Nâng cao khả năng sử dụng các phương tiện giáo dục thể chất trong tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ 5 6 tuổi trường mầm non đại thịnh mê linh - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGÔ THỊ TUYẾT

NÂNG CAO KHẢ NĂNG SỬ DỤNG
CÁC PHƯƠNG TIỆN GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
THỂ CHẤT CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRƯỜNG
MẦM NON ĐẠI THỊNH - MÊ LINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Người hướng dẫn khoa học

Th.S NGUYỄN THỊ HÀ

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Ngô Thị Tuyết
Sinh viên: Lớp k37a – GDMN trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan đề tài “Nâng cao khả năng sử dụng các phương tiện giáo
dục thể chất trong tổ chức hoạt động giáo dục thể chất cho trẻ 5-6 tuổi
trường mầm non Đại Thịnh - Mê Linh” là kết quả quá trình nghiên cứu, tìm
tòi, học hỏi của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thị Hà.
Những kết quả nghiên cứu trong khoá luận chưa từng được công bố tại bất cứ
công trình nghiên cứu nào.


: Giáo dục và Đào tạo

GDTC

: Giáo dục thể chất

GVMN

: Giáo viên mầm non

NĐC

: Nhóm đối chứng

NTN

: Nhóm thực nghiệm

SL

: Số lượng

TN

: Thực nghiệm

TCVĐ

: Trò chơi vận động


1.7.3. Bài tập vận động cơ bản của trẻ 5 - 6 tuổi ....................................... 18
1.8. Chế độ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ mầm non ..................................... 18
1.9. Nội dung nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho trẻ mầm non ............ 19
1.9.1. Tổ chức ăn.......................................................................................... 19
1.9.2. Tổ chức ngủ ........................................................................................ 20


1.9.3. Vệ sinh................................................................................................ 20
1.9.4. Chăm sóc sức khỏe và an toàn........................................................... 20
CHƯƠNG 2.
NHIỆM VỤ - PHƯƠNG PHÁP - TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU................. 21
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................ 21
2.2. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 21
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp tài liệu .................................... 21
2.2.2.Phương pháp phỏng vấn ...................................................................... 21
2.2.3.Phương pháp quan sát sư phạm........................................................... 21
2.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.................................................... 22
2.2.5. Phương pháp toán học thống kê ......................................................... 22
2.3. Tổ chức nghiên cứu ............................................................................... 23
2.3.1. Thời gian nghiên cứu .......................................................................... 23
2.3.2. Đối tượng nghiên cứu ......................................................................... 25
2.3.3. Địa điểm nghiên cứu........................................................................... 25
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................. 26
3.1. Đánh giá thực trạng sử dụng các phương tiện GDTC trong tổ chức hoạt
động GDTC cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh - Mê Linh .......... 26
3.1.1.Đánh giá thực trạng về cơ sở vật chất trường mầm non Đại Thịnh - Mê
Linh .............................................................................................................. 26
3.1.2. Thực trạng về công tác quản lý và trình độ nhận thức của đội ngũ
GVMN về việc sử dụng các phương tiện GDTC ........................................... 27
3.1.3. Thực trạng về việc tổ chức dạy học GDTC cho trẻ 5 - 6 tuổi trường


19

sóc - giáo dục trẻ của Bộ GD&ĐT
Bảng 3.1

Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra, quản lí và chỉ đạo

27

trong trường mầm non Đại Thịnh (n=20)
Bảng 3.2

Kết quả phỏng vấn trình độ nhận thức của giáo viên về

28

việc sử dụng các phương tiện GDTC tại trường mầm non
Đại Thịnh (n=20)
Bảng 3.3

Kết quả phỏng vấn về mức độ cần thiết trong việc tổ chức

29

hoạt động GDTC cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Đại
Thịnh (n=20)
Bảng 3.4

Bảng phỏng vấn lựa chọn các biện pháp nâng cao khả


=15)

Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm ĐC và TN
(

=

41

=15)

42


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta đang chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ văn minh. Nghị quyết lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VII đã nêu “Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất,
phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây
dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội” [2]. Mục đích
này mang tính khách quan vì nó phản ánh được yêu cầu có tính quy luật của
xã hội là: Con người cần phải được chuẩn bị đầy đủ về các mặt tinh thần và
thể chất để có thể tham gia vào các hoạt động của xã hội. Để đạt được những
mục đích đó, lứa tuổi mầm non là mầm mống tương lai của đất nước cần phải
giáo dục và có chương trình giáo dục cụ thể.Vì vậy, hiện nay giáo dục trở
thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội.Trong đó, GDMN chiếm một vị
trí rất quan trọng.

vật như đi, chạy, nhảy,… Với lập luận này, trên thực tế họ đã phủ nhận vai trò
của lao động và tư duy - một hiện tượng mới về chất đã làm cho con người
khác biệt với các loài vật. Theo họ, thực tiễn của hình thức giáo dục này nhằm
thỏa mãn những yêu cầu bản năng nào đó và hầu như không có liên quan gì
đến xã hội. Do đó, họ đã phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa xã hội và giáo
dục và cả nội dung của giáo dục.
- Các nhà lý luận giáo dục duy vật cho rằng: GDTC là một hiện tượng xã
hội - là phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồng
thời tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người. Họ khẳng
định rằng, chỉ khi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể chất nhằm
phát triển cơ thể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động nhất định thì
lúc đó mới có GDTC thật sự.
Trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc các quy luật khách quan của sự
phát triển xã hội, C.Mác và Ănghen đã chứng minh sự phụ thuộc của giáo dục


3
vào điều kiện vật chất, khám phá bản chất xã hội và giai cấp của giáo dục.
C.Mác nhấn mạnh rằng: “Giáo dục trong tương lai sẽ kết hợp lao động sản
xuất với trí dục và thể dục, đó không những là biện pháp để tăng thêm sức
sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát
triển toàn diện”[3]. Từ những nghiên cứu của mình, ông đã coi GDTC là một
bộ phận hữu cơ của hiện tượng giáo dục, là điều kiện tất yếu đối với việc phát
triển con người một cách toàn diện. GDTC là phương tiện quan trọng để phát
triển thể lực con người và nó phải bắt đầu từ lứa tuổi nhỏ. GDTC cho trẻ là cơ
sở phát triển toàn diện, rèn luyện cơ thể, hình thành những thói quen vận động
cần thiết cho cuộc sống [3].Như vậy, có thể thấy GDTC cho trẻ càng có ý
nghĩa quan trọng hơn.
Hiện nay, GDTC cho trẻ tại trường mầm non Đại Thịnh được tiến hành 1
tiết/tuần với thời lượng 30 - 35 phút, nội dung giờ học GDTC chủ yếu là các

5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Vị trí và vai trò của GDMN
GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống GDQD và là cấp học đặt nền
móng cho sự phát triển về thể chất, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em.
Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình chăm sóc GDMN sẽ là
nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ. Do vậy, phát triển
GDMN, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ là yếu tố quan trọng
trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Theo quan niệm của giáo dục học hiện đại và tiến bộ cho rằng: “Đối với
trẻ càng nhỏ bao nhiêu thì lại càng cần phải đảm bảo sự cân đối giữa nuôi và
dạy bấy nhiêu - 2 yếu tố này ảnh hưởng và tác động qua lại với nhau. Nếu
thiếu hụt một trong hai yếu tố trên đều có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu
cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ”.
Để đảm bảo cho sự tăng trưởng của xã hội mai sau, việc phát triển nhân
tố con người, nguồn lực con người phải tiến hành không ngừng, ngay từ khi
trẻ mới sinh, thậm chí ngay từ khi trẻ còn là bào thai trong bụng mẹ. Đó là ý
nghĩa của việc chăm sóc - giáo dục trẻ.
Nhìn chung, ngành GDMN ở các địa phương trong cả nước đã có những
chuyển biến tích cực: Nhiều trường mầm non đã được xây dựng; tỷ lệ trẻ em
đến lớp tăng; cơ sở trường lớp ngày càng khang trang; đội ngũ GVMN tăng
về số lượng và chất lượng từng bước đã được nâng cao trình độ về chuyên
môn nghiệp vụ.
1.2. Vị trí, vai trò của GVMN trong giáo dục mầm non hiện nay
Đối với GDMN, đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng cốt, biến các mục
tiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả


6

1.3.2.1. Khái niệm phương tiện
Theo từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng đã định nghĩa phương
tiện là cái dùng để làm một việc gì để đạt mục đích nào đó.
Theo định nghĩa trên, chúng ta hiểu rằng trong dạy học nói chung và
trong dạy học GDTC nói riêng thì cái mà chúng ta dùng để tác động vào đối
tượng để đạt mục đích nào đó thì đều gọi là phương tiện.
1.3.2.2. Khái niệm phương tiện GDTC
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ GDTC cho trẻ mầm non, các nhà
giáo dục đã sử dụng các phương tiện GDTC tới việc nâng cao thể chất cho trẻ
nhằm giúp trẻ hoàn thiện về năng lực vận động của mình và giải quyết những
nhiệm vụ GDTC cho trẻ để có những biến đổi về cấu trúc và chức năng sinh
học của cơ thể trẻ.Trong lí luận GDTC phương tiện GDTC bao gồm: Những
yếu tố vệ sinh, các yếu tố thiên nhiên và các bài tập thể chất.
Như vậy, phương tiện GDTC là tổng hợp các yếu tố vệ sinh, yếu tố
thiên nhiên, các BTTC mà người ta sử dụng chúng để tác động tới cơ thể
người tập.
* Yếu tố vệ sinh
Chế độ vệ sinh trong tập luyện cho trẻ mầm non:Chế độ vệ sinh trong
tập luyện thể dục cho trẻ rất rộng, liên quan đến hầu hết nội dung vệ sinh học,
bao gồm: Vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh thân thể, vệ sinh trang phục.
- Vệ sinh dinh dưỡng: Chế độ dinh dưỡng tốt ảnh hưởng trực tiếp đến
sự sống còn, sức khỏe và sự khôn lớn của trẻ, cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng
hợp lí cho trẻ: Ăn chín, uống sôi, đảm bảo đủ chất dinh dưỡng (đạm, mỡ,
đường,vitamin,nước, muối khoáng và các nguyên tố vi lượng). Có giờ ăn,
uống hợp lý.
- Vệ sinh môi trường: Những nơi có thể cho trẻ tập luyện là trong phòng
nhóm, ngoài sân chơi và phòng thể dục.


8

- Không khí: Không khí cung cấp oxy cho trẻ. Không khí có tác dụng rèn
luyện cơ thể, bởi vì sự chênh lệch nhiệt độ cơ thể và môi trường xung quanh
rất lớn, nhất là mùa đông. Không khí trong sạch có chứa các hợp chất đặc
biệt, có khả năng tiêu diệt vi khuẩn, tăng lượng máu nhờ hấp thụ oxy ảnh
hưởng tốt đến sức khỏe.
- Nước: Có tác dụng dùng để ăn uống, sinh hoạt hàng ngày, là phương
tiện để tập luyện (bơi, lặn). Nước còn có tác dụng rửa sạch các vết bẩn ở da,
làm giãn nở và lưu thông mạch máu, tác động cơ học lên cơ thể trẻ. Tắm dội
nước sẽ có tác dụng nâng cao trương lực cơ và thúc đẩy chúng hoạt động tích
cực làm hưng phấn hệ thần linh, gây cảm giác sảng khoái.
* Các bài tập thể chất
Bài tập thể chất hay còn gọi là bài tập thể lực, bài tập vận động, bài tập
thể dục - thể thao.
Bài tập thể chất là phương tiện cơ bản đặc biệt của GDTC. Các bài tập
thể chất cho trẻ mầm non bao gồm: Các bài tập thể dục cơ bản, trò chơi vận
động, kỹ năng vận động cơ bản. Tập luyện các bài tập thể chất vừa góp phần
hoàn thiện các phẩm chất tâm lý của trẻ, vừa cải tiến hoạt động ý thức của
chúng, làm phát triển cảm xúc, ý chí,… của trẻ. Do đó, bài tập thể chất là một
trong những biểu hiện của sự thống nhất giữa hoạt động thể chất và tâm lý
của trẻ.
1.3.3. Khái niệm GDTC
GDTC là một bộ phận hợp thành của văn hóa thể chất bao gồm 3 khuynh
hướng cơ bản của một quá trình sư phạm và một khuynh hướng đặc biệt:
- Chuẩn bị thể lực chung
- Chuẩn bị thể lực nghề nghiệp
- Huấn luyện thể thao
- Điều trị phục hồi thể lực


10

kháng kém nên trẻ dễ mắc các bệnh nguy hiểm. Do vậy, trẻ chỉ có thể phát
triển tốt nếu như người lớn chú ý việc chăm sóc, giữ gìn sức khỏe cho trẻ.
1.5.Nhiệm vụ của GDTC cho trẻ mầm non
GDTC cho trẻ mầm non là một trong những bộ phận của giáo dục toàn
diện cho trẻ, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình giáo dục trẻ.
Mục đích của GDTC mầm non là: “Giáo dục trẻ khỏe mạnh, nhanh
nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối”, trên cơ sở đó người ta đề ra 3 nhiệm
vụ GDTC cho trẻ mầm non:
1.5.1. Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe
Ở lứa tuổi mầm non, cơ thể trẻ phát triển nhanh, nhưng sức đề kháng
còn yếu, các cơ quan đang phát triển nhưng chưa hoàn thiện. Vì vậy, một
trong những nhiệm vụ quan trọng của GDTC là bảo vệ và tăng cường sức
khỏe cho trẻ nhằm đảm bảo sự phát triển thể lực toàn diện.
Nhiệm vụ này bao gồm: Chăm sóc, nuôi dưỡng và rèn luyện một cách
khoa học; chăm sóc trẻ ăn, chơi, ngủ và học,đảm bảo việc thực hiện chế độ
sinh hoạt đúng giờ cho trẻ.
Nhiệm vụ này được triển khai cụ thể như sau:
- Rèn luyện, nâng cao sức đề kháng của cơ thể trẻ em trước tác động của
những môi trường xung quanh.
+ Sử dụng các yếu tố thiên nhiên là biện pháp thích hợp có lợi cho sức
khỏe như: Tắm nắng, dạo chơi nơi không khí thoáng mát,…Vì vậy, trong
trường mầm non cần cho trẻ tham gia hoạt động ngoài trời để trẻ được phát
triển toàn diện.
+ Việc rèn luyện cơ thể đối với trẻ trong những năm đầu đời có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng có tác dụng tốt đối với chức năng của hệ thần kinh trung
ương, xúc cảm của trẻ và sức khỏe chung.
- Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lý.


12

13
Tùy từng độ tuổi của trẻ mà cần truyền đạt một số hiểu biết có liên quan
đến GDTC.Những kiến thức mà trẻ lĩnh hội được sẽ giúp trẻ có ý thức tự giác
trong tập luyện và việc sử dụng các phương tiện GDTC ở trường, ở nhà tốt
hơn.
1.5.3. Nhiệm vụ giáo dục
Trong quá trình GDTC, có nhiều khả năng kết hợp giải quyết những
nhiệm vụ giáo dục trí tuệ,đạo đức, thẩm mĩ và lao động.
- GDTC với giáo dục trí tuệ;
+ Khoa học về sinh lí và tâm lí đã chỉ rõ, một cơ thể khỏe mạnh là tiền
đề vật chất giúp con người phát triển trí óc của mình.
+ GDTC một cách khoa học ngoài tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự
hoạt động của hệ thần kinh, giúp cho quá tình tâm lí như cảm giác, tri giác, trí
nhớ, tư duy phát triển tốt, mà còn tiếp thu được những kiến thức về sự vật,
hiện tượng xung quanh như tư thế của động vật, những hiện tượng thiên nhiên
và xã hội.
+ Đối với trẻ mầm non, cần giáo dục ở trẻ những cảm xúc tích cực, đảm
bảo sự sảng khoái, trạng thái vui chơi, phát triển khả năng vượt qua những
trạng thái tâm lý tiêu cực.
- GDTC với giáo dục đạo đức;
+ Do kinh nghiệm đạo đức ở trẻ mầm non còn hạn chế và khả năng tự ý
thức còn yếu nên trẻ rất khó đánh giá hành vi của bản thân và các bạn cùng độ
tuổi.Điều đó, đòi hỏi trách nhiệm của nhà giáo dục đối với việc hình thành có
định hướng những cơ sở đạo đức ở trẻ nhỏ.
+ Trong các tiết học thể dục, TCVĐ và thể dục sáng, giáo viên nhận xét,
đánh giá hành vi đạo đức của trẻ. Điều này tạo cho trẻ những hiểu biết nhất
định về đạo đức, chính từ những hiểu biết đó giúp trẻ có một số thói quen,
phẩm chất đạo đức tốt: Tính kiên trì, dũng cảm, thật thà, biết giúp đỡ mọi
người, có tính tổ chức kỉ luật,…




15
trong thành tích chạy.Trẻ thích đi thăng bằng trên ghế, đi nhanh, giữ được
thăng bằng toàn thân, đầu còn cúi.
Vận động nhảy: Trẻ 5 tuổi đã biết phối hợp vận động khi nhảy, tay đã
góp phần vào việc thúc đẩy lực nhảy, khi tiếp mặt đất nhẹ nhàng hơn.
Vận động ném, chuyển, bắt: Trẻ đã xác định được hướng ném đúng, biết
dùng động tác “ngắm” để ném trúng đích. Khi ném xa trẻ đã biết phối hợp lực
đẩy của chân và tay, hướng ném thẳng.
Vận động bò, trườn, trèo: Trẻ đã định được hướng vận động chính xác,
phối hợp tay, chân, thân hình linh hoạt, tránh chướng ngại vật khéo léo. Tốc
độ trườn và trèo nhanh hơn.
1.6.2. Phát triển vận động của trẻ 6 tuổi
Tốc độ trưởng thành của trẻ tăng rất nhanh, tỷ lệ cơ thể đã cân đối, tạo ra
tư thế vững chắc, cảm giác thăng bằng được hoàn thiện, phối hợp vận động
tốt hơn. Hệ thần kinh của trẻ phát triển tốt, trẻ có khả năng chú ý cao trong
quá trình học các bài tập vận động.
Vận động đi, chạy, thăng bằng: Ở trẻ có sự phối hợp nhịp nhàng giữa
tay, chân và thân người, bàn chân rời khỏi mặt đất nhẹ nhàng, mềm mại khi
chân chạm đất.
Vận động nhảy: Được thực hiện với một niềm tin lớn, nhảy nhẹ nhàng,
biết chạm đất bằng 2 đầu bàn chân.
Vận động chạy, bò, ném: Trẻ được hoàn thiện rõ nhất, thể hiện sự chính
xác của động tác, phát triển khả năng ước lượng bằng mắt, có sự khéo léo khi
phối hợp vận động.
Dựa vào đặc điểm phát triển thể chất và vận động của trẻ ở từng độ tuổi
mầm non, giáo viên sẽ lựa chọn những nội dung và phương pháp hướng dẫn
vận động phù hợp với trẻ, từ đó để có thể đạt được hiệu quả cao trong quá
trình luyện tập cho trẻ.

Chuyển một hàng dọc thành 2 hàng dọc;


17
Chuyển một hàng ngang thành 2 hàng ngang;
Chuyển một vòng tròn thành 2 vòng tròn;
1.7.2. Bài tập phát triển chung đối với trẻ 5-6 tuổi
- Khái niệm: Bài tập phát triển chung là một hệ thống động tác được
chọn lọc có tác dụng phát triển và củng cố những nhóm cơ bắp riêng biệt như
cơ bả vai, cơ tay, cơ lưng, cơ ngực,…Nhiệm vụ của những động tác này là
hình thành tư thế đúng, thân thể khỏe mạnh, đồng thời củng cố và phát triển
hệ cơ, xương, khớp, dây chằng.
- Nội dung bài tập phát triển chung đối với trẻ 5 - 6 tuổi: Căn cứ vào đặc
điểm cơ thể trẻ lứa tuổi này, người ta chia bài tập phát triển chung thành 3
nhóm:
Nhóm bài tập động tác tay:
+ Đưa 2 tay lên cao, ra phía trước, sang hai bên (kết hợp với vẫy bàn tay,
quay cổ tay, kiễng chân).
+ Co và duỗi từng tay, kết hợp kiễng chân. Hai tay đánh xoay tròn trước
ngực, đưa lên cao.
Nhóm bài tập động tác lưng, bụng, lườn:
+ Ngửa người ra sau kết hợp tay giơ lên cao, chân bước sang phải, sang
trái.
+ Quay sang trái, sang phải kết hợp tay chống hông hoặc 2 tay dang
ngang, chân bước sang phải, sang trái.
+ Nghiêng người sang 2 bên, kết hợp tay chống hông, chân bước sang
phải, sang trái.
Nhóm bài tập động tác chân:
+ Đưa ra trước, đưa sang ngang, đưa về phía sau
+ Nhảy lên đưa 2 chân sang ngang; nhảy lên đưa một chân về phía trước,

giúp trẻ có thể tiến hành hoạt động dưới nhiều dạng khác nhau và tránh quá
sức với trẻ.


Trích đoạn Thực trạng nội dung chương trình dạyhọc GDTCcho trẻ 5-6 tuổ Lựa chọn biện pháp nhằm nâng cao khả năng sử dụng các phương tiện Lựa chọn test đánh giá khả năng sử dụng các phương tiện GDTC trong tổ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status