Một số biện pháp nâng cao việc phát triển ngôn ngữ thông qua đồng dao tiếng việt cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non bế văn đàn - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÊ THỊ HOA

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO VIỆC PHÁT TRIỂN
NGÔN NGỮ THÔNG QUA ĐỒNG DAO TIẾNG VIỆT
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON BẾ VĂN ĐÀN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÊ THỊ HOA

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO VIỆC PHÁT TRIỂN
NGÔN NGỮ THÔNG QUA ĐỒNG DAO TIẾNG VIỆT
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON BẾ VĂN ĐÀN

Chuyên ngành: Khoa học giáo dục

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS. Vũ Tiến Dũng

SƠN LA, NĂM 2016




thông qua đồng dao tiếng Việt
2

Kết quả điều tra thực trạng ngôn ngữ 60 trẻ Trường Mầm non

24

Bế Văn Đàn – Thành phố Sơn La – Sơn La.
3

So sánh mức độ phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

50

ở hai nhóm thực nghiệm và đối chứng, trước khi thực nghiệm.
4

So sánh mức độ triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi,
thông qua đồng dao tiếng Việt ở hai nhóm thực nghiệm và đối
chứng, sau khi thực nghiệm.

B. CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu viết tắt

Nghĩa văn bản

SL

Số lượng

1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ ................................................................................... 8
1.2. Cách thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi mầm non ............................ 11
1.2.1. Phương pháp phát triển ngôn ngữ ............................................................. 11
1.2.2. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các giờ học làm quen với các tác phẩm
văn học ................................................................................................................ 14
1.2.3. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non thông qua đồng dao tiếng Việt ..... 16
1.2.3.1. Đồng dao Việt Nam ............................................................................... 16


1.2.3.2. Vai trò của đồng dao trong nâng cao việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo lớn ........................................................................................................ 20
Tiểu kết chương 1................................................................................................ 21
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO VIỆC
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ THÔNG QUA ĐỒNG DAO TIẾNG VIỆT
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI ................................................................ 22
2.1. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 22
2.1.1. Khảo sát điều tra ........................................................................................ 22
2.1.1.1. Mục đích điều tra ................................................................................... 22
2.1.1.2. Đối tượng và thời gian điều tra…………………………………..…….22
2.1.1.3. Nội dung điều tra .................................................................................... 22
2.1.1.4. Phương pháp điều tra ............................................................................. 23
2.1.2. Phân tích kết quả điều tra .......................................................................... 23
2.1.2.1. Kết quả điều tra đối với trẻ..................................................................... 23
2.1.2.2. Kết quả điều tra đối với giáo viên .......................................................... 25
2.2. Biện pháp nâng cao việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông
qua đồng dao tiếng Việt ở Trường Mầm non Bế Văn Đàn .................................... 28
2.2.1. Biện pháp sưu tầm đồng dao theo chủ đề dạy học ở trường mầm non…28
2.2.2. Biện pháp đọc diễn cảm đồng dao kết hợp với đàm thoại, giảng giải nội
dung ..................................................................................................................... 31
2.2.3. Biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan (tranh ảnh, video…) ..................... 34

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong điều kiện hiện nay, với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ văn minh” và để hòa đồng với sự phát triển của thế giới,
Đảng và Nhà nước có chủ trương: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và xác định
chiến lược “Giáo dục con người là phải đi trước chiến lược kinh tế”, tập trung
sâu rộng, dành nhiều tâm sức cho “Phát triển bậc học mầm non phù hợp với điều
kiện và yêu cầu từng nơi, bảo đảm hầu hết trẻ 5 tuổi được đi học chương trình
mẫu giáo lớn chuẩn bị vào lớp một”. Nghị quyết của Đảng đã xác định đúng đắn
vị trí của giáo dục mầm non trong chiến lược giáo dục – đào tạo và chỉ ra bước
đi thích hợp với khả năng thực tế của đất nước.
1.2. Muốn phát triển bậc học mầm non, chúng ta cần chú ý tới việc phát
triển ngôn ngữ cho trẻ. Ngôn ngữ là tinh hoa, là tiếng nói của dân tộc, có vai trò
rất quan trọng bậc nhất trong cuộc sống con người. Ngôn ngữ là kho tàng trí tuệ
của loài người, thước đo của văn minh, đồng thời là nơi lưu giữ, chuyển tải tư
duy nhân loại. Không một cá thể nào trên mặt đất này có thể từ chối ngôn ngữ,
nếu ở trong điều kiện bình thường. Sinh thời, Hồ Chủ tịch có dạy: “Tiếng nói là
thứ của cái vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ
gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp” (Dẫn theo [17,
tr.15]).
1.3. Ở những bước đi đầu đời, trẻ em có nhu cầu rất lớn trong việc nhận
thức thế giới xung quanh. Khi tích lũy được vốn ngôn ngữ nhất định, trẻ sử dụng
ngôn ngữ như phương tiện biểu hiện nhận thức của mình. Như vậy, có thể nói
ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ. Ngôn ngữ
giúp trẻ tích cực sáng tạo trong hoạt động trí tuệ. Trẻ càng lớn nhu cầu hiểu biết
càng nhiều. Lứa tuổi 5 - 6 tuổi là lứa tuổi cuối cùng của bậc học mẫu giáo, là
giai đoạn then chốt để chuẩn bị cho trẻ tới trường Tiểu học. Vì vậy, trẻ cần phải
chuẩn bị tốt các mặt tâm lý để trẻ sẵn sàng bước vào lớp 1, trong đó ngôn ngữ là
thành phần cốt yếu. Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ ở các trường mầm non hiện
nay đang được diễn ra khá thuận lợi, nhiệm vụ đó không chỉ thực thi qua các tiết

học ngôn ngữ, về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ thơ.
Đặc biệt, ngôn ngữ của trẻ được nghiên cứu rất kỹ lưỡng ở Liên Xô (cũ)
với nhiều nhà sư phạm cùng với những công trình có tính khoa học, hiệu quả nổi
2


tiếng, những công trình này đã vào Việt Nam khá sớm. Giáo viên, sinh viên các
trường đào tạo giáo viên mầm non đã biết đến Chikhieva.E.I như một tác giả có
uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.
Ngoài ra, có nhiều tác giả chúng ta biết cũng đóng góp quan trọng vào việc hình
thành chuyên ngành phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở nước ta. Có thể kể đến các tác
giả như: Barodis.A.M với cuốn Phương pháp phát triển tiếng cho trẻ của Nhà
xuất bản Giáo dục Matxcơva xuất bản năm 1974; Xôkhin với cuốn Phát triển lời
nói cho trẻ em Nhà xuất bản Giáo dục Matxcơva in năm 1979…
Ngoài ra, những nhà khoa học Nga còn có những khám phá quan trọng, về
vấn đề hoàn thiện ngôn ngữ ở lứa tuổi mầm non, với một số công trình tiêu biểu:
A.V.Petrovsky với Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm.
A.M.Barodis với Phương pháp phát triển tiếng cho trẻ em.
A.N.Xôkôlốp với Lời nói bên trong và tư duy.
N.I.Giưnkin với Vấn đề hoàn thiện nội dung và phương pháp.
A.A.Lêonchiep với Những cơ sở lý thuyết của hoạt động lời nói.
Những nghiên cứu tuy khác nhau nhưng luôn tìm hiểu chung về một vấn đề
đó là ngôn ngữ.
Ở Việt Nam cũng có những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề
phát triển ngôn ngữ của trẻ như: Dạy nói và trẻ trước tuổi cấp 1 của tác giả Phan
Thiều. Tác giả Phạm Thị Phú và Lê Thị Ánh Tuyết với Phương pháp làm quen
với văn học ở mẫu giáo.
Luận án phó tiến sĩ của Lưu Thị Lan: Những bước phát triển ngôn ngữ của
trẻ từ 1- 6 tuổi, dựa trên cơ sở tư liệu ngôn ngữ trẻ em nội thành Hà Nội (1996).
Gần đây, trong buổi nói chuyện của Giáo sư văn hóa học Tô Ngọc Thanh

giáo ở trường mầm non Bế Văn Đàn - Thành phố Sơn La - Sơn La.
- Đề xuất biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua đồng dao
tiếng Việt.
- Thiết kế thực nghiệm và đưa ra kết luận.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tìm hiểu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ (5 – 6 tuổi) thông qua đồng dao
tiếng Việt.

4


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi).
- Giáo viên Trường Mầm non Bế Văn Đàn – Thành phố Sơn La – Sơn La.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu sách, tài liệu có liên quan đến đề tài, đọc và hệ thống hóa
các tài liệu có liên quan đến cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu và các tài liệu
có liên quan đến việc nâng cao và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
5.2. Phương pháp trực quan
- Quan sát ghi chép việc sử dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho
trẻ 5 - 6 tuổi thông qua đồng dao tiếng Việt.
- Trò chuyện: Trao đổi, tọa đàm với các cô giáo về đề tài nghiên cứu; hỏi
trẻ một số câu hỏi nhằm làm rõ hơn khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ.
5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Sử dụng một số phương pháp đã đề xuất tác động một số nhóm trẻ, khối
thực nghiệm.
6. Ý nghĩa của khóa luận
6.1. Ý nghĩa lý luận

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Ngôn ngữ, vai trò của ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ
bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người. Ngôn
ngữ đồng thời là phương tiện để phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn
hóa- lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ. Sự phát
triển chậm trễ về ngôn ngữ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển toàn diện của trẻ.
Cho nên, nhà giáo dục cần đề ra những biện pháp, những phương pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc và phù hợp với từng độ tuổi.
Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi sự suy nghĩ và là công cụ của tư duy.
Trẻ em có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh trong quá
trình nhận biết các sự vật hiện tượng. Muốn cho trẻ phân biệt được vật này với
vật khác, biết được tên gọi, màu sắc, hình dáng, công dụng và thuộc tính cơ bản
của vật thì nhà sư phạm phải hướng dẫn trẻ quan sát, dùng từ ngữ để giải thích
bằng lời để khẳng định và khắc sâu kiến thức cho trẻ.
Ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành
một thành viên của xã hội loài người. Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để trẻ có
thể bày tỏ nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm
sóc giáo dục trẻ, là một điều kiện quan trọng để trẻ thể hiện những nguyện vọng
của mình tham gia vào một hoạt động xã hội loài người. Ngôn ngữ càng phong
phú thì việc nhận thức và hòa nhập với cuộc sống xã hội ngày càng thuận lợi và
được mở rộng hơn.
Như vậy, ngôn ngữ là một hệ thống các kí hiệu có cấu trúc, các quy tắc và
ý nghĩa được con người sử dụng trong giao tiếp, các kí hiệu có thể được kết hợp,
tổ chức và mở rộng để truyền đạt một khối lượng thông điệp vô cùng đa dạng và
phức tạp.

A.Alêonchiep nhấn mạnh vai trò giao tiếp của ngôn ngữ: “Sự phát triển của
lời nói của trẻ em trước hết là sự phát triển của phương thức giao tiếp” (Dẫn

8


theo [12, tr.27]). Việc tạo cho trẻ em một môi trường ngôn ngữ phù hợp là vấn
đề rất cần được các nhà giáo dục quan tâm và thiết lập một cách nghiêm túc.
Thứ 2, ngôn ngữ là phương tiện của tư duy, là công cụ để phát triển nhận
thức. Các - mác và Ăng - ghen cũng đã khẳng định: “Ngôn ngữ là ý thức thực
tại, thực tiễn, ngôn ngữ cũng tồn tại cho cả người khác nữa, như vậy là cũng tồn
tại lần đầu tiên cho bản thân tôi nữa. Và cũng như ý thức ngôn ngữ chỉ sinh ra
do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với người khác” (Dẫn theo [12, tr.8]).
Nếu ngôn ngữ chỉ là những tổ hợp của âm thanh đơn giản thì không thể trở
thành phương tiện giao tiếp được, mặc dù chức năng giao tiếp của ngôn ngữ gắn
liền với chức năng thể hiện tư duy, nhưng chúng lại tồn tại độc lập với nhau.
Ngôn ngữ của con người không chỉ tồn tại ở dạng thành tiếng mà còn tồn
tại dưới dạng biểu tượng âm thanh trong óc, chữ viết ra giấy. Chức năng của
ngôn ngữ với tư duy không chỉ nhận ra lời nói mà cả khi con người ta suy nghĩ
thầm bên trong – ngôn ngữ cũng vẫn là phương tiện biểu hiện. Bởi vậy, con
người không thể tư duy mà không có ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là cơ sở của suy nghĩ và là công cụ của tư duy. Ngôn ngữ là thành tố
của tình cảm, tri thức, trí tuệ, đạo đức... của con người như F.De.Saussure từng nói:
“Toàn bộ lôgic của cuộc sống chứa đựng trong một giọt của ngôn ngữ” (Dẫn theo
[2, tr.19]).
Ngôn ngữ là vật chất, tư duy là tinh thần. Tư duy có tính chất nhân loại còn
ngôn ngữ có tính chất dân tộc. Ngôn ngữ và tư duy ra đời cùng một lúc và không
tách rời nhau, trong một chừng mực nào đó chúng xuất hiện cùng nhau và bổ
sung cho nhau.
Đối với trẻ em, “ngôn ngữ có vai trò quyết định đến sự phát triển tâm lý

đầu nhưng lại vô cùng quan trọng, có tính chất quyết định đến việc hình thành
những nét tính cách riêng biệt của mỗi con người trong tương lai. Muốn cho trẻ
hiểu và lĩnh hội được những khái niệm đạo đức này, chúng ta không thể chỉ
thông qua những hoạt động cụ thể hoặc những sự vật, hiện tượng trực quan đơn
thuần mà phải có ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ thể hiện được đầy đủ
những nhu cầu, nguyện vọng và tình cảm của mình. Cũng nhờ có ngôn ngữ mà
nhà giáo dục và các bậc cha mẹ có điều kiện hiểu con cháu mình hơn, để từ đó
có thể uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho trẻ những tình cảm, hành vi đạo đức
trong sáng nhất.
10


Thứ tư, ngôn ngữ đối với việc giáo dục thẩm mĩ.
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệ
thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu cho đúng cái đẹp
trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêu
cái đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp.
Thật vậy, trong cuộc sống hằng ngày, khi giao tiếp với người lớn , trẻ nhận
thức được cái đẹp ở xung quanh, từ đó trẻ có thái độ tôn trọng cái đẹp và tạo ra
cái đẹp. Đặc biệt khi tiếp xúc với bộ môn nghệ thuật như: Âm nhạc, tạo hình, trẻ
có thể cảm nhận được những cái đẹp tuyệt vời của cuộc sống qua âm thanh,
đường nét,… Từ đó giúp trẻ hiểu sâu hơn về giá trị thẩm mỹ, tâm hồn trẻ sẽ
nhạy cảm hơn với cái đẹp và khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học trẻ có
thể tìm thấy ở đó những hình tượng, nhân vật điển hình, mỗi nhân vật mang một
sắc thái riêng, một vẻ đẹp riêng, từ đó trẻ tự biết phải sống như thế nào.
Thứ năm, ngôn ngữ đối với việc giáo dục thể lực.
Trong chế độ sinh hoạt hằng ngày giáo viên và người lớn đã dùng ngôn ngữ
để hướng dẫn trẻ thực hiện tốt những yêu cầu mà mình đề ra. Ví dụ: trong giờ
thể dục giáo viên đã dùng ngôn ngữ tạo điều kiện giúp trẻ thực hiện động tác thể
dục nhằm giúp cơ thể phát triển cân đối về chất dinh dưỡng, ngoài chế độ sinh

ngữ cho trẻ cần phải có hệ thống, có kế hoạch. Trẻ lớn hơn, hướng dẫn trẻ kể lại
bằng lời nói rõ ràng, mạch lạc hơn.
- Xem phim: Là hình thức sử dụng máy móc, thiết bị vào quá trình dạy
trong điều kiện cho phép, tạo điều kiện cho trẻ quan sát cảnh vật mà trẻ không
thể đi đến nơi xem được, hoặc xem lại tranh ảnh trong quá khứ.
b. Phương pháp dùng lời nói
- Đọc thơ (ca dao, đồng dao, tục ngữ) cho trẻ nghe.
Thơ ca đến với trẻ từ khi mới ra đời. Thơ ca mang tính nhịp điệu, vần điệu
cao. Vì vậy, khi đọc thơ cần đọc chậm rãi vừa phải, chú ý ngắt giọng sau mỗi
câu và nhấn vào các từ mang vần. Đọc thơ giúp trẻ cảm nhận được vần điệu,
nhịp điệu của tiếng Việt.
- Kể và đọc truyện: là phương pháp chủ yếu giúp trẻ làm quen với văn học.
Khi đọc, kể chuyện, cô giáo phải thể hiện được tình cảm, sử dụng ngữ điệu
giọng nói để bộc lộ được đặc điểm, tình cảm nhân vật. Đọc, kể phải chậm rãi
vừa phải để trẻ còn lắng nghe được các từ ngữ, câu văn trong truyện.
12


- Kể lại chuyện: là hình thức cho trẻ kể lại câu chuyện theo mẫu mà trẻ đã
được nghe. Kể lại chuyện giúp cho ngôn ngữ mạch lạc của trẻ phát triển và tư
duy lôgic cũng được phát triển.
- Đàm thoại: là sử dụng các hệ thống câu hỏi và câu trả lời của trẻ, giúp cho
ngôn ngữ của trẻ phát triển.
- Mẫu câu của cô: mẫu lời nói được sử dụng như một phương pháp khi chỉ
cho đứa trẻ một cách thức tốt nhất để diễn đạt suy nghĩ của mình.
- Câu hỏi để hỏi trẻ: câu hỏi được dùng để hỏi trẻ có nhiều loại khác nhau:
câu hỏi để hướng sự chú ý của trẻ tới việc nhận thức đối tượng.
- Giảng giải: là phương pháp dùng lời lẽ để nói cho trẻ hiểu về bản chất,
đặc điểm, tính cách… của một con vật hoặc một hành động nào đó. Cô giáo vận
dụng vốn hiểu biết của trẻ để giải nghĩa những từ trẻ chưa biết, giúp cho vốn từ

1.2.2. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các giờ học làm quen với các tác
phẩm văn học
Phát triển ngôn ngữ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong giáo dục mầm
non, đặc biệt là giáo dục mẫu giáo. Bởi lẽ, ngôn ngữ gắn liền với tư duy. Nếu trẻ
không được cung cấp một vốn ngôn ngữ nhất định, trẻ không thể đến trường phổ
thông để lĩnh hội tri thức và nền văn hóa của nhân loại. Hiện nay, ở trường mầm
non, phát triển ngôn ngữ cho trẻ đang được thực hiện trong tất cả các hoạt động
chơi và học của trẻ. Với nhiệm vụ này, các tác phẩm văn học có vai trò đặc biệt
quan trọng, cụ thể là:
- Văn học giúp trẻ mở rộng vốn từ, đặc biệt là từ ngữ nghệ thuật.
- Văn học giúp trẻ phát triển lời nói mạch lạc, nâng cao khả năng biểu đạt
(diễn đạt một vấn đề nào đó có hình ảnh, giàu tính tạo hình và tính biểu cảm).
- Như trên đã nói, văn học là “cuốn sách giáo khoa” đầu tiên giúp trẻ nhận
biết môi trường xung quanh: các hiện tượng tự nhiên, thế giới thiên nhiên, loài
vật, cây cỏ, đồ vật và các mối quan hệ trong xã hội. Như vậy, một lôgic ta dễ
dàng nhận thấy là việc mở rộng nhận thức bao giờ cũng gắn chặt với mở rộng
vốn từ. Trẻ tiếp nhận những khái niệm mới cũng chính là tiếp là từ ngữ mới.
Như vậy, đồng thời với việc giúp trẻ mở rộng nhận thức và hiểu biết về thế giới
xung quanh thì văn học cũng cung cấp cho trẻ một vốn từ khổng lồ, đặc biệt là
những từ ngữ nghệ thuật. Đó là vốn từ ngữ đã được qua sự chọn lọc, tinh luyện
và sáng tạo của các nhà văn. Điều này giải thích vì sao những đứa trẻ thường
14


xuyên được tiếp xúc với tác phẩm văn học thì vốn từ của trẻ thường phong phú
và sống động. Không chỉ thế, những trẻ này còn có khả năng diễn đạt các vấn đề
một cách mạch lạc, giàu hình ảnh và biểu cảm do các em học được những cách
diễn đạt sinh động trong tác phẩm. Ảnh hưởng của tác phẩm văn học đến sự
phát triển ngôn ngữ của trẻ được diễn ra theo cơ chế “đồng nhất hoá - bắt
chước”. Trẻ bắt chước ngôn ngữ, bắt chước lời nói, việc làm của các nhân vật

xác, nhiều màu sắc, có tính tạo hình, gợi tả và biểu hiện, biểu cảm cao. Đó là cái
đẹp của lối nói ví von, so sánh: “Hoa lựu chói chang/ Đỏ như đốm lửa”, “Hoa
sen sáng rực/Như ngọn lửa hồng”, “Những hôm nào trăng khuyết/ Trông giống
con thuyền trôi”, “Trăng bay như quả bóng/ Đứa nào đá lên trời”…; cái đẹp của
những câu hỏi tu từ: “Trăng ơi…từ đâu đến?”, “Trăng ơi có nơi nào/ Sáng hơn
đất nước em!”, “Có phải hoa nói hộ/ Cho lòng em xôn xao!”…; hay những cách
nói mang ý nghĩa tượng trưng, giàu sức biểu cảm:
Bay cao, cao vút
Chim biến mất rồi,
Chỉ còn tiếng hót
Làm xanh da trời!
(Huy Cận, Con chim chiền chiện)
Tóm lại, vai trò của văn học đối với việc giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm
non là rất thiệt thòi cho những đứa trẻ không thường xuyên được tiếp xúc với
tác phẩm văn học. Chính vì vậy, cần đưa văn học - nghệ thuật của ngôn từ
đến với trẻ từ rất sớm, thậm chí ngay từ khi trẻ mới chào đời, bằng những lời
ru, những câu chuyện. Bản thân các cô giáo mầm non phải trau dồi những
kiến thức cơ bản để cảm thụ thật tốt các tác phẩm văn học thì mới có thể
truyền dạy cho trẻ được hết những cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Với sự
hướng dẫn của cô giáo, trẻ được nghe, được học các tác phẩm văn học, đó là
những bài học làm người đầu tiên và những bài học đó sẽ cùng trẻ lớn dần lên
theo năm tháng, trong suốt một cuộc đời.
1.2.3. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non thông qua đồng dao tiếng
Việt
1.2.3.1. Đồng dao Việt Nam
a. Khái niệm đồng dao

16



17


Choh mạy pao
Sao hướng tảư
Pạư ưởi ý hướn nưa
Máh khưa xúc
Máh pục xủm.
Khảu tủm van...
(Tạm dịch là: Đu đánh đu/ Thang đu bằng dây chó đẻ/ Ống đu, ống nứa/ Gái nhà
dưới / Dâu nhà trên/ Quả cà chín / Quả bưởi chua/ Gạo sống nhạt).
b. Đặc điểm của đồng dao
* Nội dung của đồng dao:
Tuy ý nghĩa của nhiều câu đồng dao có khi không rõ ràng, thậm chí vô
nghĩa, nhưng không phải vì thế mà đồng dao không có nội dung gì. Thực ra nội
dung của đồng dao rất phong phú, nó phản ánh nhiều mặt của cuộc sống chủ yếu
là ở nông thôn.
Rất nhiều bài đồng dao phản ánh những hiện tượng trong tự nhiên hết sức
phong phú giáp trẻ hiểu, gắn bó với môi trường xung quanh:
Mây kia sinh ở đằng đông
Mây hoá ra rồng mây hiện ra mưa
Có khi mây kéo như cờ
Mây phẳng như tờ mây lại kéo sang
Có khi mây đỏ mây vàng
Mây xanh mây tím ngổn ngang đầy trời
Đồng dao phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người đầy xúc
cảm yêu thương, sâu nặng tình người, thường là thông qua thân phận của cái
tôm cái tép, con có con vạc, cái bống cái bang, bằng con mắt nhân cách hoá
của trẻ thơ
Cái bống là cái bống bang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status