SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ THANH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỤC
TÊN
ĐỀLỤC
TÀI
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO TRẺ
MẪU GIÁO 4 - 5 TUỔI LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM
VĂN HỌC THÔNG QUA CHUYỆN KỂ TẠI TRƯỜNG
MẦM NON THỊ TRẤN BẾN SUNG, HUYỆN NHƯ
THANH
Người thực hiện: Hoàng Thị Phương
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non thị trấn Bến Sung
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn
NHƯ THANH: NĂM 2016
PHỤ LỤC
MỤC LỤC......................................................................................1
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................18
2
Qua các tác phẩm văn học đặc biệt là chuyện kể sẽ không những giúp trẻ hiểu
được giá trị đặc sắc của các tác phẩm văn học mà còn mở rộng cho trẻ về vốn từ của
mình được phong phú hơn luyện cho trẻ cách phát âm, câu từ rõ ràng, mạch lạc,
không nói ngọng, nói lắp. Từ đó trẻ tự tin hơn về bản thân mình trong giao tiếp.
Từ những băn khoăn lo lắng của bản thân để làm thế nào để nâng cao chất
lượng kể chuyện của trẻ được nâng cao với những băn khoăn lo lắng đó tôi
mạnh dạn chọn đề tài "biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 4 - 5
3
tuổi làm quen với tác phẩm văn học thông qua chuyện kể tại trường mầm non
Thị trấn Bến Sung, huyện Như Thanh" làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của
mình với mong muốn những kinh nghiệm của bản thân góp phần nâng cao chất
lượng cho trẻ làm quen với văn học trong trường Mầm non Thị trấn Bến Sung.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Đề xuất nhân rộng một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo
4 - 5 tuổi làm quen với tác phẩm văn học thông qua chuyện kể ở trường mầm
non nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 4-5 tại trường Mầm non Thị
trấn Bến Sung.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi làm quen với
tác phẩm văn học thông qua chuyện kể tại trường Mầm non Thị trấn Bến Sung,
huyện Như Thanh”.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận.
Gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các
tài liệu và văn bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Gồm các phương pháp điều tra, quan sát, đàm thoại, các phương pháp
nghiên cứu sản phẩm hoạt động...
ngôn ngữ, tạo sự hứng thú đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 4-5
tuổi nói riêng yêu thích bộ môn văn học.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1. Thực trạng.
1.1.Thuận lợi:
- Năm học 2015-2016 tôi được BGH nhà trường phân công chủ nhiệm lớp
Mẫu giáo 4-5 tuổi. Tổng số học sinh là 30 cháu đa phần các cháu đều ngoan
khoẻ mạnh, trẻ được học và phân theo độ tuổi. Lớp học được cấp đồ dùng đồ
chơi tương đối đầy đủ. Có đủ đồ dùng trang thiết bị cho hoạt động kể chuyện
như: Tranh chuyện, giống, rối và một số tài liệu khác về môn văn học.
Ví trí Trường nằm ở trung tâm huyện nên rất thuận tiện với những thông
tin đổi mới qua các lớp tập huấn chuyên đề.
- Bản thân luôn yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề, hăng say trong
công việc được nhà trường quan tâm, phụ huynh tin tưởng đây là điều kiện tốt
để tôi phát huy hơn nữa khả năng của mình.
- Hơn nữa nhà trường còn tổ chức thanh tra dự giờ và thi giáo viên giỏi tôi
được đồng nghiệp góp ý từ đó tôi rút ra nhiều kinh nghiệm để tìm ra nhiều
phương pháp dạy hay hơn.
1.2. Khó khăn:
Ngoài thuận lợi trên bản thân trong quá trình thực hiện, bản thân gặp không
ít khó khăn nhất định.
- Đa số bố mẹ là công nhân viên chức, bận đi làm nên chưa dành nhiều
thơi gian cho trẻ nên trẻ đang có phần hạn chế, không có thời gian quan tâm kể
chuyện cho trẻ nghe nhiều.
- Còn một số cháu do nói ngọng, nói chưa đủ câu vì thế khi trẻ giao tiếp
với cô và các bạn đang gặp nhiều khó khăn.
5
- Một số phụ huynh cho rằng giáo dục trẻ ở trường mầm non đơn thuần
Nội dung khảo sát
TrÎ nhí tªn nh©n
vËt, tªn chuyÖn.
TrÎ hiÓu néi dung
c©u chuyÖn.
Trẻ hứng thú khi kể
lại chuyện.
TrÎ thÓ hiÖn ®îc
tÝnh c¸ch cña
tõng nh©n vËt
trong chuyÖn.
Số
trẻ
Tốt
khảo
Số
sát trẻ %
Trẻ đạt
Khá
TB
Trẻ chưa
đạt
YÕu
Số
trẻ
30
7
24
9
30
10
33
4
13
30
7
24
9
30
10
1.
Tạo môi trường cho trẻ làm quen với văn học
a.Xây dựng góc văn học và tạo môi trường văn học phong phú xung quanh
trẻ.
Chúng ta biết rằng trẻ nhỏ luôn yêu thích các đẹp, trí tưởng tượng của trẻ
là vô cùng phong phú do vậy môi trường học tập xung quanh trẻ là một yếu tố
cực kỳ quan trọng kích thích đứa trẻ tư duy và sáng tạo. Ta cần tạo cho trẻ một
tâm lý thật thoải mái, coi lớp học như ngôi nhà thân yêu của mình và trong ngôi
nhà đó trẻ được tham gia dọn dẹp, trang trí, sáng tạo theo ý mình. Chính vì yêu
cầu đó đã thúc đẩy tôi phải suy nghĩ xây dựng góc văn học cho trẻ hoạt động là
việc cần thiết. Vì ở đó trẻ được hoạt động nhiều hơn nên cần tạo góc ở vị trí có
diện tích rộng có các giá làm vách ngăn. Góc không ở gần các góc hoạt động có
tính chất vận động nhiều vì yêu cầu của góc sách là góc tĩnh. Màu sắc hình dạng
của góc cũng phải xây dựng theo kiểu cổ tích, huyền ảo, thần bí để tạo hứng thú
tìm tòi, khám phá của trẻ.
Khi trang trí làm mới ở góc tôi cho mọi trẻ cùng giúp cô như tô màu, giữ
tranh cho ngay ngắn khi dán cũng trao đổi về nội dung bức tranh rồi cô đọc thơ,
7
kể tóm tắt nội dung bài thơ, câu truyện cho trẻ được làm quen với nhịp điệu,
hình ảnh của tác phẩm.
Một môi trường học tập tốt có hiệu quả là môt trường gây hứng thú cho
trẻ, phát huy được trí tưởng tượng, sáng tạo cho trẻ. Chính vì vậy tôi luôn cố
gắng tạo ra nhiều đồ dùng, đồ chơi hấp dẫn trang trí xung quanh lớp. Ngoài ra
tôi còn sưu tầm các sách văn học, các họa báo, tập chí, lịch cũ, nguyên liệu cho
trẻ tự làm sách để xây dựng một “Góc thư viện” mang nội dung văn học, tại
“Góc thư viện” trẻ được xem các tranh truyện, tạp chí, họa báo. Sau đó cô kể
Như vậy, ngoài hoạt động cho trẻ làm quen với văn học dưới hỡnh thức
tiết dạy tôi luôn tạo điều kiện cho trẻ được tiếp xúc và củng cố tích lũy những
biểu tượng mà cô đã cung cấp cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi, đồng thời đặt nền
móng cho giờ học sau đạt kết quả cao hơn.
2. Lựa chọn tác phẩm chuyện kể phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ,
phù hợp với chủ đề.
Trẻ mầm non không có thể cảm nhận được nội dung nghệ thuật của một
câu chuyện, khi thiếu sự tác động của cô giáo và người lớn xung quanh. Bởi trẻ
chưa biết đọc, vì vậy các câu truyện đến được với trẻ phải qua yếu tố trung gian
đó là giọng đọc và lời kể của cô giáo, của những người khác truyền đạt tới trẻ.
Tác phẩm tốt bao nhiêu thì giúp trẻ cảm nhận cốt truyện tốt bấy nhiêu. Từ đó nó
đòi hỏi giáo viên trước khi truyền đạt một câu chuyện đến với trẻ phải nghiên
cứu một cách kĩ lưỡng nội dung cốt truyện để hiểu rõ nó là chuyện đọc hay
chuyện kể. Từ đó xây dựng giọng đọc - kể cho phù hợp.
Qua thực hiện phương pháp này tôi thấy đọc kể là một vấn đề rất quan
trọng, qua đọc kể giúp trẻ dễ dàng hiểu nội dung tác phẩm văn học.
Trường Mầm non Thị trấn chúng tôi là một trong những trường đã áp
dụng thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới vào quá trình chăm sóc giáo
dục trẻ. Vì thế mà việc lựa chọn chuyện kể vào quá trình giáo dục trẻ không bị
gò bó, áp đặt. Ngoài những tác phẩm chuyện kể trong chương trình GDMN tôi
có thể lựa chọn chuyện kể ở ngoài chương trình, sách báo vào quá trình giáo dục
trẻ nhưng những tác phẩm văn học đó phải phù hợp với trẻ và chủ đề đang thực
hiện, và phải đảm bảo tính nghệ thuật cao.
Bởi vì, ngoài những năm đầu đời trẻ được chăm sóc giáo dục ở gia đình,
trẻ cảm nhận tình yêu thương, sự chăm sóc vỗ về nuôi dưỡng tình cảm, tâm hồn
trẻ qua câu chuyện, lời ru của bà và mẹ. Thì khi đến tuổi mầm non trẻ lại được
chăm sóc giáo dục như trong gia đình. Vì trường mầm non là cái nôi thứ hai
nuôi dưỡng, vun đắp cho trẻ về tình cảm, nhân cách, chuẩn mực, đạo đức ngoài
gia đình. Và cô giáo là người mẹ thứ hai trực tiếp cung cấp cho tâm hồn trẻ
những cái hay, cái đẹp, những phẩm chất đạo đức, cách cư xử lễ phép giữa trẻ
trẻ phải tận mắt nhìn thấy sự vật hiện tượng đó. Chính vậy, việc sáng tạo làm đồ
dùng dạy học phải bền và đẹp là yếu tố qua trọng để thu hút trẻ. Để đáp ứng
được yêu cầu dạy học, ngoài mua sắm đồ dùng, đồ chơi tôi còn sưu tầm phế
liệu, sáng tạo trong việc làm đồ dùng đồ chơi để phục vụ cho công tác giảng dạy
của mình tại nhóm lớp. Vì thế hàng ngày tôi cùng phụ huynh sưu tầm các
nguyên vật liệu thiên nhiên, tận dụng những nguyên vật liệu sẵn có như chai, lọ,
vải vụn… sau đó dựa vào nội dung câu truyện làm sa bàn, làm các nhân vật, con
rối bằng xốp, củ quả, chai lọ, que, giấy bóng…
Ví dụ:
Làm rối bằng chai, lọ, vỏ xốp làm đầu bọc vải vụn gắn len làm tóc, vẽ
mắt mũi mồm… sau đó cắt vải cuốn quanh làm áo, váy cho nhân vật.
10
Ảnh . Mô hình rối phục vụ cho văn học
Làm rối dẹt: Vẽ hình nhân vật vào giấy rồi tô màu, cắt dán vào bìa cứng
để cô và trẻ dễ sử dụng
Làm rối ngắn tay:Tận dụng vải vụn làm thân các nhân vật ,bìa cứng để
làm tai ,Lấy hòn bi để gắn mắt, mũi, tai… Sau đó lấy bìa cứng cuộn lại làm thân
lồng vào tay.
Ảnh . Mô hình rối dẹt phục vụ cho văn học
11
Tôi làm những con vật ngộ nghĩnh, đa dạng các màu sắc như : con ong,
con bướm, con chó, con nhện, con chuột … bằng xốp, hộp sữa su su, đĩa CD
giấy đề can, hộp sữa su su, …để thu hút sự chú ý của trẻ.
dùng dạy học, đồ dùng đẹp hấp dẫn sẽ thu hút sự chú ý của trẻ. Trước đây giáo
viên thường sử dụng tranh minh hoạ làm đồ dùng chính trong hoạt động cho trẻ
làm quen với tác phẩm văn học. Song với hình thức đổi mới hiện nay, thời đại
CNTT nên việc ứng dụng CNTT vào bài giảng mang lại kết quả rất cao.Biện
pháp này luôn gây sự chú ý, tò mò cho trẻ làm đa dạng hoá hình thức dạy học
giúp trẻ được thay đổi không khí mới, hấp dẫn, trong giờ học, tạo cho trẻ niềm
hứng thú, hăng say tích cực tham gia vào hoạt động, làm cho hiệu quả giáo dục
cao. Đặc biêt giúp giảm bớt đồ dùng không cần thiết, giảm bớt sức lao động của
giáo viên và giảm bớt chi phí. Vì vậy nên tôi đã đưa ứng dụng CNTT vào giảng
dạy và mang lại kết quả cao.
- Ví dụ: Câu chuyện “Ba cô gái” tôi đã xây dựng đoạn phim hoạt hình về nội
dung câu chuyện, kết hợp với nhạc đệm rất hứng thú làm cho trẻ dễ nhớ nội
dung truyện và thấy được nét đặc trưng của các nhân vật.
Ảnh .Minh họa cho câu chuyện 3 cô gái.
13
Khi đã sử dụng máy tính thành thạo hơn tôi chuyển các bức tranh minh họa có
sẵn trong các tập tranh thành câu chuyện, thành đoạn phim hoạt hình, hoặc đưa
đoạn phim quay sẵn phù hợp với nội dung như thế và sử dụng các hiệu ứng, màu
sắc phù hợp thu hút và gây sự chú ý của trẻ.
Ảnh . Minh họa cho câu chuyện: Cáo thỏ và gà trống.
5. Công tác tuyên truyền phối kết hợp với phụ huynh học sinh
Việc thường xuyên giữ mối liên hệ với cha mẹ học sinh là rất cần thiết,
bởi đây là chiếc cầu nối cho sự phát triển tư duy và nhận thức của trẻ. Nếu chỉ
có sự tác động của cô mà không có sự động viên khuyến khích trẻ đến trường
của các bậc phụ huynh thì bản thân tôi khó có thể thực hiện tốt nhiện vụ chăm
- Giáo viên tự điều chỉnh được ngôn ngữ của mình, nói năng lưu loát, nhẹ
nhàng hơn, qua các thanh tra dự giờ của tổ cùng như của trường tôi tự tin hơn
trong việc tổ chức dạy tiết kể chuyện cho trẻ nghe bằng nhiều phương pháp mới
hay hấp dẫn trẻ trong tiết học cũng như ngoài tiết học trẻ rất hứng thú và tự tin
kể lại chuyện.
- Công tác tuyên truyền phối kết hợp với phụ huynh đạt kết quả tốt
- Các cháu rất hứng thú vói khi nghe cô kể chuyện và kể lại chuyện rất tốt
* Đối với trẻ:
- Khi cô yêu cầu trẻ kể lại một câu chuyện nào đó mà trẻ đã được học thì
trẻ rất tự tin kể và còn thể hiện điệu bộ cử chỉ của từng nhân vật trong chuyện.
Ngoài ra trẻ còn thuộc rất nhiều chuyện và về nhà trẻ đã kể lại chuyện cho bố,
mẹ, ông bà nghe và phụ huynh rất khấn khởi khi thấy con em mình đã được học
tập rất đầy đủ ở Trường mầm non.
- Đối với những trẻ nhút nhát đã trở nên rất tự tin và không còn nói lặp
nói ngọng nữa.
- Xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình gắn bó hơn và phụ
huynh hỗ trợ kinh phí cho trường mua thêm ti vi cho trẻ xem và làm sân vui
chơi cho trẻ. Chính vì sự quan tâm của phụ huynh nên con em họ rất thích thú
15
khi tới trường điều này đã giúp cho nhà trường nói chung và nhóm lớp tôi phụ
trách nói riêng đạt kết quả cao trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non.
Sau một năm áp dụng biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo
4 -5 tuổi làm quen với tác phẩm văn học thông qua kể chuyện tại nhóm lớp của
mình tôi thu được kết quả như sau:
BẢNG KHẢO SÁT TRÊN TRẺ SAU KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Số
%
trẻ
TB
Trẻ
chưa
đạt
Yếu
Số
%
trẻ
Số
trẻ
%
4
13
0
0
30
16
30
10
33
13
43
7
24
0
0
54
10
33
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHI.
I. KẾT LUẬN:
Qua một năm thực hiện việc áp dụng những phương pháp, biện pháp vào
tiết học kể chuyện cho trẻ 4- 5 tuổi do tôi phụ trách. Tôi đã thu được kết quả rất
khả quan 100% trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động kể chuyện, trẻ thích thú
Người thực hiện
Hoàng Thị Phương
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ GD&ĐT (2010) “ Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm
non cho trẻ 4-5 tuổi“
2. Bộ GD&ĐT (2012) : Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên
mầm non MN3: “Đặc điểm phát triển ngôn ngữ, những mục tiêu và kết quả
mong đợi ở trẻ mầm non về ngôn ngữ”
3.Nhà xuất bản ĐHQGHN(in lần thứ 4 ) "Phương pháp phát cho trẻ làm quen
với văn học "
18