LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn Th.s
Khổng Cát Sơn - người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này.
Xin cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong Ban giám hiệu,
phòng Đào tạo, Thư viện, ban chủ nhiệm khoa Tiểu học - Mầm non Trường Đại
học Tây Bắc và các bạn sinh viên K53 ĐHGD Mầm non B đã tạo điều kiện cho
em học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này.
Xin cảm ơn Ban giám hiệu cùng tất cả các cô giáo và các cháu Mẫu giáo (4
- 5 tuổi) thuộc ba trường Mầm non (Trường Mầm non Quyết Thắng - thành phố
Sơn La - Sơn La, Trường Mầm non Hoa Phượng - thành phố Sơn La - Sơn La,
Trường Mầm non Gia Hanh - Can Lộc - Hà Tĩnh) mà em đã tiến hành thực
nghiệm, đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài.
Khóa luận chắc chắn còn rất nhiều thiếu sót, hạn chế, em kính mong nhận
được sự quan tâm, góp ý của quý thầy, cô và các bạn để khóa luận của em hoàn
thiện hơn.
Sơn La, tháng 05 năm 2016
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thu
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 3
3. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 6
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .................................................................. 6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 6
6. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 7
3.1. Những vấn đề chung .................................................................................... 56
3.1.1. Nghiên cứu một số trò chơi dân gian ........................................................ 56
3.1.2. Thiết kế trò chơi ........................................................................................ 56
3.2. Thiết kế một số trò chơi dân gian ................................................................. 56
3.2.1. Mục đích thiết kế ....................................................................................... 56
3.2.2. Nhiệm vụ thiết kế ...................................................................................... 56
3.2.3. Nội dung của thiết kế ................................................................................ 56
3.2.4. Phương pháp thiết kế ................................................................................. 56
3.2.5. Cấu trúc thiết kế ........................................................................................ 57
3.2.6. Thiết kế thể nghiệm ................................................................................... 57
Tiểu kết chương 3 ................................................................................................ 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 63
1. KẾT LUẬN ..................................................................................................... 63
2. KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM ................................................................................. 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 65
PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước Việt Nam ta đẹp vô cùng. Dân tộc ta từ ngàn năm xưa đã xây dựng
cho mình một nền văn hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó ngôn ngữ
đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người trong sự hình thành và
phát triển của loài người.
Thật vậy, một nhà văn người Pháp có nói rằng: “Ngôn ngữ là chiếc gương để
ta soi mình vào đó”. Ngôn ngữ chính là phương tiện để tư duy, là cơ sở của mọi
sự suy nghĩ. Nó đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển trí tuệ và các quá trình
tâm lý khác, chính vì vậy mà trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non
cần hình thành và phát triển ngôn ngữ.
Đời sống con người ngày càng phong phú và phát triển hơn đó là nhờ có
Ngay từ khi mới chào đời tiếng ru ầu ơ của bà, của mẹ đã dần khắc vào tâm
hồn trẻ, nó thấm dần vào máu thịt nuôi dưỡng những tâm hồn còn non dại ấy.
Có lẽ chính vì điều đó mà trẻ dần nhận thức mối quan hệ được bắt đầu bằng
phương tiện giao tiếp chủ yếu là ngôn ngữ.
Có thể nói rằng những hiểu biết về đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ nói
trên là cơ sở lý luận để người viết nghiên cứu những phương pháp, biện pháp
phát triển ngôn ngữ ở trẻ qua hoạt động vui chơi, cụ thể ở đây là những trò chơi
dân gian.
Mặt khác, trẻ em không chỉ cần được chăm sóc sức khỏe, được học tập, mà
quan trọng nhất trẻ cần phải được thỏa mãn nhu cầu vui chơi. Trò chơi và tuổi
thơ là hai người bạn thân thiết, không thể tách ra được. Chính trò chơi đã giúp
cho sự phát triển của trẻ được toàn diện, cân bằng và nhịp nhàng, đó là phương
tiện hiệu quả nhất giúp trẻ phát triển. Xuất phát từ vai trò quan trọng của hoạt
động vui chơi đối với trẻ em và nhu cầu hưởng thụ hoạt động này, chúng tôi
thấy việc tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi dân gian là một việc làm cần thiết và
rất có ý nghĩa.
Di sản văn hóa truyền thống Việt Nam có nhiều loại hình khác nhau, trong
đó có thể nói, trò chơi dân gian cũng là một di sản văn hoa quý báu của dân tộc.
Trò chơi dân gian là những trò chơi được sáng tạo, lưu truyền tự nhiên, rộng rãi
từ thế hệ này sang thế hệ khác, mang đậm bản sắc văn hóa dân gian. Nó được
kết thành từ quá trình lao động và sinh hoạt, trong đó nó tích tụ cả trí tuệ và
2
niềm vui sống của bao thế hệ người Việt xưa. Đặc biệt đối với trẻ em, trò chơi
dân gian với những chức năng đặc biệt của nó đã mang lại cho thế giới trẻ thơ
nhiều điều thú vị và bổ ích, đồng thời thể hiện nhu cầu giải trí, vui chơi, quyền
được chia sẻ niềm vui của các em với bạn bè, cộng đồng. Nó làm cho thế giới
xung quanh các em đẹp hơn và rộng mở, tuổi thơ của các em sẽ trở thành những
kỉ niệm quý báu theo suốt cuộc đời; làm giàu nguồn tình cảm và trí tuệ cho các
từ các lĩnh vực khác nhau như: Tâm lí học, triết học, xã hội học, ngôn ngữ học,
giáo dục học,…đi sâu, tìm tòi, nghiên cứu và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn
đáng kể
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển của trẻ, tiêu biểu là công
trình nghiên cứu của: L.X.Vu gôtxky, V.X. Mukhina, F.D. Usinxky, R.O.Shor,
A.Z. Ruxkai,…
Ví dụ:
V.X. Mukhina với Tâm lí học mẫu giáo: Mukhina đã nghiên cứu về tâm lí
của em trong độ tuổi Mẫu giáo, để thấy được sự phát triển tâm lý của trẻ qua các
giai đoạn trong độ tuổi Mẫu giáo nhằm giúp các nhà nghiên cứu đưa ra các biện
pháp nhằm phát triển toàn diện cho trẻ dựa trên cơ sở tâm lý của trẻ.
Winhem Preyer với Trí óc của trẻ em: Một tác phẩm miêu tả chi tiết về sự
phát triển của trẻ em, phát triển về vận động, hình thành ngôn ngữ và trí nhớ cụ
thể qua cậu bé Alex. Tác giả đã giúp chúng ta thấy rõ được quá trình phát triển
của bé Alex để từ đó đưa ra các cách thức nhằm phát triển toàn diện cho trẻ phù
hợp với độ tuổi.
Jonh. B. Wáton với Chăm sóc về tâm lí cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ: Nghiên
cứu về tâm lí của trẻ ngay từ khi mới sinh và cách chăm sóc chúng. Dựa vào đó,
những nhà nghiên cứu về trẻ em có thể đưa ra các phương pháp chăm sóc trẻ
nhỏ ở các giai đoạn phát triển của trẻ.
A. B. Zaporojets với Cơ sở tâm lí học của giáo dục mẫu giáo: Những
nghiên cứu chuyên biệt về trẻ nhỏ từ lúc mới sinh đến 6 tuổi.
M.M.Konxova với Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học: Các hình thức, biện
pháp để nhằm dạy nói cho trẻ trước khi vào tuổi đi học. Tác phẩm đã giúp
những nhà nghiên cứu, các bậc phụ huynh có những định hướng và chọn lựa cho
mình biện pháp dạy nói phù hợp với từng trẻ.
4
5
của trẻ ở các độ tuổi và đưa ra các phương pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho
trẻ em ở độ tuổi mầm non.
Luận án tiến sĩ Nguyễn Thị Oanh: Cơ sở của việc tác động sư phạm đến
sự phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non. Dựa trên cơ sở của nghành sư phạm tác
giả đã nghiên cứu tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em mầm non.
Qua các công trình nghiên cứu trên là những định hướng và là cơ sở quý
báu để tôi thực hiện đề tài này.
3. Mục đích nghiên cứu
Qua những hiểu biết về đặc điểm của trò chơi dân gian với sự phát triển ở
trẻ 4 - 5 tuổi, về đặc điểm tâm lí của trẻ Mầm non tác giả đã mạnh dạn đưa ra
một số biện pháp, quy trình tổ chức các trò chơi dân gian nhằm nâng cao hiệu
quả việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua một số trò
chơi dân gian.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Trẻ 4 - 5 tuổi (60 trẻ), giáo viên (20 giáo viên) ở ba trường Mầm non.
Trường Mầm non Quyết Thắng - thành phố Sơn La - Sơn La
Trường Mầm non Hoa Phượng - thành phố Sơn La - Sơn La
Trường Mầm non Gia Hanh - Can Lộc - Hà Tĩnh
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghiên
cứu và khảo sát thực trạng trẻ 4 - 5 tuổi ở trường Mầm non.
- Xây dựng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non trong độ tuổi
từ 4 - 5 tuổi thông qua trò chơi dân gian.
thấy mức độ phát triển ngôn ngữ thông qua các trò chơi dân gian cho trẻ mầm
non từ 4 - 5 tuổi ở các trường mầm non hiện nay ngày càng bị hạn chế đi rất
nhiều. Hoặc nếu có thì chưa gây được hứng thú thực sự đối với trẻ, eo hẹp về
cách bố trí thời gian tổ chức trò chơi nên chưa đạt được hiệu quả cao. Do vậy,
nếu các biện pháp trong đề tài mang tính khả thi thì sẽ góp phần nâng cao hiệu
quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi dân gian, góp phần vào
phong trào đổi mới giáo dục.
7
9. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung
đề tài gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu
Trong chương này tôi đề cập tới những cơ sở lí luận về ngôn ngữ của trẻ
Mẫu giáo, cụ thể là trẻ 4 - 5 tuổi, đặc biệt là trò chơi dân gian.
Chương 2: Một số biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
từ 4 - 5 tuổi thông qua trò chơi dân gian.
Ở chương này tôi đã xây dựng một số biện pháp, quy trình vận dụng
phương pháp giáo dục Mầm non mới để tổ chức các trò chơi dân gian và thiết kế
một số mẫu giáo án theo phương pháp mới về trò chơi dân gian.
Chương 3: Thiết kế thể nghiệm một số trò chơi dân gian cho trẻ 4 - 5 tuổi
Tác giả thiết kế một số biện pháp để ứng dụng nhằm phát triển ngôn ngữ
cho trẻ thông qua một số trò chơi dân gian nhằm để chứng minh tính khả thi của
biện pháp.
8
NỘI DUNG
Như vậy, quá trình phát triển tâm lí của trẻ ở giai đoạn mẫu giáo diễn ra theo
nhiều giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp với nhiều cung bậc khác nhau dần hình
thành nhân cách con người trong trẻ.
1.1.1.1. Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo
* Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo bé
Ở lứa tuổi mẫu giáo bé, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản. Đó là sự
chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực chất đó là
việc chuyển những định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm. Quá trình tư
duy của trẻ đã bắt đầu dựa vào những hình ảnh của sự vật và hiện tượng đã có
trong đầu, cũng có nghĩa là chuyển từ tư duy trực quan - hành động sang kiểu tư
duy trực quan - hình tượng.
Việc chuyển từ kiểu tư duy trực quan - hành động sang kiểu tư duy trực quan
- hình tượng là nhờ vào trẻ tích cực hoạt động với đồ vật, hoạt động đó được lặp
đi lặp lại nhiều lần và được nhập tâm thành hình ảnh, biểu tượng trong óc. Trẻ
chỉ suy nghĩ về những điều mà chúng thích và dòng suy nghĩ thường bị cuốn hút
vào ý thích riêng của mình, bất chấp cả tác động khách quan.
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo bé, do chưa biết phân tích tổng hợp, chưa biết một
sự vật bao gồm nhiều bộ phận kết hợp lại thành một tổng thể, chưa xác định
được vị trí, quan hệ giữa bộ phận này và bộ phận kia trong một sự vật.
* Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo nhỡ
Nếu ở tuổi mẫu giáo bé, trẻ thường hành động định hướng bên ngoài - tức là
bằng tư duy trực quan hành động thì sang độ tuổi mẫu giáo nhỡ, trẻ đã có hành
động dựa vào các biểu tượng - tức là kiểu tư duy trực quan, hình tượng đã bắt
đầu chiếm ưu thế.
Khi hành động với các biểu tượng trong óc, đứa trẻ hình dung được các hành
động thực tiễn với các đối tượng và kết quả của những hành động ấy. Bằng con
đường đó trẻ có thể giải được nhiều bài toán thực tiễn đặt ra cho mình.Tư duy
trực quan - hình tượng phát triển mạnh cho phép trẻ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ giải
được nhiều bài toán thực tiễn mà trẻ thường gặp trong cuộc sống. Tuy vậy, vì
với những khía cạnh: khối lượng chú ý của trẻ tăng lên, tính bền vững của chú ý
phát triển và hình thành chú ý có chủ định.
Sự tăng về khối lượng chú ý biểu hiện ở chỗ trẻ mẫu giáo trong một lúc có
thể quan sát, tri giác rõ ràng không chỉ một mà có thể là vài đối tượng khác
11
nhau. Kết quả quan sát có thể tăng lên nếu người lớn dạy cho trẻ biết so sánh sự
giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng.
Hoạt động của trẻ lứa tuổi mẫu giáo ngày càng phức tạp, do đó trí tuệ của trẻ
cũng ngày một phát triển hơn, khả năng chú ý được tập trung và bền vững hơn.
Nếu đầu tuổi mẫu giáo, trẻ có thể tập trung vào một trò chơi khoảng 30 phút thì
vào cuối tuổi mẫu giáo, trò chơi có thể kéo dài khoảng 90 phút.
Trò chơi của trẻ càng phản ánh nhiều hành động và nhiều mối quan hệ phức
tạp của con người trong xã hội, càng nảy sinh nhiều tình huống mới bao nhiêu
thì sự chú ý của trẻ vào trò chơi càng tập trung và bền vững bấy nhiêu. Điều đó
phản ánh sự chú ý của trẻ mẫu giáo phụ thuộc vào hứng thú của chúng đối với
các đối tượng xung quanh.
1.1.1.3.Đặc điểm trí nhớ của trẻ mẫu giáo
Có thể nhận xét rằng trí nhớ của trẻ mẫu giáo mang tính trực quan hình
tượng, tính không chủ định nhờ tác động một cách tự nhiên của những ấn tượng
hấp dẫn bên ngoài.Trí nhớ không chủ định đang chiếm ưu thế ở tuổi mẫu giáo
mà biểu hiện rõ nhất là ở trẻ mẫu giáo bé và đi liền với nó là trí nhớ máy móc.
Trí nhớ không chủ định có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của trẻ vì nhờ
đó mà trẻ có thể ghi nhớ nhẹ nhàng nhiều ấn tượng đẹp đẽ cũng như những tài
liệu cần thiết cho trẻ sau này.
Vào cuối tuổi mẫu giáo, trí nhớ của trẻ có bước biến đổi về chất: trí nhớ có
chủ định xuất hiện và phát triển mạnh. Đó là loại trí nhớ có mục đích và phải nhờ
đến công cụ tâm lí như ngôn ngữ, sơ đồ, biểu đồ, chữ viết và mọi quy ước. Nhờ
tính mục đích của hành động mà vai trò của trí nhớ được thay đổi trong đời sống
thức thế giới xung quanh, mong muốn hòa nhập với xã hội của loài người.
1.1.2.2. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ
* Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ về thế giới
xung quanh.
Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi sự suy nghĩ và là công cụ của tư duy.Trẻ
em có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh. Trong quá trình
nhận thức những sự vật và hiện tượng, các em phải sử dụng từ ngữ để phân biệt
được vật này với vật khác, biết được tên gọi, màu sắc, hình dáng, công dụng và
13
những thuộc tính cơ bản của vật,…(ví dụ: Trẻ làm quen với xe đạp, trẻ biết được
đặc điểm, cấu tạo, công dụng…của xe đạp và nói được từ “xe đạp”).
Trẻ tiếp thu kiến thức từ môi trường xung quanh thông qua khả năng phân
tích, so sánh, tổng hợp, trên cơ sở đó trẻ khái quát về vật. Ví dụ, khi trẻ nhận xét
về xe đạp:
Trẻ nhìn thì biết được màu đỏ (xanh).
Trẻ quay bàn đạp thì bánh xe quay.
Trẻ sờ vào sườn xe thì biết nó láng, bóng.
Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu tượng đã hình thành ở trẻ.
Trẻ không chỉ nhận biết các sự vật hiện tượng xung quanh gần gũi, mà còn
tìm hiểu những sự vật hiện tượng không xuất hiện trực tiếp trước mắt trẻ, những
sự vật xảy ra trong quá khứ, tương lai. Như vậy, ngôn ngữ không chỉ giúp cho
trẻ củng cố kiến thức mà còn mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh.
Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu về chính mình, về con người và khám phá các sự
vật xung quanh cũng như những biến cố đang xảy ra trong đời sống, hay các
hiện tượng xung quanh như: nắng, mưa, nóng, lạnh,…qua đó trẻ có thể nhận
thức về môi trường xung quanh.
Thật vậy, hầu hết trẻ thơ đều có một tâm hồn nhạy cảm. Đối với các em, thế
gợi ý của người lớn, biết so sánh khái quát và dần dần hiểu được bản chất của sự
vật, hiên tượng, hình thành những khái niệm sơ đẳng. Sự hiểu biết của trẻ về thế
giới xung quanh ngày càng rộng lớn hơn.
Những câu hỏi, câu trả lời hay những câu nói của trẻ ngày càng được hoàn
thiện hơn. Số lượng các câu nói đúng ngữ pháp cũng được tăng lên một cách rõ
rệt, các thành phần trong câu nói được phát triển. Bởi lẽ trẻ biết lắng nghe các
câu trả lời, câu nói của người khác.
Đặc biệt, ở lứa tuổi này trẻ thích tham gia, hòa nhập với tập thể. Trẻ hứng thú
đặc biệt với việc rèn luyện những kĩ năng vận động mới học được và sử dụng
những kĩ năng đó để hoạt động, di chuyển. Trẻ biết sử dụng vốn ngôn ngữ của
mình để tham gia vào các trò chơi cùng bạn bè, cô giáo một cách say sưa, nhiệt
tình và giao tiếp khéo léo hơn.Trẻ có thể diễn tả những hành động phức tạp và
hăng hái kể về những điều xảy ra với nó.
15
Khả năng tiếp thu và sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp hằng ngày của trẻ
ngày càng tốt hơn. Trẻ rất thích tưởng tượng, chúng đã biết yêu cái thiện, ghét
cái ác. Chính vì vậy, trẻ rất thích nghe những câu chuyện về động vật dễ thương,
thiện ác phân minh, kết thúc có hậu. Trẻ không những tự mình xây dựng cốt
truyện mà còn có thể thuật lại những câu chuyện nó đã nghe người khác kể.
* Ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất. Không ai có thể phủ nhận
ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người. Ngay cả những bộ lạc lạc hậu
nhất mà người ta mới phát hiện ra, họ cũng dùng ngôn ngữ để nói chuyện với
nhau. Đặc biệt đối với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với
những người xung quanh, hình thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ dùng
để diễn đạt, phát biểu để trình bày ý tưởng nguyện vọng của mình cho người
khác biết.
chuyện hết sức hấp dẫn. Những câu thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu, những bài
đồng dao ngộ nghĩnh có đoạn điệp khúc nhắc đi nhắc lại dễ nhớ…khiến trẻ
muốn đọc theo và sẽ nhớ rất lâu. Đây chính là thời cơ thuận lợi để trẻ tiếp xúc
với ngôn ngữ văn học, đặc biệt là văn học dân gian. Điều đó giúp trẻ phát triển
trí tưởng tượng, nó giúp trẻ sáng tạo ra những cái mới, hình thành những ước
mơ táo bạo, những hoài bão về cuộc sống tương lai.
* Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành thành viên
của cộng đồng.
Mặt khác, để bày tỏ những nhu cầu mong muốn của mình với những thành
viên trong cộng đồng, trẻ sử dụng ngôn ngữ để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân
mình. Điều đó giúp trẻ hòa nhập hơn với mọi người xung quanh.
* Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thể lực cho trẻ
Giáo dục thể lực đối với trẻ em là quá trình tác động chủ yếu vào cơ thể của
trẻ, việc vận động, rèn luyện cơ thể, giữ gìn vệ sinh và có chế độ sinh hoạt hợp lí
nhằm bảo vệ và làm cho cơ thể trẻ phát triển hài hòa, cân đối, sức khỏe tăng
cường đạt đến trạng thái hoàn thiện về mặt thể chất.
Trong chế độ sinh hoạt hàng ngày, cô giáo và người lớn đã dùng chính ngôn
ngữ của mình để nhằm hướng dẫn, chỉ bảo trẻ thực hiện tốt các yêu cầu do mình
đề ra góp phần làm cho cơ thể trẻ phát triển. Đặc biệt, trong giờ thể dục giáo
17
viên đã tạo điều kiện giúp trẻ thực hiện chính xác các động tác làm cho cơ thể
được phát triển cân đối bằng chính lời nói của mình.
Ngoài chế độ sinh hoạt hàng ngày, trẻ cần phải được ăn ngon, ăn đủ chất thì cơ
thể mới phát triển hoàn thiện được. Để động viên, khích lệ trẻ ăn được thì người
lớn đóng một vai trò rất quan trọng.
1.1.2.3. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ (4 - 5 tuổi)
Sự phát triển ngôn ngữ gắn liền với sự mở rộng giao lưu của trẻ đối với thế
dụng những kỹ năng đó để hoạt động, di chuyển. Trẻ biết sử dụng vốn ngữ của
mình để tham gia vào các trò chơi cùng bạn bè, cô giáo một cách say sưa, nhiệt
tình và giao tiếp khéo léo hơn. Trẻ có thể diễn tả những hành động phức tạp và
hăng hái kể về những điều xảy ra với nó. Khả năng tiếp thu và sử dụng tiếng mẹ
đẻ trong giao tiếp hằng ngày của trẻ ngày càng tốt hơn. Trẻ rất thích tưởng
tượng, biết yêu cái thiện, ghét cái ác. Chính vì vậy, trẻ rất thích nghe những câu
chuyện về động vật dễ thương, thiện ác phân minh, kết thúc có hậu. Trẻ không
những tự mình xây dựng cốt truyện mà còn có thể thuật lại những câu chuyện nó
đã nghe người khác kể.
1.1.3. Trò chơi dân gian với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
1.1.3.1. Khái niệm trò chơi dân gian
Trò chơi dân gian là một loại hoạt động văn hóa dân gian dành cho trẻ em,
được lưu truyền từ vùng này sang vùng khác, từ đời này sang đời khác nhằm
thỏa mãn nhu cầu vui chơi giải trí và giáo dục trẻ em một cách tinh tế nhẹ
nhàng. Những trò chơi này được tổ chức nhằm tạo cho trẻ những cảm giác hứng
thú, thoải mái, phát triển vận động kết hợp với lời nói.
1.1.3.2. Đặc điểm của trò chơi dân gian trẻ em
Trò chơi dân gian là một loại hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc của mỗi
dân tộc. Không có dân tộc nào lại không có những trò chơi riêng cho trẻ em. Bởi
trò chơi dân gian thường đơn giản, dễ chơi, dễ hòa nhập. Ở bất cứ đâu, trong gia
đình, trong lớp học hay ở thôn xóm, trong các bản làng đều có thể tổ chức được
trò chơi dân gian phù hợp: ở sân nhỏ thì có thể chơi “ô ăn quan”, “đá
cầu”,…rộng hơn thì chơi “bịt mắt bắt dê”, “rồng rắn lên mây”, “trốn tìm”, “mèo
đuổi chuột”,…
Vật liệu để chơi trò chơi dân gian cũng thật đơn giản, không cầu kỳ, tốn kém,
dễ kiếm, dễ tìm, có thể sử dụng ngay những vật liệu có sẵn trong thiên nhiên
19
như: nắm sỏi, cọng cỏ, lá hay những mẫu gỗ,…chúng có thể nhặt trong vườn,
đồng dao là biện pháp nói ngược, trái hẳn với cái logic thực tế, logic của cuộc
đời, chính vì nó đảo như vậy mới tạo sự hấp dẫn. Chẳng hạn như:
“Trời làm một cơn mưa rào
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô
Thóc giống đuổi chuột trong bồ
Đong đong cân cấn đuổi có ngoài ao”.
Hay là:
“Bao giờ cho đến tháng ba
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng
Hùm nằm cho lợn liếm lông
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi
Nắm xôi nuốt trẻ lên mười
Chân giò, chai rượu nuốt người lao đao
Lúa mạ nhảy lên ăn bò
Cỏ năn, cỏ lác rình mò bắt trâu
Gà con đuổi bắt diều hâu
Chim rì đánh đuổi vỡ đầu bồ nông”.
Hoặc:
“Bao giờ cho chuối có cành
Cho sung có nụ, cho hành có hoa
Bao giờ cho khỉ đeo hoa
Cho voi đánh sập, cho gà nhuộm răng”.
Biện pháp ngộ nghĩnh này rất phù hợp với không khí của trò chơi, vì nó làm
cho trẻ vui thích, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của chúng. Mặt khác, nội
dung của những bài đồng dao chứa đựng nội dung giáo dục cho trẻ nhiều mặt.
Bởi lẽ đồng dao có chứa đựng những lời mộc mạc, hồn nhiên, có vần, có điệu.
Đồng dao là của trẻ em nên đồng dao có tính chất vui chơi phù hợp với tâm sinh
lí của trẻ. Đồng dao gợi lên tình yêu hồn nhiên của trẻ đối với con ong, con cò,