TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LÊ THỊ THÚY
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
TRÒ CHƠI NÉM BÓNG TRONG PHÁT
TRIỂN SỨC MẠNH CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
TRƢỜNG MẦM NON ĐỒNG TÂM VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HÀ NỘI, 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LÊ THỊ THÚY
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
TRÒ CHƠI NÉM BÓNG TRONG PHÁT
TRIỂN SỨC MẠNH CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
TRƢỜNG MẦM NON ĐỒNG TÂM VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: PPGD thể chất mầm non
Hƣớng dẫn khoa học
TS. LÊ TRƢỜNG SƠN CHẤN HẢI
HÀ NỘI, 2015
: Đại học Sư phạm
GD & ĐT
: Giáo dục và đào tạo
GDMN
: Giáo dục mầm non
GDTC
: Giáo dục thể chất
NĐC
: Nhóm đối chứng
NTN
: Nhóm thực nghiệm
NXB
: Nhà xuất bản
STT
: Số thứ tự
1.6. Cơ sở giáo dục sức mạnh ......................................................................... 19
1.6.1. Khái niệm và phân loại sức mạnh ......................................................... 19
1.6.2. Cơ chế sinh lí điều hòa sức mạnh ......................................................... 19
1.6.3. Nhiệm vụ và phương tiện giáo dục sức mạnh....................................... 20
CHƢƠNG 2. NHIỆM VỤ, PHƢƠNG PHÁP, TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU..22
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................. 22
2.2. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 22
2.2.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu ............................................. 22
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn........................................................................ 22
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm............................................................. 23
2.2.4. Phương pháp sử dụng test kiểm tra thể lực ........................................... 23
2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm...................................................... 23
2.2.6. Phương pháp toán học thống kê ............................................................ 23
2.3. Tổ chức nghiên cứu .................................................................................. 24
2.3.1. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 24
2.3.2.Đối tượng nghiên cứu............................................................................. 25
2.3.3. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 25
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................... 26
3.1. Đánh giá thực trạng việc sử dụng TCVĐ cho trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm
non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc ......................................................... 26
3.1.1. Thực trạng công tác GDTC trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên Vĩnh Phúc ........................................................................................................ 26
3.1.2. Thực trạng năng lực đội ngũ giáo viên ................................................. 26
3.1.3. Thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường ........................................ 28
3.1.4. Thực trạng việc sử dụng một số TCVĐ nhằm phát triển sức mạnh cho
trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh
Phúc ................................................................................................................. 29
3.1.5. Thực trạng sử dụng trò chơi ném bóng nhằm phát triển sức mạnh cho
trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc ............... 31
mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh
Yên - Vĩnh Phúc.
Bảng 3.4 Bảng phỏng vấn lựa chọn test đánh giá sức mạnh cho trẻ 5 - 6
38
tuổi trường Mầm non Đồng Tâm - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
(n=26)
Bảng 3.5 Kết quả kiểm tra của 2 nhóm trước thực nghiệm
40
(nA = nB = 15)
Bảng 3.6 Kết quả kiểm tra của 2 nhóm sau thực nghiệm (nA = nB = 15)
41
Biểu đồ 1 Thành tích ai ném xa nhất của 2 nhóm đối chứng và thực
42
nghiệm trước và sau thực nghiệm
Biểu đồ 2 Thành tích ném bóng vào rổ của 2 nhóm đối chứng và thực
nghiệm trước và sau thực nghiệm
Biểu đồ 3 Thành tích ném bóng qua dây của 2 nhóm đối chứng và thực
nghiệm trước và sau thực nghiệm
43
43
2
mất cân đối nếu không được chăm sóc giáo dục đúng đắn thì có thể gây nên
những thiếu sót trong sự phát triển cơ thể trẻ mà không thể khắc phục được.
Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây đã
đặc biệt chú trọng tới công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng dặn: “Giáo dục phải đảm bảo
tính toàn diện trong đó GDTC là một mặt không thể thiếu được. Nếu các đồng
chí được Đảng và Nhà nước giao trọng trách giáo dục mà coi nhẹ GDTC là
một điều không đúng mà còn là một sai lầm”. GDTC không chỉ tác động tích
cực tới quá trình phát triển và hoàn thiện thể chất mà còn góp phần quan trọng
trong phát triển các phẩm chất đạo đức, nhân cách và những phẩm chất cho
cuộc sống, học tập và lao động con người. GDTC cho trẻ trước tuổi đi học đặt
cơ sở cho sự phát triển toàn diện, tôi luyện cơ thể, rèn luyện tinh thần sảng
khoái, rèn luyện kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen vận động cần
thiết trong cuộc sống.
Tuổi mẫu giáo, các em đến trường không chỉ được học tập mà các em còn
được hoạt động vui chơi hàng ngày, bởi lứa tuổi mẫu giáo vui chơi là hoạt động
chủ đạo. Ở trường mầm non, TCVĐ được sử dụng một cách thường xuyên.
TCVĐ vừa là nội dung học tập vừa là hình thức vui chơi được trẻ yêu thích và
tích cực tham gia. Trong khi chơi trẻ hào hứng, hình thành những phẩm chất đạo
đức, biết giúp đỡ lẫn nhau, biết quan tâm đến bạn cùng chơi. TCVĐ chống lại sự
mệt mỏi, căng thẳng của trẻ trong quá trình học tập, là điều kiện để hình thành
thói quen vận động cho trẻ.
Trong các tố chất thể lực để phát triển cho trẻ như: sức nhanh, sức
mạnh, sức bền… thì tố chất sức mạnh có vai trò vô cùng quan trọng trong sự
phát triển con người toàn diện, giúp trẻ sau này có cơ thể khỏe mạnh. Trong
nhà trường có rất nhiều hoạt động để phát triển sức mạnh cho trẻ. Trò chơi
ném bóng là phương tiện tốt để phát triển sức mạnh cho trẻ mầm non. Trò
4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận xác định hƣớng nghiên cứu của đề tài
1.1.1. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC cho trẻ
mầm non
Hồ Chủ Tịch đã từng căn dặn: “Dạy trẻ như trồng cây non”, [II.15],
“Giáo dục mẫu giáo tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt”. [II.10]. Nhận
thức được vai trò quan trọng của GDMN trong sự hình thành phát triển nhân
cách con người Việt Nam hiện đại, giáo dục trẻ trước tuổi học - giáo dục tiền
học đường, luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, định hướng
xác định mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục học sinh lứa tuổi mầm non. Nghị quyết
số 14 NQ/TW ngày 11/1/1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ
“…kết hợp các biện pháp thể dục khoa học và những biện pháp y học hiện
đại để bảo vệ sức khỏe và rèn luyện các cháu, làm cho thể chất của các cháu
ngay từ bé đã được nuôi dưỡng và phát triển tốt”, [4]. Trong thư của Nguyên
Tổng bí thư Đỗ Mười gửi tạp chí “Vì trẻ thơ” có viết: “Bảo vệ và chăm sóc
giáo dục trẻ em, là một trong những mắt xích đầu tiên của quá trình triển khai
thực hiện chiến lược con người”, [12].
Quan niệm giáo dục hiện đại và tiến bộ nhấn mạnh rằng, cùng với việc
chăm lo nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe của trẻ, chủ động tạo ra những kích
thích, làm nảy sinh nhu cầu phát triển mới, từng bước hoàn thiện và phát triển
nhân cách của trẻ. Vì vậy, việc chăm sóc và giáo dục trẻ ngay từ những năm
đầu tiên của cuộc sống, là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô
cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở
thành những chủ nhân tương lai của đất nước.
Con người cần phải được giáo dục, đào tạo một cách có hệ thống ngay
từ khi bước những bước chập chững đầu tiên. Trong những điều kiện phát
6
loài vật vậy như đi, chạy, nhảy… Với lập luận này, trên thực tế họ đã phủ
nhận vai trò của lao động và tư duy - một hiện tượng mới về chất đã làm cho
con người khác biệt với các loài vật. Theo họ, thực tiễn của hình thức giáo
dục này nhằm thỏa mãn những yêu cầu bản năng nào đó và hầu như không có
liên quan đến yêu cầu xã hội. Do đó, họ đã phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ
giữa xã hội và giáo dục và cả nội dung của giáo dục.
Các nhà lý luận giáo dục duy vật cho rằng: GDTC là một hiện tượng xã
hội - là phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồng
thời tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người. Họ khẳng
định rằng, chỉ khi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể chất, nhằm
phát triển cơ thể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động nhất định thì
lúc đó mới có GDTC thực sự.
Các tư tưởng tiến bộ về giáo dục toàn diện, đó là con người phải được
phát triển hài hòa giữa thể chất và tinh thần đã xuất hiện trong kho tàng văn
hóa chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây.
Tuy nhiên, do tính chất của quan hệ xã hội và lịch sử trong các chế độ
ấy thực tế đã không vượt ra khỏi giới hạn của những ước mơ tuy cao đẹp
nhưng không có điều kiện khách quan để biến thành hiện thực.
Trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc các quy luật khách quan của sự
phát triển xã hội, Các Mác và Ăngghen đã chứng minh sự phụ thuộc của giáo
dục vào điều kiện vật chất, khám phá bản chất xã hội và giai cấp của giáo dục.
Các Mác nhấn mạnh rằng: “Giáo dục trong tương lai sẽ kết hợp lao động sản
xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát triển
toàn diện” (Các Mác, Ăngghen: Tuyển tập, tập 23, trang 495 - tiếng Nga).
Công lao lớn nhất của C. Mác là phát hiện ra sự tái sản xuất trong mỗi
con người để xã hội phát triển. Ông coi GDTC là một bộ phận hữu cơ của
hiện tượng giáo dục, là điều kiện tất yếu đối với việc phát triển con người một
8
Sinh lý học TDTT nghiên cứu những quy luật hình thành kỹ năng, kỹ
xảo vận động và quá trình phát triển tố chất thể lực của con người, cấu tạo của
cơ thể, chức năng hoạt động của các cơ quan và hệ cơ quan, đặc điểm phát
triển vận động trẻ em theo lứa tuổi.
Sinh cơ học TDTT giúp cho việc nghiên cứu kỹ thuật của bài tập thể
chất, đánh giá chất lượng thực hiện chúng, đề ra phương pháp sửa chữa động
tác sai và đạt kết quả tốt nhất trong quá trình hình thành kỹ năng vận động.
Sinh hóa học TDTT nghiên cứu các quá trình hóa học diễn ra trong cơ
thể khi thực hiện bài tập thể chất cho phép hoàn thiện phương pháp tiến hành
chúng.
Vệ sinh học TDTT nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chế độ
vận động hợp lý, các phương tiện hoạt động TDTT.
Y học TDTT nghiên cứu những vấn đề đảm bảo về mặt sức khỏe cho
mọi người trong quá trình luyện tập TDTT.
Thể dục chữa bệnh nghiên cứu và xây dựng hệ thống bài tập thể chất
nhằm hoàn thiện những khuyết tật của con người về mặt thể chất.
Mỗi một môn khoa học trên nghiên cứu những mặt riêng lẻ, các quy
luật hay các điều kiện GDTC có liên quan đến bản chất GDTC, cho phép lựa
chọn các phương tiện, nội dung, phương pháp sư phạm phù hợp trong quá
trình GDTC cho con người.
1.1.2.3. Cơ sở xã hội
Các môn khoa học xã hội nghiên cứu những quy luật xã hội của sự phát
triển GDTC, lịch sử và tổ chức GDTC.
Những môn khoa học thuộc nhóm này bao gồm: lịch sử, tâm lý học,
giáo dục học, lý luận và phương pháp giáo dục của các môn TDTT.
Lịch sử TDTT nghiên cứu sự phát sinh, quá trình phát triển TDTT.
Tâm lý học TDTT nghiên cứu những đặc điểm tâm lý, những biến đổi
về tâm lý con người do ảnh hưởng của hoạt động này.
10
con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là bắt đầu nếm quả, cùng những nụ hoa
thời đó được vun trồng trong 5 năm đầu tiên”.
Vậy nên đứa trẻ lớn lên sẽ trở thành người như thế nào phần lớn phụ
thuộc vào tuổi thơ của các bé được diễn ra sao, bàn tay nào dẫn dắt các bé
trong những năm tháng thơ ấu, dẫn dắt như thế nào? Điều này phần lớn phụ
thuộc vào cha mẹ và đặc biệt là GDMN.
Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo tới sự nghiệp
GDMN, Người từng căn dặn: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ
cũng như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ
tốt thì sau này các cháu thành người tốt”. Lời dạy của Người vẫn luôn được
cán bộ, giáo viên ngành học mầm non khắc ghi và biến thành phương châm
hành động.
Lịch sử GDMN ghi nhận: GDMN là khâu đầu tiên của quá trình đào
tạo con người Việt Nam. GDMN góp phần giải phóng phụ nữ, thực hiện bình
đẳng nam nữ. Nhờ có phát triển GDMN, phụ nữ yên tâm công tác, lao động
sản xuất, có điều kiện học hành nâng cao hiểu biết và hưởng thụ những phúc
lợi nho nhỏ trong gia đình cũng như có cơ hội đóng góp cho xã hội.
Như vậy, GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Tầm quan trọng của GDMN là chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho việc giáo
dục hình thành và phát triển nhân cách trẻ em.
1.2.2. Mục tiêu của GDMN
Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí
tuệ, thẩm mỹ, hình thành cho trẻ những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị
cho trẻ vào lớp một. GDMN tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ,
đặt nền móng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.
1.2.3. Chương trình GDMN
(Ban hành kèm theo thông tư số: 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7
chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương, động viên,
khích lệ. Phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm,
12
tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp
ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học bằng
chơi”. Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo
cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt
động một cách vui vẻ.
1.3. Giáo dục thể chất ở trƣờng mầm non
1.3.1. Vị trí và vai trò của môn GDTC đối với việc phát triển thể chất cho trẻ
mầm non
GDTC là một quá trình sư phạm tác động trực tiếp lên con người một
cách có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp, phương tiện nhằm phát triển
năng lực con người để đáp ứng nhu cầu của xã hội. GDTC không chỉ tác động
tích cực đến quá trình phát triển và hoàn thiện thể chất mà còn góp phần quan
trọng phát triển các phẩm chất đạo đức nhân cách và những phẩm chất cần
thiết trong cuộc sống học tập và lao động.
Mục tiêu của nền giáo dục nước ta đặt ra là phải đào tạo ra những con
người toàn diện về mọi mặt có đủ: Đức, Trí, Thể, Mỹ, Lao động. Bên cạnh
công tác giáo dục văn hóa thì GDTC cũng chiếm một vị trí quan trọng, là một
bộ phận không thể thiếu của giáo dục quốc dân. Nó là tiền đề giúp người học
có đủ sức khỏe, tinh thần thoải mái, sảng khoái để tiếp thu kiến thức các bộ
môn khác.
GDTC trường học là cơ sở nền tảng của TDTT quốc dân. Đây là một
chiến lược quan trọng. GDTC đối với trẻ em góp phần thúc đẩy phát triển
thân thể khỏe mạnh, tăng cường thể chất.
GDTC là một bộ phận không thể thiếu để thúc đẩy sự phát triển toàn
diện của trẻ em, là bộ phận hợp thành quan trọng của nền giáo dục phát triển
14
a. Bảo vệ tính mạng và tăng cường sức khỏe, đảm bảo sự tăng trưởng hài hòa
của trẻ.
- Rèn luyện cơ thể, nâng cao tính miễn dịch đối với các loại bệnh trẻ
thường mắc phải và đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển đúng lúc và hoàn
chỉnh của trẻ.
- Đảm bảo chế độ dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt hợp lý, tích cực phòng
bệnh, phòng tai nạn, làm tốt công tác vệ sinh môi trường, sinh hoạt và thân
thể, không để trẻ mệt mỏi vì hoạt động quá sức hoặc thần kinh căng thẳng.
- Hướng dẫn tổ chức rèn luyện cho trẻ một cách hợp lý nhằm tăng
cường sức khỏe, phát triển cân đối hình dạng và các chức năng của cơ thể,
tăng cường khả năng thích ứng của trẻ với những thay đổi của thời tiết hoặc
môi trường bên ngoài.
b. Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản và những phẩm chất vận động.
- Hình thành, phát triển và hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ
bản (đi, chạy, nhảy, leo, trèo), rèn luyện năng lực phối hợp cảm giác với vận
động, phối hợp các vận động của các bộ phận cơ thể với nhau…
- Từng bước rèn luyện những phẩm chất của vận động, giúp trẻ vận
động ngày càng nhanh nhẹn, linh hoạt, dẻo dai, gọn gàng, ngày càng chính
xác, khéo léo hơn.
c. Giáo dục nếp sống có giờ giấc, có thói quen và các kỹ năng, kỹ xảo vệ sinh
cụ thể.
- Giáo dục cho trẻ nếp sống có giờ giấc. Rèn luyện cho trẻ thói quen ăn,
ngủ, thức đúng giờ và dễ dàng thích nghi khi chuyển từ hoạt động này sang
hoạt động khác. Những thói quen này sẽ giúp cho trẻ ăn ngon, ngủ say, hoạt
động thoải mái, ảnh hưởng tốt tới sức khỏe của trẻ và giúp trẻ thích nghi với
thời khóa biểu sau này ở trường tiểu học.
16
Trẻ có nhu cầu chơi trong nhóm bạn.
- Trẻ có ý thức chan hòa với bạn cùng chơi. Biết tuân thủ luật chơi,
biết mượn, chia sẻ đồ chơi với bạn, biết thiết lập mối quan hệ rộng rãi và
phong phú với bạn cùng chơi.
- Nếu như ở lứa tuổi trước, chỉ cần hai bạn chơi mẹ con thì đến tuổi
này, các bạn cùng hợp tác lại để chơi trò gia đình với các vai bố, mẹ, con cái,
ông bà.
Tính tình tương đối ổn định, dễ hướng dẫn, chỉ bảo.
- Đời sống tình cảm của trẻ ở lứa tuổi này phong phú và sâu sắc hơn
nhiều so với lứa tuổi trước. Trẻ trải nghiệm nhiều trạng thái cảm xúc, tình
cảm, hướng tình cảm của mình đến nhiều đối tượng khác nhau.
- Trẻ luôn mong muốn nhận sự yêu thương trìu mến của cha mẹ, rất dễ
tủi thân khi không được quan tâm. Trẻ cũng bộc lộ tình cảm của mình mạnh
mẽ và rõ ràng hơn với mọi người, luôn tỏ ra an ủi, thông cảm với người khác.
Sự phát triển xúc cảm và ngôn ngữ:
- Ở lứa tuổi này, tình cảm đã bắt đầu phức tạp và phân hóa, từ quan hệ
gắn bó mẹ - con, trẻ bắt đầu có nhu cầu giao lưu tình cảm nhiều hơn giữa mẹ con ở trẻ trai và bố - con ở trẻ gái. Trẻ đòi hỏi sự quan tâm cuộc sống một cách
cụ thể và đa dạng hơn, vì vậy đã xuất hiện ở trẻ những biểu hiện về tình cảm rõ
ràng cũng như những phản ứng chống đối dưới nhiều hình thức khác nhau.
- Đây là lứa tuổi phát triển khá hoàn chỉnh về khả năng giao tiếp, trẻ có
khả năng nói những câu đầy đủ, đôi khi phức tạp cũng như hiểu được những
câu nói dài của người khác. Điều này là cơ sở cho trẻ tiếp nhận những kiến
thức của lớp 1 và bậc học tiếp theo.
1.4.2. Đặc điểm sinh lý
Hệ thần kinh: sự phát triển của hệ thần kinh ở lứa tuổi này đã được ở
mức cao hơn so với lứa tuổi nhà trẻ. Sự trưởng thành của các tế bào thần kinh
18
hóa các dạng bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường độ vận động,
phối hợp động và tĩnh một cách nhẹ nhàng.
Hệ hô hấp: đường hô hấp của trẻ tương đối hẹp, niêm mạc đường hô
hấp mềm mại, mao mạch phong phú, dễ phát sinh nhiễm cảm. Lên 6 tuổi thể
tích hô hấp của phổi là khoảng 215 - 220 ml. Trẻ 5 - 6 tuổi mỗi phút hít thở
khoảng 20 - 22 lần.
Hệ trao đổi chất: cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục năng
lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và mô. Ở
trẻ năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là cho hoạt động
cơ bắp. Do vậy, khi trẻ hoạt động vận động quá mức, ngay cả khi dinh dưỡng
đầy đủ thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơ bắp và đọng lại
những sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình trao đổi chất. Sẽ làm ảnh
hưởng tới cơ bắp và hệ thần kinh, làm giảm sự nhạy cảm. Do đó, cần thường
xuyên thay đổi vận động của các cơ, chọn hình thức vận động phù hợp với trẻ.
1.5. Vị trí, vai trò của ném bóng trong quá trình phát triển thể chất cho
trẻ mầm non
Ném bóng là một nội dung học trong chương trình GDTC cho trẻ em lứa
tuổi mầm non không chỉ có tác dụng tới sự phát triển của con người mà còn giúp
cho việc hoàn thiện và phát triển nhân cách cũng như đảm bảo, đáp ứng đời sống
cho con người, là nhu cầu không thể thiếu của người hâm mộ thể thao.
Ném bóng không chỉ giúp con người nâng cao thể chất chung mà còn
nhằm phát triển một cách toàn diện các tố chất thể lực như sức nhanh, sức
mạnh, sức bền và khả năng phối hợp vận động. Bên cạnh đó ném bóng còn
giúp cho con người có khả năng thích nghi với những thay đổi phức tạp và đa
dạng của điều kiện môi trường, nâng cao khả năng chống đỡ lại những tác
động có hại của môi trường.
Ném bóng đòi hỏi có sự tham gia hoạt động của toàn bộ cơ thể, vì vậy sẽ
giúp cho cơ thể phát triển toàn diện về hình thái và chức năng sinh lý. Tập luyện