BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ THỊ THANH MAI
biÖn ph¸p sö dông
t¸c phÈm v¨n häc gi¸o dôc t×nh c¶m gia ®×nh
cho trÎ mÉu gi¸o 5 - 6 tuæi
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lã Thị Bắc Lý
Hà Nội, 2014
Lêi c¶m ¬ n
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo
PGS.TS. Lã Thị Bắc Lý - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo khoa Giáo dục mầm non -
Trường Đại học sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, Trung tâm Thư
viện - trường Đại học sư phạm Hà Nội, Ban giám hiệu, các giáo viên dạy lớp MG 5-6
tuổi trường Mầm non Phúc Lợi, hệ thống trường mầm non tư thục Vinscholl, quận
Long Biên, thành phố Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thiện đề
tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là những người thân trong
gia đình đã luôn động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Lê Thị Thanh Mai
2
lớn lao trong việc GDTCGĐ cho trẻ. Lứa tuổi mầm non, đặc biệt là độ tuổi MGL (5-6
tuổi), là thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất trong cuộc đời mỗi con người. Tình cảm của trẻ
phát triển rất mãnh liệt, nhất là tính đồng cảm, dễ xúc cảm Việc cho trẻ tiếp xúc với
TPVH không chỉ giúp trẻ được làm quen với một loại hình nghệ thuật mà các em còn học
được ở đó bao điều tốt đẹp trong cách ứng xử giữa con người với con người, giữa con người
4
với vạn vật xung quanh. Từ những hiểu biết về xã hội, tình nghĩa anh em bạn bè, trẻ biết phân
biệt cái tốt, cái xấu, có thái độ đúng đắn, biết yêu cái đẹp và hướng tới những hành vi ứng xử
phù hợp trong cuộc sống. Bởi vậy, việc sử dụng TPVH để GDTCGĐ cho trẻ có một ý nghĩa
đặc biệt, đây chính là con đường, là phương tiện bồi dưỡng tình cảm đạo đức tốt đẹp cho các
em nói chung và GDTCGĐ cho các em nói riêng.
Tuy nhiên, hiện nay ở các trường mầm non việc sử dụng TPVH GDTCGĐ vẫn chưa
được quan tâm đúng mức. GV thường sử dụng TPVH nhằm khai thác nội dung GDTCGĐ trên
các tiết học chuyên biệt với các bước lên lớp đi theo một lối mòn mà chưa thấy hết khả năng
sử dụng TPVH GDTCGĐ trong nhiều các hoạt động khác nhau ở trường mầm non.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài : “Biện pháp sử dụng TPVH GDTCGĐ
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Những nghiên cứu về ý nghĩa của văn học đối với giáo dục trẻ mầm non
Văn học thiếu nhi cũng như văn học nói chung, là một loại hình nghệ thuật độc đáo,
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
Tác giả Lã Thị Bắc Lý là người đã dành nhiều tâm huyết khi nghiên cứu, tìm hiểu
về văn học thiếu nhi và cũng là người có đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu ý
nghĩa của văn học đối với việc giáo dục trẻ mầm non với những công trình tiêu biểu như:
Giáo trình Văn học thiếu nhi với giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non [19], Giáo trình Văn
học trẻ em [21], Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với TPVH [20]…Trong đó, bên
cạnh việc khái quát được những chặng đường phát triển cũng như giới thiệu một cách hệ
thống những tác giả và tác phẩm tiêu biểu của văn học thiếu nhi, tác giả đã phân tích, lí
giải ý nghĩa quan trọng của văn học đối với giáo dục thẩm mỹ, giáo dục lòng nhân ái,
giáo dục trí tuệ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi mầm non. Đây là nguồn tài liệu
giả đã cho thấy vai trò to lớn của văn học thiếu nhi nói chung và việc chọn lựa, sử dụng
chúng vào trong các hoạt động giáo dục trẻ em nói riêng.
Như vậy, văn học có ý nghĩa đặc biệt trong việc giáo dục và phát triển toàn diện nhân
cách trẻ, là con đường thích hợp để giáo dục lòng nhân ái, tình cảm yêu thương con người,
gia đình, bè bạn Với số lượng đồ sộ, các tác phẩm thơ, truyện thiếu nhi không chỉ là là
nguồn cảm hứng bất tận ghi lại cuộc sống xung quanh mà còn mang lại ý nghĩa giáo dục
sâu sắc, đặc biệt là vấn đề GDTCGĐ cho trẻ.
2.2.Những nghiên cứu về sử dụng TPVH GDTCGĐ cho trẻ mầm non
Giáo dục trẻ em trước tuổi học là ngành học đã được Đảng và nhà nước ta quan tâm
nhiều năm nay. Qua nhiều lần cải cách giáo dục, chương trình học đã có nhiều đổi mới
theo hướng phù hợp với xu thế phát triển con người cho xã hội, chú trọng hơn đến việc dạy
6
làm người cho học sinh, đưa ra yêu cầu cao đối với người học về những cách ứng xử con
người với con người, sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, trong đó có
GDTCGĐ.
Tác giả Lã Thị Bắc Lý trong Giáo trình Văn học trẻ em nêu lên những sáng tác văn
học thiếu nhi giai đoạn 1986 đến nay đã chỉ rõ: Các vấn đề phản ánh của văn học thiếu nhi
đã được mở rộng phong phú và đa dạng. Mối quan tâm lớn nhất của các tác giả là trẻ em
trong mối quan hệ gia đình. Đây là vấn đề nhạy cảm và tinh tế.[21;17] . Trong cuốn “Văn
học thiếu nhi với giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non” một lần nữa tác giả khẳng định:
“Một trong những nội dung cơ bản của văn học thiếu nhi là đề cập tới tình cảm gia đình.
Đó là tình mẹ con, cha con, tình anh em, tình bà cháu ” đồng thời tác giả nhấn mạnh “Văn
học cho trẻ em lứa tuổi mầm non chan chứa lòng nhân ái mà người viết muốn gửi gắm đến
các em.”[19;43].
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong tác phẩm “Giáo dục mầm non những vấn đề lý
luận và thực tiễn” khuyên rằng: “Hãy tận dụng mọi cơ hội để cho trẻ biết về những điều
thiện, qua những câu chuyện kể, những chuyện tranh, băng hình… yêu người tốt, yêu kẻ
xấu cũng bắt đầu từ đấy”. Đồng thời trong cuốn giáo trình Giáo dục hành vi văn hóa cho
trẻ em dưới 6 tuổi tác giả đã đề xuất phương pháp dùng tác phẩm nghệ thuật để giáo dục
hành vi văn hóa cho trẻ em: “Trong việc giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ, phương pháp
GDTCGĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
3. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa xây dựng và đề xuất một số biện pháp sử dụng TPVH GDTCGĐ cho
trẻ MGL 5-6 tuổi.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu:
- Quá trình giáo dục tình cảm gia đình cho trẻ MGL 5- 6 tuổi.
4.2. Đối tượng nghiên cứu:
- Biện pháp sử dụng TPVH GDTCGĐ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
5. Giả thuyết khoa học
- Nếu xây dựng và đề xuất được các biện pháp sử dụng TPVH GDTCGĐ cho trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi một cách hợp lý và đồng bộ thì hiệu quả giáo dục sẽ cao hơn.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến việc sử dụng tác phẩm
văn học để giáo dục tình cảm gia đình cho trẻ mẫu giáo.
2. Xây dựng một số biện pháp sử dụng tác phẩm văn học giáo dục tình cảm gia đình
8
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
3. Tổ chức thực nghiệm để khẳng định tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
7. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu trên trẻ MGL 5-6 tuổi.
- Nghiên cứu việc sử dụng TPVH GDTCGĐ cho trẻ MGL 5-6 tuổi.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập và phân tích tư liệu, sách
báo, tạp chí…có liên quan đến đề tài nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
8.2.1. Phương pháp khảo sát bằng phiếu Anket: nhằm tìm hiểu thực trạng về việc sử
dụng tác phẩm văn học giáo dục tình cảm gia đình cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
8.2.2. Phương pháp quan sát: Dự giờ tiết học làm quen tác phẩm văn học và một số
hoạt động theo CĐSH tại trường mầm non để thu thập những thông tin cần thiết.
giáo dục trẻ em ngày nay đã quan tâm nhiều hơn đến xúc cảm, tình cảm và giáo dục xúc
cảm tình cảm của trẻ em lứa tuổi mầm non trong đó có GDTCGĐ.
1.1. Cơ sở sinh lý học
Trẻ MG 5-6 tuổi đang trong giai đoạn hoàn thiện về các chức năng của não bộ, cấu
tạo hoạt động của các cơ quan cũng như hệ thống các chức năng đang hoàn thiện dần.
Về não bộ: thành phần chính của não bộ người bao gồm: đại não, tiểu não và thân
não, chúng đảm nhận các chức năng khác nhau. Trong đó đại não là phần lớn nhất và phát
triển cao cấp nhất của bộ não con người, có vai trò quan trọng nhất trong hệ thần kinh:
Chức năng trí tuệ cao cấp, cảm xúc, khả năng hòa nhập tất cả các loại kích thích cảm giác,
khởi đầu của đường vận động. Nhờ có hoạt động của đại não mà đặc biệt là vùng vỏ tạo
nên sự thống nhất mọi hoạt động khác nhau trên cơ thể. Trẻ MG 5-6 tuổi, cấu trúc và chức
năng HĐ của não bộ đã gần như người trưởng thành. Những hình ảnh trẻ tiếp thu được ở
bên ngoài được chuyển vào vỏ não một cách dễ dàng, tạo cơ sở cho sự phát triển của HĐ
trí tuệ, làm phát triển các quá trình tâm lý nhận thức, đặc biệt là tư duy.
Về trí lực và sự phát triển các giác quan: theo khảo sát của một số nhà khoa học như
P. Blômxki, Bulôman… thì bộ óc của con người liên tục học tập có thể chứa lượng tri thức
tương đương với trên nửa triệu cuốn sách. Nếu trí lực bình thường của con người đạt ở lứa
tuổi thanh niên là 100%, thì ở tuổi 4 đến 7 tuổi trẻ đã đạt được khoảng 80% khối lượng
kiến thức ấy. Các giác quan của trẻ đã hoàn thiện, trẻ tri giác tốt, thích quan sát những gì
diễn ra xung quanh mình, thể hiện sự thích thú khi được nhìn thấy những vật, những hình
ảnh có màu sắc… Sự phát triển về trí lực và các giác quan là cơ sở quan trọng cho phép
nhà giáo dục xây dựng nội dung và tìm kiếm phương pháp giáo dục phù hợp để trẻ đạt
được sự phát triển tốt nhất.
Những thành quả đạt được trong lĩnh vực giải phẫu sinh lý người đã giúp chúng ta
thấy được sự ảnh hưởng quan trọng của các vùng trên não bộ tới các khả năng nghe, hiểu,
thể hiện xúc cảm, tình cảm. Ở trẻ em, ngoài sự xuất hiện của các phản xạ không điều kiện
mang tính di truyền, những phản xạ có điều kiện –cơ sở hoạt động của hệ thần kinh được
hình thành dần dần trong quá trình sống, có xu hướng ngày càng hoàn thiện và biến đổi.
Phản xạ có điều kiện là hoạt động tín hiệu có được do hai loại kích thích: Kích thích trực
11
sắc. Đây là điều kiện thuận lợi để GDTCGĐ cho trẻ và giúp trẻ cảm thụ tốt hình tượng
nghệ thuật, biết yêu thương, chia sẻ với người thân, cũng như học tập các mẫu hình tượng
lí tưởng, yêu cái tốt, cái đẹp và lên án cái xấu, hành động đáng phê phán.
12
Về tưởng tượng: Trí tưởng tượng của trẻ MG phát triển mạnh mẽ, nhất là lứa tuổi
MG lớn. Trí tưởng tượng bay bổng giúp các em khám phá thế giới và thỏa mãn nhu cầu
nhận thức của bản thân, đặc biệt tâm hồn các em có mối giao cảm kì lạ với truyện cổ dân
gian và tưởng tượng trở thành cầu nối giữa hai thế giới hiện thực và hư ảo. Các em tin vào
thế giới huyền bí, với bao phép lạ và ngược trở lại, những yếu tố hoang đường ấy làm cho
tư duy tưởng tượng phát triển. Nhà tâm lí học M.Arnauđôp trong cuốn “Tâm lí học sáng
tạo văn học” (1978) đã nhận định “Sáng tác hoang đường thích hợp với tư duy trẻ em -
những người chưa quen với chuyện tầm phào của cuộc sống, chưa được những kinh
nghiệm cay đắng làm cho khôn ngoan…Đối với trẻ em, những gì làm xúc động mạnh mẽ là
phương tiện duy nhất để làm cho trí tưởng tượng và tính nhạy cảm hoạt động”
Trí tưởng tượng là một phần quan trọng của các quá trình tâm lí, nó góp phần tích
cực vào hoạt động tư duy và nhận thức của trẻ. Tưởng tượng của trẻ gắn chặt với xúc cảm
và sự phát triển của cảm xúc, cảm xúc càng sâu sắc thì tưởng tượng càng phát triển.
Tưởng tượng được phát triển thông qua các hoạt động giáo dục. Qua các hoạt động
giáo dục, trẻ xâu chuỗi được các sự kiện bằng trí tưởng tượng phong phú của mình và tích
lũy được vốn biểu tượng trong từng hoạt động, sau đó, trong những thời điểm và hoàn
cảnh cụ thể, trẻ sẽ có những sự liên tưởng cần thiết. Việc nuôi dưỡng và phát triển trí tưởng
tượng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục mầm non. Trong đó việc cho
tiếp xúc với TPVH mà đặc biệt là sáng tác thần kì của mảng truyện cổ dân gian giúp ích rất
nhiều trong việc bồi dưỡng trí tưởng tượng cho trẻ. Tác giả Lã Thị Bắc Lí khẳng định:
“Trẻ thơ đã sẵn có trong đầu trí tưởng tượng phong phú, bay bổng nên khi gặp nững hình
ảnh đẹp đẽ, kì ảo của TPVH thì trí tưởng tượng của trẻ càng được thăng hoa…Trí tưởng
tượng phong phú bay bổng trong các TPVH sẽ chắp cánh cho những ước mơ, hoài bão và
sự sáng tạo của trẻ”[19;23]
Về xúc cảm, tình cảm: ở lứa tuổi mẫu giáo, xúc cảm, tình cảm vẫn thống trị hầu hết
tất cả các mặt trong hoạt động tâm lý nhận thức của trẻ. Đây là thời điểm thuận lợi để xây
thích niềm vui, hứng thú, sự say mê thích thú của trẻ. Đồng thời do tính tò mò, ham hiểu
biết ở trẻ làm nảy sinh nhiều xúc cảm tích cực, đặc biệt việc cho trẻ LQ TPVH sẽ giúp trẻ
hiểu biết về các quan hệ xã hội (bè bạn, gia đình, bạn bè…), mở rộng nhận thức về xung
quanh, biết yêu cái đẹp và có hành động bảo vệ cái đẹp. Ngoài ra khi tham gia vào các hoạt
động học tập, vui chơi, lao động tự phục vụ…với những thành công, hay sự thất bại đều
củng cố sự phát triển tình cảm trí tuệ ở trẻ.
Tình cảm đạo đức: Độ tuổi MG 5-6 tuổi trẻ đã có thể nắm được những khái niệm,
những biểu tượng đạo đức sơ đẳng như tốt, xấu, ngoan, hư, cái gì được phép làm và cái gì
không được phép làm. Trẻ bắt đầu có những hành vi phù hợp với những khái niệm đó và
dần dần trẻ biết đánh giá về những hành vi đạo đức cụ thể. Ngoài ra, trẻ 5-6 tuổi đã bắt đầu
14
biết phân biệt giới tính, ý thức bản thân mình có sự phát triển. Nếu trẻ luôn nhận được sự
đánh giá tích cực, sự khẳng định của người xung quanh thường trẻ sẽ rất tự tin. Ngược lại
có những trẻ luôn nhận được sự đánh giá tiêu cực, phủ định của người khác sẽ rất dễ nảy
sinh cảm giác cô độc, tự ti. Biểu hiện của tính khí, tính cách, tâm trạng, hành vi… thường
là hạt nhân của cá tính một con người. Bởi vậy nếu ngay từ lứa tuổi mầm non chúng ta chú
trọng giáo dục cho trẻ những khái niệm, hành vi đạo đức đúng đắn sẽ đặt cơ sở, nền tảng
cho bộ mặt đạo đức mai sau của trẻ, đồng thời tạo cho trẻ một động lực quan trọng giúp trẻ
phát triển và hành động đúng hướng trong quá trình trưởng thành. Mặt khác, tuổi MG lớn,
tính hình tượng và tính dễ cảm xúc chi phối mạnh hoạt động tâm lí của trẻ, khiến trẻ dễ
đồng cảm với những người xung quanh, với thiên nhiên và cuộc sống. Cho nên đây là giai
đoạn hoàng kim để giáo dục lòng nhân ái và những phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho trẻ.
Tình cảm thẩm mĩ: Với trẻ MG 5-6 tuổi, cảm xúc thẩm mĩ là niềm vui sướng, hân
hoan, thích thú trước cái đẹp, sự cảm phục trước những hành động cao cả, là tình thương
yêu, chia sẻ với những số phận nghèo khổ….Thời kì này do xúc cảm và tình cảm phát triển
mạnh mẽ nên việc cho trẻ tiếp xúc với các lọai hình nghệ thuật trong đó có văn học là một
việc làm có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc bồi dưỡng tình cảm thẩm mĩ tốt đẹp, trong
sáng cho trẻ. Đưa trẻ đến với văn học có tác dụng giáo dục tình cảm thẩm mĩ mạnh mẽ
nhất. Đối với trẻ mẫu giáo, cô giáo, cha mẹ… hãy kể cho trẻ nghe những câu chuyện, đọc
cho trẻ nghe những bài thơ, ca dao… kèm theo những bức tranh minh họa sinh động, đưa
Quan điểm giáo dục của Monterssori: Giáo dục thực sự chính là việc tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho đứa trẻ phát triển thông qua trò chơi, thông qua việc rèn luyện các giác
quan, đặc biệt là xúc giác, trẻ cần phải được học thông qua việc tương tác với các phương
tiện được lựa chọn cẩn thận trong một môi trường có tổ chức. Theo bà, nhà giáo dục ở
đây chỉ là người trung gian, điều khiển, hướng dẫn, dạy học, tổ chức, chuẩn đoán và
bảo vệ trẻ. Phương pháp giáo dục của Monterssori tập trung vào năm lĩnh vực thực
hành cuộc sống, giáo dục phát triển giác quan, nghệ thuật ngôn từ, toán học và hình
học, các chủ đề về văn hóa, trong đó phương pháp thực hành cuộc sống được thực hiện
bằng cách khuyến khích trẻ thể hiện, bày tỏ bản thân thông qua các hành vi quan tâm,
chia sẻ tới mọi người mà trước hết là những người thân trong gia đình.
Quan điểm về “vùng phát triển gần nhất” của L.X.Vưgôtxki đã đề cập đến một loạt
những bài tập mà bản thân trẻ không thể giải quyết được ở thời điểm hiện tại nhưng có thể
làm được nếu có sự giúp đỡ của người lớn hoặc bạn bè lớn hơn. Theo ông, dạy học theo
đúng chức năng của nó là phải đi trước và kéo theo sự phát triển, nếu dạy học đi sau sự
phát triển sẽ kìm hãm sự phát triển và ngược lại, nếu dạy học đi trước sự phát triển, nó sẽ
thúc đẩy và kéo theo sự phát triển. Vận dụng lý thuyết “vùng phát triển gần nhất” vào thực
tiễn, chúng ta cần phát triển tính độc lập, lòng tự tin cho trẻ. Trong những hoàn cảnh thực
tế giáo viên nên làm cho trẻ phải suy nghĩ, không nên mang cái có sẵn đến cho trẻ, trẻ hoàn
16
toàn có thể làm được hoặc có hướng giải quyết riêng, bên cạnh đó cần kích thích trẻ suy
nghĩ từ nhiều chiều hướng khác nhau, thực hiện bằng nhiều cách mà trẻ cho là đúng: Con
sẽ làm gì khi ông/bà bị ốm? Làm cách nào để thể hiện lòng biết ơn với cha, mẹ? Nếu là
con, con sẽ làm như thế nào? từ đó khuyến khích trẻ thể hiện bằng hành vi trước các tình
huống cụ thể. Ngoài ra nhà giáo dục không áp đặt suy nghĩ của mình cho trẻ, không gợi ý
cặn kẽ vì giáo dục thực sự là cần phải làm bộc lộ năng lực của trẻ.
Quan điểm lấy trẻ làm trung tâm là quan điểm được vận dụng chủ đạo trong giáo
dục trẻ em lứa tuổi mầm non hiện nay. Do đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi, trẻ còn quá
nhỏ, chưa có ý thức nhất định trong việc vui chơi và học tập, các quá trình tâm lý nhận
thức chưa phát triển một cách đầy đủ. Nếu GV áp đặt trẻ thì trẻ cũng chưa thể phản ứng lại
một cách rõ ràng và mạnh mẽ. Và đặc biệt, giáo dục những năm đầu đời này là nền tảng
dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức. Việc xác định đúng biện pháp sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả giải quyết công việc, đạt được mục đích đề ra.
* Biện pháp giáo dục: Theo “Từ điển Giáo dục học”, biện pháp giáo dục là: “Cách
tác động có định hướng có chủ đích, phù hợp với tâm lí đến đối tượng giáo dục nhằm bồi
dưỡng hoặc làm thay đổi những phẩm chất và năng lực của đối tượng”[37;26]
* Biện pháp tổ chức HĐ giáo dục mầm non: Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa, “Biện pháp
tổ chức HĐ giáo dục ở trường mầm non là cách thức tổ chức cụ thể trong hoạt động cùng
nhau giữa cô và trẻ nhằm giải quyết một nhiệm vụ giáo dục nào đó trong hoạt động nhằm
phát huy tính tích cực của trẻ” [11;33].
Dựa vào các định nghĩa trên, có thể hiểu: Biện pháp sử dụng TPVH GDTCGĐ là
cách thức, cách làm trong hoạt động cùng nhau giữa cô và trẻ trong hoạt động cho trẻ
LQTPVH nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục tình cảm gia đình cho trẻ MG 5-
6 tuổi
*Khái niệm “Gia đình”: Gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu
tố sinh học, tâm lý, văn hóa, kinh tế Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa
học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với
nội dung nghiên cứu. Ở đây chúng tôi nêu ra khái niệm về gia đình dưới góc độ xã hội học
và giáo dục học.
Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể xem
xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò
đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người. Gia đình là một thiết chế xã hội
đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn
nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách
nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như
18
để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người.
Gia đình theo quan điểm xã hội học được phân chia thành hai loại: Gia đình lớn và
gia đình nhỏ. Cụ thể:
Gia đình lớn (gia đình ba thế hệ hoặc gia đình mở rộng) thường được coi là gia đình
truyền thống liên quan tới dạng gia đình trong quá khứ. Đó là một nhóm người ruột thịt của
của gia đình, đó là việc giáo dục con cái. [23;71]
Như vậy, từ các khái niệm trên chúng tôi hiểu rằng: GDTCGĐ là quá trình tác động
sư phạm có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục (bao gồm việc phối kết hợp với giáo
dục của cha mẹ và nhà trường) nhằm hình thành và phát triển xúc cảm, tình cảm lành mạnh
và có thái độ đúng mực trong mối quan hệ cũng như trong ứng xử với mọi người trong gia
đình.
GDTCGĐ cho trẻ mầm non là giúp trẻ biết cách thiết lập mối quan hệ với mọi người
trong gia đình, sẵn sàng hợp tác, chia sẻ và hình thành tình cảm nhân ái, lòng tin yêu, biết
ơn của trẻ đối với mọi người trong gia đình. Trong đó tình mẫu tử là cầu nối đầu tiên kết
nối trẻ thơ với thế giới loài người, là tình cảm quan trọng nhất đối với mỗi con người.
1.3.3. Nội dung GDTCGĐ cho trẻ MG 5- 6 tuổi.
Gia đình là môi trường có tác động to lớn đến sự hình thành và phát triển mọi mặt về
thể chất cũng như tinh thần, đặc biệt về mặt tình cảm đạo đức của con trẻ. Tổ ấm của trẻ
thơ là gia đình, là môi trường văn hóa, được tạo dựng lên trên cơ sở tình thương yêu, đùm
bọc lẫn nhau của những người ruột thịt trong gia đình. Từ khi lọt lòng mẹ, mỗi người đều
tìm thấy ở gia đình sự đùm bọc, yêu thương, che chở. Trong đề tài này chúng tôi nghiên
cứu việc sử dụng TPVH GDTCGĐ cho trẻ MG 5-6 tuổi với các nội dung cơ bản sau:
1. Giáo dục tình yêu gia đình: Yêu thương người thân trong gia đình; ngôi nhà trẻ
chung sống cùng gia đình và những đồ vật, đồ dùng, cảnh vật thân quen trong ngôi nhà.
Trẻ cần hiểu tình yêu gia đình là sợi dây gắn bó tình cảm máu thịt và là điều kiện để tồn tại
gia đình. Tình cảm của cha mẹ đối với con cái cũng như tình cảm của con cái đối với cha
mẹ và các thành viên trong gia đình là bài học đạo đức đầu tiên trong suốt quá trình hình
thành nhân cách của mỗi người. Trong gia đình ai cũng làm việc hoặc học hành, đó là
những việc làm nghiêm túc có ích cho gia đình và xã hội, cần được tôn trọng.
2. Giáo dục tinh thần đoàn kết, chia sẻ với các thành viên trong gia đình: Các
thành viên trong gia đình cần có sự yêu mến, đoàn kết, cần quan tâm và sẵn sàng giúp
đỡ, chia sẻ với nhau. Tình yêu thương, che chở và bao dung của các thành viên lớn tuổi
trong gia đình là cơ sở, điều kiện, nền tảng giúp trẻ phát triển tốt về các mặt sinh lý và
tâm lý. Đặc biệt sự sẻ chia còn bộc lộ bằng việc trẻ nhận biết chính xác xúc cảm của
mình và nói ra được bằng lời, tìm cách giải tỏa; từ đó trẻ biết được xúc cảm của người
con người. Xuất phát từ nhiều góc độ nhiên cứu khác nhau có khá nhiều định nghĩa về bản
chất và đặc trưng của văn học. Từ góc độ nhân văn, M.Gorki cho rằng “Văn học là nhân
học”. Theo quan điểm triết học thì “Văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt”. Nhìn từ
21
góc độ xã hội học: “Văn học là sự phản ánh hiện thực cuộc sống bằng ngôn ngữ nghệ thuật”
hay “Văn học là nghệ thuật của ngôn từ” Khi nói đến chức năng của văn học là nói đến
mục đích sáng tác của văn chương, đến vấn đề viết để làm gì, đến ý nghĩa xã hội của nó với
các đặc trưng và chức năng cơ bản như thẩm mĩ, nhận thức, giáo dục, giải trí, giao tiếp…Các
chức năng này không tồn tại tách rời mà gắn bó chặt chẽ trong mối quan hệ chuyển hóa lẫn
nhau và đặc biệt tính giáo dục được coi là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của văn
học.
Chức năng giáo dục:
Là một hình thái xã hội thuộc thượng tầng kiến trúc, cũng như bất kỳ một hình thái ý
thức nào khác văn học có tác dụng tích cực trở lại đối với toàn bộ đời sống xã hội. Nhưng
văn học lại là một hình thái ý thức xã hội đặc thù vì vậy nó tác động tới xã hội theo phương
thức riêng của mình, mà không một hình thái ý thức nào có thể thay thế được. Văn học
thực hiện các chức năng theo quan điểm triết học Mác Lê nin: Không chỉ nhằm giải thích
đúng đắn thế giới khác quan mà quan trọng hơn cả là cải tạo thế giới. Văn học nói chung
không chỉ thực hiện chức năng nhận thức thế giới mà thông qua các chức năng nhận thức,
thẩm mĩ… văn học còn thực hiện chức năng cải tạo thế giới thông qua chức năng giáo dục.
Đây là một thuộc tính tất yếu, một đặc điểm mang tính quy luật.
Nhà văn Nga M.Gorki, khi nói đến đặc trưng của văn học đã nhấn mạnh: “Văn học là
nhân học, ái học, tâm hồn học". Văn học chính là chiếc chìa khoá vàng mở rộng lòng nhân
ái trong tâm hồn, phát triển nhân cách tốt đẹp. Một tác phẩm ra đời không chỉ phản ánh
cuộc sống phong phú, muôn màu muôn vẻ mà còn thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của tác giả
với vạn vật. Nhờ thế, văn học không chỉ dừng lại ở giá trị văn chương mà còn được ví như
những viên gạch đầu tiên xây đắp tình yêu thương giữa con người với con người trong xã
hội. Điều đó càng trở nên quan trọng đối với việc giáo dục trẻ em trên lộ trình hình thành
và phát triển toàn diện nhân cách.
Vậy chức năng giáo dục của văn học là gì?
Cùng chung bác mẹ một nhà cùng thân
Yêu nhau như thể tay chân
Anh em hòa thuận hai thân vui vầy”
Đối với văn học dành cho trẻ mầm non, chức năng giáo dục được đánh giá là
quan trọng nhất. Thực hiện chức năng giáo dục, văn học là phương tiện hữu hiệu
nhất làm cho những con người có cùng chung nỗi đau, khát vọng, quan niệm đạo đức
và lý tưởng thẩm mỹ xích lại gần nhau, đoàn kết với nhau, biến những tư tưởng, tình
cảm và chuyển nhận thức của họ thành hành động thực tiễn.
Chức năng thẩm mĩ:
23
Theo quan điểm của Mác, Thẩm mĩ là một khái niệm, một phạm trù phản ánh toàn bộ
giá trị thẩm mĩ chung của các sự vật hiện tượng trong hiện thực khác quan. Giá trị thẩm mĩ là
một lớp giá trị đặc thù, tồn tại song song với các lớp giá trị khác như giá trị thực dụng, giá trị
đạo đức… Tất cả các lớp giá trị này đều biểu đạt giá trị của khách thể đối với chủ thể. Vì vậy
bản chất của giá trị thẩm mĩ chính là mối quan hệ giữa chủ thể thấm mĩ và khách thể thẩm mĩ.
Mối quan hệ ấy, cụ thể là quan hệ của con người xã hội có nhu cầu và khả năng thưởng thức,
đánh giá, sáng tạo ra các giá trị thẩm mĩ với khách thể thẩm mĩ – tức là thưởng thức, đánh giá
hoặc sáng tạo ra các thuộc tính, khía cạnh phẩm chất thẩm mĩ ở các sự vật hiện tượng trong
thiên nhiên, xã hội và con người.
Từ góc độ mĩ học chúng ta có thể thấy rằng: Văn học nghệ thuật là lĩnh vực đặc thù
của việc sáng tạo và thể hiện cái đẹp – cái đẹp ở đây được lấy từ chính cuộc sống, đưa vào
tác phẩm qua sự sáng tạo của nhà văn. Do đó văn học có khả năng to lớn trong việc giáo
dục thẩm mĩ không với trẻ em mà cả người lớn nói chung.
Từ tình yêu với ngôi nhà thân thiết, tác giả Đoàn Thị Lam Luyến đã vẽ bức tranh
bằng thơ với khung cảnh thật đẹp:
…“Có bà chuối mật lưng ong
Có ông ngô bắp râu hồng như tơ
Có ao muống với cá cờ
Em là chị Tấm đợi chờ bống lên”
Hình ảnh đẹp của “ông trăng” được tác giả Nhược Thủy và Trần Đăng Khoa miêu tả
Nhiều nhà tâm lí đã gọi thời kì tuổi mầm non là “thời kì phát cảm” của những xúc
cảm, tình cảm thẩm mĩ. Vì vậy việc cho trẻ làm quen TPVH là việc làm cần thiết, thông
qua hoạt động này các em không chỉ biết rung động trước cái đẹp, nhận thức về cái đẹp,
mà sâu sắc hơn, các em biết xúc động trước cả những cung bậc tình cảm của cuộc sống. Từ
đó, các em biết trân trọng, hướng tới cái đẹp, biết phát huy và sáng tạo ra cái đẹp cho chính
bản thân mình.
Chức năng nhận thức:
Nói văn chương nghệ thuật là một hình thái ý thức cũng có nghĩa là nói tới chức
năng nhận thức đặc thù của văn chương nghệ thuật trong toàn bộ hệ thống ý thức của con
người cũng như khẳng định tính chất khoa học của văn chương. "Văn học là một khoa
học", bởi văn học đưa lại những nhận thức, những hiểu biết đúng đắn và sinh động về tự
nhiên và xã hội trong quy luật của sự vận động, phát triển. Ngoài ra, khi nói "văn học là
một khoa học" chính là nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng, tính chính xác của khả năng
nhận thức, biểu hiện, khám phá thế giới của nó. Nhưng sẽ rất sai lầm nếu đem đánh đồng
nhận thức khoa học và nhận thức nghệ thuật. Nhận thức của văn chương nghệ thuật không
phải như nhận thức của khoa học. Sự khác nhau đó được phân biệt trên hai bình diện: Một
25