khác nhau nhưng đã phần nào phác họa
nên diện mạo bề ngoài của GT. Giao tiếp và hoạt động không tồn tại song
song hay tồn tại độc lập, mà chúng tồn tại thống nhất, chúng là hai mặt của sự
tồn tại xã hội của con người. GT được coi như: quá trình trao đổi thông tin;
sự tác động qua lại giữa người với người; sự tri giác con người bởi con người.
1.2.1.2. Hình thành giao tiếp
Từ khi mới sinh ra đứa trẻ dần dần lĩnh hội kinh nghiệm xã hội thông qua GT
xúc cảm với người lớn, qua đồ chơi và đồ vật xung quanh nó, qua ngôn ngữ…
Nghiên cứu của M.I.Lixinna và các nhà khoa học khác chứng minh
rằng đặc điểm GT của trẻ với người lớn và bạn cùng tuổi được thay đổi và phức
tạp dần trong suốt thời kì thơ ấu. Sự phát triển GT, sự phức tạp hoá và làm giàu
14
hình thức GT tạo nên những khả năng mới cho đứa trẻ tiếp thu kiến thức và
báo cáo gửi thư
15
Mặc dù có nhiều định nghĩa quan niệm khác nhau về KNGT nhưng nói
chung mọi người đều cho rằng GT là phải xây dựng bản thông điệp và gửi đi với
hi vọng người nhận sẽ hiểu được thông điệp đó, từ những lý do trên chúng ta có
thể dùng những KNGT phù hợp trong từng hoàn cảnh để có hiệu quả nhất. Có 4
hình thức trong KNGT.
Giao tiếp với chính bản thân: tự đưa ra thông tin, tự cảm nhận (suy ngẫm)
và cải thiện bản thân.
Giao tiếp nhân cách giữa cá nhân với cá nhân trong công việc cũng như
trong tình cảm, đời sống.
Giao tiếp giữa các cá nhân trong một nhóm.
Giao tiếp giữa các nhóm với nhau để hoàn thành công việc chung của tổ chức.
1.2.2.3. Sự hình thành kỹ năng giao tiếp cho trẻ 4 đến 5 tuổi
Giao tiếp là một nhu cầu không thể thiếu của mỗi con người, nhờ có
KNGT mà con người có thể chung sống và hòa nhập trong một xã hội không
ngừng biến đổi. Vì vậy để thực hiện các mục tiêu giáo dục thì điều cần thiết là
phải hình thành và phát triển ở các em KNGT. Dạy cho học sinh biết cách GT
có hiệu quả, chính là dạy cho các em biết cách nhận thức đúng đắn về mình,
nhận biết về đối tượng GT, biết cách tiếp cận với đối tượng GT và biết bày tỏ
thái độ, quan điểm của mình bằng lời nói cử chỉ, điệu bộ, nét mặt và bằng cả
những việc làm khi cần thiết. KNGT giúp cho học sinh biết cách giải quyết
những tình huống trong cuộc sống hàng ngày, giúp các em nói những điều muốn
nói, làm những việc nên làm, đồng thời biết lắng nghe và thấu hiểu người khác.
Đây là một nội dung vô cùng quan trọng trong giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh trong bối cảnh hiện nay. KNGT không tồn tại độc lập mà nó có quan hệ mật
thiết với kỹ năng tự nhận thức và các kỹ năng khác.
Con người là một sinh vật xã hội, ngay từ khi sinh ra, con người đã có nhu
cầu liên lạc, GT và ứng xử với môi trường và những người xung quanh để phát
triển rất nhanh. Trẻ học rất nhanh, nhớ mọi thứ, nhận ra mọi sự thay đổi.
Trẻ 4 đến 5 tuổi cũng thích chơi trò đóng vai các nhân vật khác trong giờ
đóng kịch hay nhân vật ngoài thực tế và ở mức độ công phu dần. Đặc biệt trẻ 5
tuổi hầu hết trẻ ở độ tuổi này rất nghiêm túc muốn học hỏi.
Trẻ bắt đầu lên bốn luôn tràn trề năng lượng, nói luôn miệng và khá tò
mò. Trẻ háo hức muốn thể hiện cho bạn những gì bé làm được và cả bạn lẫn bé
sẽ cùng thấy thú vị, thích thú với những thành quả đạt được của nó. Chúng luôn
muốn thử môi trường xung quanh mình và lúng túng trong các cảm giác giữa an
toàn và bất an. Trẻ cũng có thể là một tên láu cá, kiêu ngạo, thích đặt chuyện và
bạn sẽ phải trải qua các cung bậc thăng trầm của cảm xúc với tuổi này của
chúng, bởi mỗi ngày trôi qua sẽ là một thách thức mới cho trẻ.
Bốn tuổi, bé chưa sẵn sàng để chú ý vào một việc gì đó trong thời gian
quá lâu.
Trẻ em ở độ tuổi này thường rất tự nhiên và chỉ hiểu theo nghĩa đen, do
đó chưa thể nói những lời hoặc những trò đùa có ẩn ý được. Các em thường
17
thích những phim video và sách hình vui, đặc biệt loại sách và phim xuất hiện
những con thú có tính hư cấu hay những người ngờ nghệch.
Với thế giới của trẻ lên 4. Trong suốt năm thứ tư này, bé sẽ tiếp tục hoàn
thiện các kỹ năng cũ đồng thời phát triển các kỹ năng mới. Mọi điều mới lạ đều
làm trẻ hứng thú. Có thể nói trẻ bây giờ đang “dư thừa” trí tò mò và năng lượng.
Trẻ 4 – 5 tuổi có những bước tiến lớn về trí tuệ, trẻ rất tò mò chúng thích
khám phá những điều mới lạ, chúng có thể kiên trì luyện tập để thành thục hơn.
và chúng tin vào những gì chúng nhìn thấy, nghe thấy và chạm tay vào. Vì vậy,
đây chính là thời điểm cung cấp, hình thành KNGT cho trẻ hiệu quả và thích
hợp. Sự hỗ trợ tích cực của giáo viên trong giai đoạn này sẽ giúp trẻ phát triển
KNGT, học hỏi của mình một cách có hiệu quả nhất.
Sự phát triển và hoàn thiện chức năng não bộ liên quan mật thiết tới tốc
độ dẫn truyền thông tin ở tế bào thần kinh, đảm bảo thông tin được truyền đi
nói: “Một tác phẩm viết cho thiếu nhi là để giáo dục mà giáo dục là một sự
nghiệp vĩ đại vì nó quyết định số phận con người”. (V.G Bielinxki toàn tập, Tập
IV, Mátxcơva, NXB Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, 1954, trang 79).
1.2.3. Đặc điểm tiếp nhận văn học của trẻ
Văn học là một loại hình nghệ thuật mà trẻ thơ được tiếp xúc rất sớm
ngay từ tuổi ấu thơ trẻ đã được làm quen với các giai điệu nhẹ nhàng – tha thiết
qua những lời hát ru, được nghe những câu chuyện cổ tích ly kỳ – hấp hẫn đầy
tình thương yêu và lòng nhân ái. Văn học trở thành phương tiện hữu hiệu để
giáo dục cho trẻ một cách toàn diện. Nhưng để văn học thực sự phát huy hết vai
trò đối với trẻ, trước tiên giáo viên cần nắm bắt được đặc điểm tiếp nhận TPVH
của trẻ, có như vậy giáo viên mới biết sử dụng chúng và định hướng trẻ tri giác
TPVH đạt hiệu quả mong muốn.
Trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi chưa biết đọc nên trẻ chưa tự mình tiếp xúc trực
tiếp với TPVH, nên việc nắm bắt tác phẩm ở trẻ dường như phụ thuộc vào cô
giáo. Cô giáo dẫn dắt trẻ làm quen với các TPVH không chỉ dừng lại ở việc đọc,
kể mà còn bao gồm cả việc dạy cho trẻ kể lại truyện một cách diễn cảm, sáng
tạo và đóng vai các nhân vật trong truyện (đóng kịch).
Sự tiếp nhận văn học của trẻ có những đặc điểm sau:
* Tiếp nhận gián tiếp
Trẻ mầm non chưa biết đọc cho nên chúng tiếp nhận các thể loại văn học
nghệ thuật thông qua khâu trung gian là giáo viên. Với tư cách là người trực tiếp
đọc tác phẩm rồi đọc, kể lại một cách trung thành với nội dung văn bản. Do đặc
điểm tiếp nhận gián tiếp này, trẻ thiếu đi tính chủ động, giảm trừ đáng kể khả
năng trực cảm, trực giác dựa trên sự phối hợp và hòa quyện giữa các cơ quan
cảm thụ. Như vậy việc đọc, kể các TPVH một cách diễn cảm, sáng tạo, sống
động của giáo viên ở trên lớp có ảnh hưởng rất lớn đến sự cảm thụ văn học
nghệ thuật và việc thể hiện lại tác phẩm của trẻ.
* Tiếp nhận văn học của trẻ mang tính tập thể