A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lúc sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
"Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan"
Câu thơ trên của Bác Hồ luôn gắn bó với tuổi thơ của các em. Bác đã nói
lên tâm lý của tuổi mầm non biết ăn, ngủ, học hành đó cũng là bước đầu tiên
hình thành nên nhân cách của trẻ thơ. Trẻ thơ như một tờ giấy trắng, đang còn
tinh khiết mà người lớn chúng ta vẽ lên đó những gì tốt đẹp nhất.
Trường mầm non là trường học đầu tiên của mỗi người, nơi đó là phôi thai
đầu tiên nuôi trẻ lớn lên trên con đường học vấn. Chính vì thế những kiến thức
mà nhà sư phạm đưa tới cho trẻ dù chỉ là những kiến thức, tri thức sơ đẳng, đơn
giản song vô cùng quan trọng trong cuộc đời của mỗi đứa trẻ sau này.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Mục
tiêu của giáo dục là hình thành cơ sở ban đầu về nhân cách con người phát triển toàn
diện. Tất cả các hoạt động ở trường mầm non đều góp phần hình thành và phát triển
toàn diện nhân cách cho trẻ cả về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể lực và lao động.
Trong thời gian qua và hiện nay, vấn đề biên giới, biển đảo luôn là vấn đề thời
sự nóng thu hút sự quan tâm của mọi người. Đặc biệt là tình hình Biển Đông rất
phức tạp nguyên nhân chính là do từ phía Trung Quốc đang cố áp đặt chủ quyền,
tham vọng của mình ở khu vực này. Vì vậy, đưa nội dung giáo dục môi trường
biển, đảo vào chương trình học là rất cần lúc này, không những cấp học phổ thông,
sinh viên đại học, cao đẳng mà cần đưa vào ngay từ bậc học mầm non.
Biển, hải đảo của Tổ quốc Việt Nam là những vấn đề lớn được cả xã hội
quan tâm. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biển, đảo có vai trò, vị
trí quan trọng, gắn bó mật thiết, ảnh hưởng to lớn và đã có những đóng góp quan
trọng vào sự tăng trưởng kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.Việc đưa
giáo dục về môi trường biển, hải đảo vào cấp học mầm non là tạo cơ hội cho trẻ
được làm quen, nhận biết về biển, đảo Việt Nam. Trên cơ sở đó hình thành cho
trẻ thói quen, hành vi bảo vệ môi trường biển, hải đảo. Những thói quen đó cần
phải bắt đầu hình thành ngay từ lứa tuổi mầm non.
Là một giáo viên chủ nhiệm lớp, được sống dưới mái trường Nga thạch thân
hôm nay, thế giới ngày mai”. Tôi tin tưởng rằng tương lai mai sau môi trường
biển, hải đảo của Việt Nam sẽ ngày càng tươi đẹp, mãi như câu nói nổi tiếng của
Bác “Rừng vàng biển bạc”.
II. THỰC TRẠNG
1. Thuận lợi:
* Về cơ sở vật chất:
- Nhà trường và lớp học có tương đối đầy đủ các loại đồ dùng, đồ chơi
phục vụ cho các hoạt động của trẻ.
- Nhà trường cũng như bản thân tiếp thu và ứng dụng nhanh các chuyên đề
mới của chương trình giáo dục mầm non mới.
* Đối với bản thân:
- Bản thân tôi là một giáo viên có trình độ đạt trên chuẩn và đặc biệt là
luôn yêu nghề, mến trẻ.
- Tôi luôn tích cực học hỏi và trao đổi cùng đồng nghiệp về đề tài nghiên
cứu, sưu tầm các loại sách báo nên tích lũy được nhiều kinh nghiệm để cung cấp
và đáp ứng nhu cầu về môi trường biển, hải đảo cho trẻ.
- Bản thân nắm vững nội dung, phương pháp hướng dẫn trẻ 5 – 6 tuổi.
Đây là điều kiện cơ bản để tôi hướng dẫn trẻ qua các đề tài, các chủ đề đạt hiệu
quả cao.
* Đối với trẻ:
- Được phụ trách lớp Hoa Sen ở lứa tuổi 5 – 6 tuổi(Mẫu giáo lớn) với tổng
số cháu là 31, trong đó có 20 trẻ gái và 11 trẻ trai. Phần đông các cháu đều khỏe
mạnh, chiếm 97% kênh bình thường.
- Ngôn ngữ của trẻ rõ ràng, chuẩn tiếng phổ thông.
2. Khó khăn:
* Về cơ sở vật chất:
- Đồ dùng, đồ chơi tuy có nhưng còn thiếu nhiều đồ dùng hiện đại như:
Máy vi tính và đồ chơi ngoài trời chưa đủ chủng loại theo yêu cầu.
2
2
3
4
5
Biết tên 1 số vùng
biển và hải đảo nổi
tiếng của Việt Nam.
Phân biệt được những
hành động đúng - sai
đối với môi trường
biển và hải đảo.
Biết ích lợi của biển
và hải đảo mang lại.
Biết 1 số nguyên
nhân gây ô nhiễm/
làm ảnh hưởng đến
biển, hải đảo.
Biết tham gia bảo vệ môi
trường biển, hải đảo.
Đạt
Khá
Số Tỉ lệ
trẻ
%
Trung bình
Số
Tỉ lệ
25.8
31
5
16.1
6
22.6
9
35.5
11
25.8
31
6
22.6
5
29
25.8
5
25.8 10 32.3
Tỉ lệ
%
11 16.1
Kết quả: Tỷ lệ trẻ tốt, khá đạt: 34.2%; Tỷ lệ trẻ TB: 29%; Tỷ lệ trẻ chưa đạt
chiếm: 36.8%.
3
Kết quả trên cho thấy tỷ lệ trẻ tốt, khá rất thấp; Trong đó trung bình và chưa
đạt chiếm tỷ lệ cao. Đứng trước tình hình đó, tôi rất băn khoăn, trăn trở phải làm
gì? Làm như thế nào để giáo dục môi trường biển, hải đảo cho trẻ đạt hiệu quả
cao. Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp để giáo dục trẻ cụ
thể như sau:
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Xây dựng kế hoạch tích hợp nội dung giáo dục môi trường biển, hải đảo vào
các chủ đề phù hợp.
Tôi luôn xác định rằng việc xây dựng kế hoạch tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ
môi trường biển, hải đảo vào từng chủ đề cụ thể là rất cần thiết, vì nó giúp tôi khi nhìn
vào đó sẽ biết chủ đề đó tôi cần cung cấp cho trẻ những nội dung gì và lựa chọn được
các thời điểm phù hợp để tích hợp nội dung đó.
- Xem các hình ảnh về chú bộ
đội hải quân.
- Vẽ tranh về chú bộ đội hải
quân.
- Biết một số
nguyên nhân
gây ô nhiễm
MT biển, hải
đảo
- Do con người khai thác cạn
kiệt tài nguyên biển: đánh bắt cá
tuỳ tiện, khai thác quá mức…
- Do rác thải từ hoạt động của
các nghề đánh, bắt cá, nuôi tôm,
cá, chế biến hải sản thành nước
mắm, tôm, cá đông lạnh không
được xử lý đổ thẳng ra biển.
Nhận xét và tỏ thái độ với hành
vi “đúng”, “sai”, “tốt”, “xấu”
đối với môi trường biển, đảo
Nghề
nghiệp
- Quan tâm
đến bảo vệ
môi trường
4
Thế
giới
động
vật
Thế
giới
thực
vật
Nước
và Các
hiện
tượng
tự
nhiên
- Biết một số - Một số động vật sống ở biển: - Hoạt động học: Khám
động vật sống Các loài tôm, cua, cá, chim phá khoa học “Trò
ở biển.
biển, san hô.
chuyện về các loài cá
nước mặn,“Du lịch dưới
lòng đại dương”
- Biết ích lợi - Cung cấp thức ăn giàu chất - Hoạt động đón và trả
của động vật ở dinh dưỡng: cá thu, tôm, cua, trẻ: Xem phim về động
biển.
thuốc chữa bệnh…
+ Cung cấp thức ăn.
- Biết một số - Nước biển, gió, cát, sóng biển, - Hoạt động học: Khám
hiện tượng tự khi thiên nhiên nổi giận…
phá khoa học “Trò
nhiên:
cát, - Xem hình ảnh thiếu nước ngọt chuyện về nước biển và
nước
biển, trên các đảo.
sóng biển”.
sóng
biển, - Xem hình ảnh về ảnh hưởng - Trò chơi : Tạo sóng biển
nắng, gió, bão, của bão, gió mạnh, sóng thần bằng tay, tai ai tinh .
hạn hán…
gây ảnh hưởng đến môi trường - Hoạt đông trong thời
và đời sống con người.
gian đón, trả trẻ.
- Ý thức, hành - Trò chuyện về các bãi biển - Hoạt động trò chuyện
vi giữ gìn bãi đẹp của nước ta.
với trẻ.
biển,
nước - Trò chuyện về hành vi văn - Hoạt động chơi .
biển
sạch, minh khi đi tắm biển.
- Hoạt động chiều: kể
trong lành.
- Trò chơi: Chọn hành vi đúng- sai chuyện, đọc thơ, ca dao
đối với môi trường biển, hải đảo.
về biển, đảo Việt Nam
- Nghe kể chuyện, đọc thơ, ca
Việt Nam
- Ích lợi của
biển, hải đảo.
Quê
hương,
đất
nước,
Bác
Hồ
- Biết nguyên
nhân làm ô
nhiễm
môi
trường
biển
hải đảo.
- Một số phương tiện giao
thông đường thủy: tàu thủy,
thuyền, ca nô.
- Vẽ, tô màu, cắt dán tranh ảnh
về giao thông trên biển đảo.
- Tạo hình thuyền buồm bằng các
nguyên liệu tự nhiên, phế thải.
- Xem hình ảnh 1 số tai nạn
khi tham gia giao thông trên
biển: Tàu chở dầu bị đắm gây
tràn dầu, trục vớt tàu thuyền
Sầm Sơn – Thanh hóa.
- Hoạt động học:
+ Khám phá khoa học “
Quần đảo Trường Sa” .
+ LQV văn học: Thơ “
Quê em vùng biển”.
- Xem phim, hình ảnh, mô
hình về biển đảo Việt Nam.
- Tô màu, làm sách tranh
du lịch biển Việt Nam.
- Nghe, hát, múa, vận
động theo nhạc các bài hát
về biển đảo quê hương.
+ Cung cấp thức ăn giàu chất - Trò chuyện với trẻ, cho
dinh dưỡng cho con người: cá, trẻ xem phim, hình ảnh về
tôm, cua, sò, ..
Ích lợi của biển, hải đảo.
+ Cung cấp nguyên liệu để làm
thuốc chữa bệnh cho con người:
rong, tảo, cá ngựa….
+ Khu du lịch nổi tiếng để tham
quan, nghỉ ngơi, tắm mát.
+ Phát triển các nghề.
+ Giao thông biển.
+ Cung cấp các mỏ dầu.
- Do rác thải của mọi người khi đi - Trò chuyện về môi
du lịch xả xuống biển, do rác thải trường biển bị ô nhiễm.
của các khu công nghiệp, rác thải - Trò chơi chọn hành vi
sinh hoạt của người dân không đúng - sai với môi
được xử lí đổ thẳng ra biển.
+ Con thấy sóng biển như thế nào?
+ Mọi người đã làm gì khi ở biển?
Ngoài ra, để giúp trẻ nhận ra những việc làm tốt, những việc làm không tốt, việc
nào nên và không nên làm, kích thích trẻ suy nghĩ, bộc lộ tình cảm, tôi kể những câu
chuyện như: Những công dân nhỏ tuổi, Chú bộ đội Trường Sa. Khi kể, tôi giải thích
chậm rãi cho trẻ và cần phải rõ ràng, chính xác; kiên nhẫn lắng nghe trẻ nói, không tỏ
ra khó chịu khi trẻ nói không đúng hoặc hỏi nhiều. Không nhắc lại những câu, từ trẻ
nói sai và gợi ý để trẻ nói lên suy nghĩ của mình trước những điều trẻ đã nghe hoặc là
nhìn thấy. Mục đích là để thông qua những câu chuyện đó, trẻ hiểu thêm các đặc điểm
của các con vật, cây cối trên đảo và công việc của những chú bộ đội canh giữ biển, đảo
thiêng liêng của Tổ quốc.
* Phương pháp thực hành, trải nghiệm.
Tôi đưa ra các tình huống có vấn đề giúp kích thích tính sáng tạo của trẻ, tạo
cơ hội để trẻ sử dụng những kinh nghiệm đã có vào việc giải quyết các vấn đề
nảy sinh trong cuộc sống của trẻ.
Ví dụ: Trong khi trò chuyện với trẻ, tôi đưa ra các tình huống giả định: Điều
gì sẽ xảy ra nếu môi trường biển, đảo bị ô nhiễm ngày càng nặng? Khi ra biển
chơi thấy có nhiều rác ở đó con sẽ làm gì? Nếu thấy một bạn nhỏ đang vứt rác ra
7
biển, con sẽ nói gì với bạn?.
Trên cơ sở câu trả lời của trẻ, tôi trò chuyện giải thích để trẻ hiểu tại sao cần
tham gia bảo vệ môi trường biển, hải đảo.
* Phương pháp trò chơi.
Trò chơi được xem là kỹ năng, là nhu cầu không thể thiếu trong các sinh hoạt
và hoạt động tập thể với trẻ mầm non hiện nay.
Trong quá trình dạy trẻ, tôi luôn chú ý sử dụng phương pháp trò chơi để kích
thích trẻ phát huy tính tích cực, sáng tạo nhờ các tình huống chơi hấp dẫn.
Ví dụ: Trò chơi “Chọn hành vi đúng - sai”.
môi trường biển, đảo cho phụ huynh nắm, từ đó phụ huynh sẽ chú trọng đến việc
giáo dục môi trường biển, hải đảo cho trẻ lúc ở nhà.
Kết quả: - 30/31 trẻ (tỉ lệ 96.8%) nhận biết được 1 số vùng biển và hải đảo Việt Nam.
4. Tích hợp nội dung giáo dục về môi trường biển, hải đảo ở mọi lúc, mọi
nơi, mọi hoạt động trong ngày ở trường mầm non.
Các hoạt động giáo dục trẻ diễn ra trong 1 ngày tại trường mầm non được
bắt đầu từ khi đón trẻ đến khi trả trẻ về với gia đình. Trong từng thời điểm diễn
ra hoạt động, tôi luôn có ý thức lồng ghép các hoạt động có nội dung giáo dục
môi trường biển, hải đảo 1 cách hợp lý, tự nhiên.
4.1 Hoạt động trong thời gian đón, trả trẻ.
Tôi căn cứ vào điều kiện, nội dung của từng hoạt động cụ thể để lựa chọn
nội dung giáo dục về môi trường biển, hải đảo phù hợp để tích hợp.
– Trò chuyện với trẻ và cho trẻ xem phim tài liệu (tranh, ảnh, mô hình) về biển,
đảo Việt Nam.
– Cho trẻ xem tranh, ảnh về biển, hải đảo của Việt Nam.
Ví dụ: - Ở chủ đề “Thế giới thực vật” cho trẻ xem hình ảnh, trò chuyện về các
loài cây: rong, tảo, dừa, đước, phi lao.
Tôi cùng trẻ trò chuyện về chủ đề đang học, tích hợp nội dung giáo dục về
môi trường biển, hải đảo một cách nhẹ nhàng, phù hợp.
Ví dụ: Ở chủ đề Thế giới động vật: Bạn nào giỏi kể tên những động vật sống ở
dưới biển nào?(các loài tôm, cua, cá, chim biển, san hô), ích lợi của động vật ở
biển như thế nào?(Cung cấp thức ăn giàu chất dinh dưỡng: cá thu, tôm, cua, sò,
tổ yến. Cung cấp nguyên liệu để làm thuốc chữa bệnh: rong, tảo, cá ngựa).
Chúng ta phải làm gì để bảo vệ môi trường biển, đảo?
Tổ chức cho trẻ đọc lại các bài thơ : về chú Hải quân, về biển.
4.2 Hoạt động học.
Để việc giáo dục nội dung về môi trường biển, hải đảo phù hợp và diễn ra
một cách nhẹ nhàng, thoải mái, không gây áp lực đối với trẻ tôi đã tiến hành tổ
chức hoạt động học lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường biển, hải
đảo vào hoạt động học không cứng nhắc, gây nhàm chán cho trẻ.
thuyền, mặt trời,cây dừa..). Đàm thoại tranh:
+ Trong bức tranh có hình ảnh gì?
-Trẻ kể nội dung
bức tranh.
+ Các con thấy bức tranh này như thế nào?
-Trẻ tự đưa ra nhận
xét.
+ Màu sắc của tranh ra sao?
- Nhiều mầu sắc..
+ Cô đã sử dụng những kĩ năng tạo hình nào để tạo
- Vẽ, cắt, xé dán.
thành bức tranh này?
+ Bức tranh này được làm từ những nguyên liệu gì?
Giáo dục: Từ những nguyên vật liệu đã dùng rồi chúng ta
không vứt bừa bãi, mà tận dụng để tạo thành bức tranh
- Vâng ạ.
đẹp, đây cũng là hình thức bảo vệ môi trường, đúng
không?.
• Tranh 2:
Cho trẻ xem tranh “ Đảo Trường Sa”: Chú bộ đội canh
gác biển, có núi, thuyền, chim hải âu... Đàm thoại theo
nội dung bức tranh:
-Trẻ kể
+ Các con nhìn thấy hình ảnh gì trong bức tranh?
-Trẻ đưa ra nhận xét
+ Các con có những nhận xét gì về bức tranh này?
+ Bố cục trong tranh ra sao?( Độ xa gần)
10
Cô quan sát, động viên khích lệ các nhóm tích cực hoàn
thành bức tranh với thời gian 15 phút
* Triển lãm tranh Bé yêu biển đảo
- Cho trẻ đặt tên cho bức tranh của đội mình. Cô viết tên
dưới bức tranh trẻ vừa đặt
- Cho trẻ giới thiệu nội dung bức tranh của đội mình
- Cho trẻ trong lớp nhận xét về các bức tranh
Củng cố: Bức tranh nào của các con cô thấy cũng đẹp,
đều nêu lên ý nghĩa về môi trường biển đảo . Và ngay sau
buổi học này cô sẽ mang những bức tranh này treo lên
bảng tuyên truyền của lớp để bố mẹ các con sẽ xem được
tác phẩm của các con ngày hôm nay. Qua các bức tranh cô
cũng muốn gửi tới mọi người thông điệp: Hãy cùng nhau
-Trẻ nêu cách làm..
- Không vứt rác
bừa bãi.
Trẻ hội ý và đưa ra
ý tưởng của đội
mình
Trẻ treo tranh và
cùng nhận xét
tranh của các đội
Trẻ hát và vận
động.
11
của người lớn, nên tôi hướng dẫn trẻ chơi các trò chơi tập thể qua đó tôi tích hợp
nội dung giáo dục về môi trường biển, hải đảo cho trẻ như:
- Xem tranh, ảnh, mô hình về biển, đảo.
- Trò chơi: Chọn hành động đúng về bảo vệ môi trường biển, Xếp tranh về quy
trình làm muối, Tai ai tinh, Phân biệt âm thanh của biển.
- Vẽ, tô màu, cắt dán tranh, ảnh về các phương tiện giao thông trên biển.
- Làm sách tranh (cắt, dán trảnh ảnh) về biển, đảo Việt Nam.
- Làm đồ chơi từ vỏ ốc, sò biển.
Cụ thể như sau:
a. Góc xây dựng: Trẻ xây dựng khu nuôi trồng thủy hải sản.
b.Góc phân vai:
Trẻ chế biến các món ăn hải sản từ biển.
12
Hình ảnh: Các món ăn đặc sản từ biển được các bé nội trợ chế biến
c. Góc tạo hình:
Trẻ làm những bức tranh về biển từ những chiếc lá rụng được trẻ thu lượm
ngoài sân trường
Hình ảnh: Trẻ làm tranh các phương tiện giao thông trên biển trong giờ hoạt động góc
d. Góc Khám phá khoa học
- Cho bé làm quen với chữ viết:
Tôi cho trẻ tìm hiểu, nhận biết tên gọi, vị trí địa lý của một số bãi biển,
đảo ở một số tình, thành bằng cách: Gắn tên một số tỉnh, thành phố trên bản đồ,
giới thiệu và chỉ vị trí địa lý trên bản đồ cho trẻ sau đó cho trẻ nhận biết tên tỉnh,
thành phố và gắn vào đúng vị trí địa lý trên bản đồ Việt Nam”
- Cho bé làm quen với sách, truyện
sau:
Ví dụ 2: Ứng dụng công nghệ thông tin trong thời gian đón, trả trẻ.
Trong thời gian này tôi muốn cung cấp cho trẻ biết về tình trạng ô nhiễm và
suy thoái môi trường biển hiện nay gây trở ngại và thiệt hại cho một số vùng
kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Tôi đã khai thác các hình ảnh và
những đoạn video như: Tràn dầu trên biển, ô nhiễm rác thải trên biển, sinh vật
biển bị suy thoái, cá chết hàng loạt để trẻ xem.
14
Kết quả: - 100% trẻ hứng thú, tập trung tham gia vào các hoạt động.
- 100% trẻ tiếp thu nhanh, khắc sâu nội dung của các hoạt động.
6. Giáo dục về môi trường biển, đảo thông qua hoạt động cô và trẻ cùng
làm đồ dùng, đồ chơi.
Đồ dùng đồ chơi làm cho trẻ vui vẻ, sung sướng khêu gợi ở trẻ thái độ tích cực
với thế giới xung quanh, là phương tiện giúp trẻ thực hiện các hoạt động, đồng
thời cũng chính là cách giúp trẻ tiếp thu bài học một cách sinh động, nhiệt tình
hơn. Vì vậy tôi đã tận dụng các nguyên liệu sẵn có của địa phương, các nguyên
vật liệu phế thải như ( chai nhựa, những quả bóng nhựa củ..), xốp màu, giấy bìa
cứng, vỏ ngao, sò, ốc, hến … hướng dẫn trẻ và cùng với trẻ làm đồ dùng đồ chơi
có nội dung giáo dục về môi trường biển, đảo và cho trẻ tự tay mình trang trí
mô hình bằng những đồ dùng đồ chơi mình làm được. Cô và trò cùng làm được
nhiều đồ dùng, đồ chơi bổ xung vào các góc, đặc biệt là mô hình quần đảo
Trường Sa, Hoàng Sa để giúp trẻ biết được trên đảo có ai? Các chú làm gì ở trên
đảo? chúng ta được sống những ngày yên bình được đến lớp, đến trường cũng
nhờ có các chú ngày đêm canh giữ biển trời.
Hình ảnh:Bé làm đồ dùng đồ chơi từ vỏ ngao, sò.
Kết quả: 100% trẻ có tình yêu với biển, đảo, yêu chú bộ đội, khát khao
muốn trở thành chú bộ đội canh giữ biển trời Tổ quốc.
8 . Sử dụng biện pháp nêu gương
Tâm lý của con người ai cũng thích được khen ngợi hơn là chê. Nhất là
đối với trẻ, lúc nào cũng muốn được khen và khen nhiều. Hằng ngày vào giờ
nêu gương cuối ngày trước khi cắm cờ, tôi cho trẻ tự nhận xét về mình, về
bạn. Trong ngày có bạn nào đó có hành vi, việc làm tốt, khen ngợi những hành
vi, việc làm tốt của trẻ đã thực hiện có ý nghĩa bảo vệ môi trường biển, hải đảo.
Tôi nêu gương ra cho cả lớp và tặng trẻ một bông hoa. Tôi làm mỗi màu hoa
một nội dung yêu cầu.
16
Hoa màu đỏ: Người bạn thông thái của biển, hải đảo(trẻ nhớ được nhiều
vùng biển và hải đảo Việt Nam).
Hoa màu vàng: Người bạn của sách (bé làm sách tranh, làm tập san bảo
vệ môi trường biển đảo).
Hoa màu hồng: Người bạn đồ chơi (trẻ làm được nhiều đồ chơi đẹp từ vỏ
ốc, ngao, sò)
Hoa màu tím: Người bạn của môi trường (xem hình ảnh, video nói được
một số nguyên nhân gây ô nhiễm/ ảnh hưởng biển, đảo và có ý thức tham gia
bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, hải đảo).
Hoa màu xanh: Người bạn của biển (Biết ích lợi của biển, đảo mang lại)
Khi trẻ nhận được bông hoa màu gì, tôi hỏi cả lớp vì sao bạn nhận được
bông hoa màu đó?
Ngoài ra vào mỗi buổi sáng tôi thường đưa ra những tiêu chuẩn bé
ngoan về môi trường biển, hải đảo để cho trẻ thực hiện.
Kết quả: 31/31 trẻ ( Tỉ lệ: 100%): Trẻ hứng thú, tích cực tham gia vào
tất cả các hoạt động để cuối ngày được cắm cờ hoa.
9. Cô phải là tấm gương chuẩn mực.
phụ huynh biết được giáo dục về môi trường biển, đảo là bước đầu giáo dục tình
yêu và ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo ngay từ bậc học mầm non.
Góc tuyên truyền tôi dành ra 1 góc để viết bài tuyên truyền có nội dung về
môi trường biển, đảo dành cho phụ huynh.
Trao đổi với phụ huynh trong giờ đón, trả trẻ về các hoạt động giáo dục môi
trường biển, đảo trong ngày để về nhà phụ huynh củng cố thêm kiến thức cho trẻ.
Tôi phát động phong trào thu gom phế liệu sau dịp tết nguyên đán để làm
mô hình, đồ dùng, đồ chơi. Phụ huynh học sinh cũng rất ủng hộ mang các
nguyên vật liệu phế thải, sách báo cũ có liên quan đến nội dung giáo dục về môi
trường biển, đảo đến lớp cho cô.
Kết quả: - 31/31(tỉ lệ 100%) trẻ luôn nhắc bố mẹ mang nguyên vật liệu phế thải
đến lớp cho cô.
- 100% phụ huynh của lớp tôi ủng hộ nhiệt tình mọi phát động của trường, lớp.
IV. Kiểm nghiệm:
Qua các công việc thường xuyên hàng ngày, với những kinh nghiệm đúc
rút của mình tôi thấy lớp tôi đã chuyển biến rõ rệt cụ thể là kết quả như sau:
1. Đối với trẻ:
Khích lệ được trí tưởng tượng, sự tò mò của trẻ, trẻ có hứng thú học, tiếp
thu kiến thức nhanh về môi trường biển, hải đảo. Trẻ rất thích tham gia làm đồ
dùng đồ chơi từ các nguyên liệu, yêu lao động, thích tạo ra cái đẹp. Và trẻ bước
đầu có khái niệm về môi trường biển và hải đảo của nước ta.
Sau gần 1 năm nghiên cứu và thực hiện kết quả khảo sát trên lần 2 như sau:
Bảng 2: Kết quả cuối năm
Tổng
Kết quả trên trẻ
TT Nội dung khảo sát
số trẻ
Đạt
Tốt
trẻ
%
Số
trẻ
Tỉ lệ
%
Số
trẻ
Tỉ lệ
%
Số
trẻ
Tỉ lệ
%
31
18
58.1
12
38.7
58.1
13
41.9
0
0
0
0
31
16
54.8
14
45.2
1
3.2
0
Được phụ huynh tin yêu, tín nhiệm, trẻ gần gũi và yêu quý cô hơn.
3. Về phụ huynh:
Phụ huynh thấy được trách nhiệm của mình và cùng với cô giáo hun
đúc cho trẻ tình yêu với biển đảo. Qua góc tuyên truyền và các cuộc gặp gỡ
trao đổi phụ huynh đã chú ý rèn luyện và quan tâm đến trẻ nhiều hơn, từ đó
luôn ủng hộ các nguyên vật liệu để trang trí góc lớp, các cây xanh, cây cảnh,
sách báo có nội dung giáo dục môi trường biển, hải đảo có tác dụng với trẻ.
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I. KẾT LUẬN
Qua lần khảo sát thứ hai cùng 1 nội dung tôi đã rút ra kết luận: Thật
không phải dễ để có 1 kết quả tốt, mà cô giáo có vai trò quan trọng trong quá
trình giáo dục về môi trường biển, đảo cho trẻ.
Từ những biện pháp đã áp dụng tôi đã rút ra nhiều bài học bổ ích: Bản thân cô
giáo phải kiên trì và chịu khó học hỏi kinh nghiệm, nghiên cứu tài liệu để không
ngừng nâng cao nghiệp vụ, luôn tìm tòi cải tiến phương pháp giảng dạy phù hợp với
đối tượng, thường xuyên dự giờ giáo viên dạy giỏi để rút kinh nghiện cho bản thân.
Phải nắm vững nguyên tắc xây dựng nội dung giáo dục về môi trường
biển, hải đảo cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi, đảm bảo những nguyên tắc như: Tính mục
tiêu, tính khoa học và tính phát triển. Nội dung phải góp phần giáo dục ở trẻ tình
yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức bảo vệ, giữ gìn biển đảo quê
hương Việt Nam.
Nên xây dựng bài giảng theo hướng tích hợp nhẹ nhàng, hợp lý trong các
chủ đề, các hoạt động, không gây quá tải, nặng nề trong thực hiện chương trình
giáo dục mầm non.
Ngoài ra, nội dung giáo dục nên mở rộng theo hướng đồng tâm, phát triển
từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp, gắn với thực tiễn nơi trẻ sống.
Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi từng trẻ để có những phương pháp
biện pháp giáo dục cụ thể. Xác định được nhiệm vụ của mình là đem tình thương,
lòng yêu trẻ bằng trách nhiệm của mình. Tình yêu thương ấy thể hiện ở lòng nhiệt
tình say mê công việc bằng lòng yêu nghề, yêu trẻ, yêu trẻ như chính con mình.
Thanh Hóa, ngày 3 tháng 4 năm 2015
CAM KẾT KHÔNG COPY
Tác giả
Mai Thị Sen
20